Huỳnh Thục Vy – Lạm bàn về Trần Nhân Tông Academy

Huỳnh Thục Vy (Danlambao) – Dư luận gần đây bàn tán khá nhiều về sự ra đời của học viện Trần Nhân Tông và “giải thưởng hòa giải Trần Nhân Tông”. Nhân dịp này tôi cũng xin mạo muội chia sẻ vài ý kiến.
Đầu tiên, Trần Nhân Tông Academy ra đời trong hoàn cảnh thế giới chứng kiến và nhiệt thành hoan nghênh những thành tựu đầu tiên của cuộc hòa giải và thay đổi chính trị ngoạn mục tại Burma, nên xem như sự ra đời này có thể là một cách “đánh tiếng” về tương lai chính trị Việt Nam. “Hạ cánh an toàn” và không bị trừng phạt chính là điều họ muốn người dân dành cho các vị lãnh đạo Cộng sản của chúng ta chăng?
Tuy chẳng dám có xét đoán nào về sở học của các vị giáo sư, tiến sĩ trong TNT Academy, nhưng xem qua danh sách nhân sự trong tổ chức này tôi chú ý đến nhiều điểm. Tôi đặc biệt chú tâm đến ông chủ tịch Thomas Patterson- người đã ca ngợi ông Hồ Chí Minh ngang tầm Wasington: “sự vô tư không vị kỉ, sự khiêm tốn mà chúng ta tìm thấy ở cuộc đời Hồ Chí Minh hay George Washington”. Sự so sánh khập khiểng đầy dụng ý này chắc chắn không phải xuất phát từ một nhà nghiên cứu vô tư – người có nhiều điều kiện để đạt tri kiến tường minh về sự thật lịch sử hơn phần lớn nhân loại. Trong TNT Academy còn có một số vị học rộng tài cao thuộc hàng ngũ trí thức trưởng thành từ chế độ Cộng Sản hoặc thuộc “thành phần thứ ba” trước năm 1975, cùng các vị trí thức nước ngoài đặc biệt là ở Harvard, Hoa Kỳ. Các vị thuộc thành phần thứ 3 và các vị ở Harvard không hiểu sao cứ làm tôi nghĩ tới phong trào phản chiến, phong trào chống VNCH và ủng hộ Cộng Sản ở Harvard và Hollywood trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Với trình độ tri thức trung bình, một người như tôi, thiển nghĩ, cũng có quyền đặt nghi vấn về những con người này.
Một tổ chức cổ vũ hòa giải mà lại không hề có sự tham gia của thành phần trí thức từng là nạn nhân Cộng Sản. Các vị có thiện chí hòa giải thực sự hay không, tôi chưa dám bàn đến, nhưng khi muốn hòa giải thì điều tối thiểu là phải có đầy đủ các bên liên quan. Ví như có một người A đánh người B bị thương, muốn hòa giải thì trong bàn hòa giải ấy phải có anh A và anh B, cả những người bên A và bên B; chứ không thể chỉ có anh A và những người liên quan đến anh, hay những người bàng quan đứng giữa (thành phần thứ ba) mà thiếu đi sự có mặt của anh B. Chưa nói đến nội dung hòa giải và khả năng hòa giải, thành phần của “hội đồng hòa giải” này cũng khiến người ta ngay từ đầu đã không khỏi nghi ngờ.
Thứ hai, về hình tượng Trần Nhân Tông, theo cách nhìn của cá nhân tôi, Ngài là một vị vua đáng ngưỡng phục, cả với vai trò người đứng đầu quốc gia và tư cách một cá nhân bình thường. Với vai trò người lãnh tụ chính trị, ông đã lãnh đạo cuộc chiến đánh đuổi quân Nguyên thành công, củng cố sự ổn định của chính sự triều Trần và phát triển quốc gia. Ông còn là người góp phần mở rộng lãnh thổ nước Đại Việt về phía Nam. Đứng trên lập trường luân lý công bằng của nhân loại, lấy đất của nước người không thể gọi là Nhân; nhưng với địa vị của một ông vua nước Việt, ông không những không đáng trách mà còn là người có công. Trong chính thể quân chủ, một nguyên thủ quốc gia mà giữ gìn và mở rộng được quyền lợi của đất nước thì đó đã là một người cai trị thành công. Điều đáng nói ở đây là có một khả năng không thể tránh khỏi: giá trị tạo nên một nguyên thủ tốt lại mâu thuẫn quyết liệt với giá trị tạo nên một con người tốt. Bởi vậy, với vị trí một cá nhân, Trần Nhân Tông đã bỏ việc chính trị phiền hà để lên núi xuất gia. Điều này cho thấy một sự nhận thức rõ về thân phận con người trên thế gian và một quyết định dứt khoát chấm dứt mâu thuẫn giữa một bên là một ông vua bất chấp thủ đoạn và một cá nhân bình thường, thiện hảo.
Nhìn vào cuộc đời vị vua này, tôi nhận thấy một diễn tiến mỹ mãn, một kết thúc có hậu và một lựa chọn đứng trên thiên hạ nhưng điều này không đồng nghĩa với việc tất cả những gì ông làm đều đúng và đều có thể áp dụng cho thời đại chúng ta. Tên tuổi Trần Nhân Tông tất nhiên xứng đáng để đặt cho bất cứ học viện nào, nhưng không phải vì “tinh thần Hòa giải” theo cách mà chúng ta gán ghép cho ông (sẽ nói ở phần sau), mà vì công lao thực sự đối với đất nước (như là một vị vua và một nhà văn hóa).
Con người là luôn sai lầm nên việc ca ngợi ông như một bậc thánh là quá miễn cưởng, ấy là chưa nói đến việc “thánh hóa” ông để làm bình phong che đậy một dụng ý nào đó. Biến ông thành một tấm gương đạo đức cao cả để định hướng cho một ý đồ của chúng ta là một hành vi lợi dụng lịch sử trắng trợn. Ông đã là một nhân vật lịch sử, xin đừng sử dụng ông trong những vấn đề mà thời đại chúng ta phải đối mặt. Cá nhân tôi luôn đề cao việc sử dụng những giá trị đương đại để giải quyết những vấn đề đương đại. Việc sùng bái cá nhân, chẳng có tác dụng giải quyết triệt để vấn đề hôm nay mà còn gây ra những hệ lụy tai hại trong nhận thức của công chúng. Chúng ta không cần bất cứ tượng đài cá nhân “hậu Hồ Chí Minh” nào nữa.
Thứ đến, xin lạm bàn về câu chuyện mà nhà sư Thích Nhất Hạnh kể về vua Trần Nhân Tông. Chuyện kể rằng, sau khi đánh xong giặc Nguyên, nhà vua đã cho đốt tất cả các tài liệu bí mật ghi về việc các cận thần của ông đã hợp tác với quân Nguyên và nói rằng: “Đất nước ta cần sự hòa giải và hàn gắn chứ không cần sự trừng phạt”. Trước tiên, xin đừng nhìn mọi việc dưới nhãn quan luân lý dễ dãi. Bởi luân lý là quan trọng nhưng không phải lúc nào nó cũng là chìa khóa giải quyết vấn đề của nhân loại.
Thời quân chủ, ông vua chính là luật pháp, là nguyên tắc tối thượng, ông muốn bắt tội ai thì bắt, tha cho ai thì tha. Một khá năng lớn là: những người mà nhà vua không trừng phạt và giấu kín cả hành động phản quốc của họ là hoàng thân quốc thích; cho nên sự ân xá của ông chỉ là để bảo vệ uy danh của hoàng triều. Quả thật, hành động cá nhân tùy tiện của một ông vua chính là đặc trưng của chính thể quân chủ chuyên chế. Ở đây, luật pháp trong tay ông và ý dân có thể là điều ông không cần màng đến. Dù là một vị vua anh minh, có gì đảm bảo quyết định của ông không cảm tính, không phù hợp và không vị nể tình riêng?
Trong thời đại pháp trị này, tất cả mọi người, kể cả một nguyên thủ quốc gia, đều hành xử trong sự điều chỉnh và chế tài của luật pháp. Một vị nguyên thủ dù tài năng xuất sắc cũng không thể đưa ra những quyết định tùy tiện và độc đoán. Một kẻ có tội đáng bị trừng phạt phải do pháp luật quyết định chứ không phải dựa trên quyết định cá nhân của người cầm quyền.
Không biết câu chuyện ấy có thật hay không và được lấy ra từ tài liệu lịch sử nào, nhưng dẫu nó là thật thì việc này cũng chỉ cho thấy tính chất độc đoán của quyền lực quân chủ. Tôi viết những dòng này không nhằm đả kích cá nhân vua Trần Nhân Tông, mà nhằm chỉ ra cái khiếm khuyết tất yếu của nền chính trị quân chủ. Và từ đó, sẽ thấy thật vô lý nếu lại lấy cái giá trị khiếm khuyết đó để áp dụng cho thời đại này, dù nhân danh Hòa giải hay gì đi nữa. Chúng ta không thể lấy cái luân lý cũ, cái nguyên tắc cai trị cũ ra để áp đặt vào thời đại mới, lấy một câu chuyện mang đầy màu sắc quân chủ để cổ vũ hòa giải trong thời pháp trị. Nếu làm vậy, thì một là chúng ta quá vô lý, hai là chúng ta có ý đồ ám muội.
Còn câu chuyện về hòa giải đã tốn khá nhiều giấy mực và dấy lên nhiều cuộc tranh luận chưa ngã ngũ, tôi không dám bàn đến, chỉ xin nói rằng: Nếu anh A đánh anh B bị thương thì còn bàn đến chuyện hòa giải để mang hai anh lại, cùng ngồi vào bàn nói chuyện với nhau, để anh A nói chuyện xin lỗi và bồi thường cho anh B. Cần phải lưu ý trong chuyện này, anh A phải là người chủ động, có thiện chí thực sự, và phải nhận thức được lỗi lầm của mình. Anh A phải mang tiền thuốc men và thành khẩn đến nhà anh B nói chuyện hòa giải, để mong anh B khỏi kiện ra tòa; chứ không phải cứ trịch thượng ngồi nhà, rồi cho người ra đánh tiếng trước cổng nhà, rêu rao về hòa giải. Còn trường hợp anh A đánh anh B chết thì theo luật pháp, dù gia đình anh B có muốn tha cho anh A cũng không được, vì hành vi của anh A lúc này là tội phạm hình sự không chỉ lấy đi tính mạng của cá nhân anh B mà còn xâm phạm đạo đức và ảnh hưởng nghiêm trọng đến cách cư xử bình thường của xã hội. Lúc này, vai trò giải quyết vụ việc phải được giao cho luật pháp, chứ không ai có thẩm quyền bàn đến trừng phạt hay tha thứ. Sau khi Công lý được thực thi thì mới tính đến chuyện hòa giải giữa hai gia đình A và B. Thật vậy, Hòa giải cần một số điều kiện, mà Công lý là điều kiện không thể bỏ quên.
Để kết thức bài viết, tôi xin chia sẻ rằng: học viện Trần Nhân Tông có nhiều nhân sự và cố vấn phương Tây, nhưng điều đó không phải là một bảo chứng hữu hiệu cho uy tín và giá trị của học viện này. Sau buổi trao giải thưởng vắng mặt cho hai chính khách Burma và những phát hiện của công luận về việc đưa thông tin không đúng sự thật của tổ chức này, học viên Trần Nhân Tông xem như đã mở đầu “vở kịch” không được thành công. Và nhân đó, chúng ta cũng cảm nhận được rằng: uy tín của một tổ chức không đến từ thành phần nhân sự khoa bảng bằng cấp đầy mình, mà đến từ thời gian làm việc nghiêm túc trong tinh thần trách nhiệm và tôn trọng sự thật.
Là một người ít học, ít tuổi nhưng lại hay nói thật những điều mình nghĩ, tôi rất mong nhận được cái nhìn bao dung từ độc giả. Thành thật mong rằng, tranh luận không đẩy người ta ra xa nhau mà mang chúng ta đến gần nhau trong tinh thần mưu cầu sự thật.
 
Tam Kỳ ngày 15 tháng 10 năm 2012
This entry was posted in Bình luận. Bookmark the permalink.

One Response to Huỳnh Thục Vy – Lạm bàn về Trần Nhân Tông Academy

  1. Le Duy San says:

    NHỮNG BIỆN PHÁP CỦA VIỆT CỘNG
    ĐỂ VÔ HIỆU HÓA NHỮNG NGƯỜI BẤT ĐỒNG CHÍNH KIẾN

    Lê Duy San

    Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam Việt Nam (VNCH) vào năm 1975 và nhất là sau khi được Hoa Kỳ bỏ cấm vận vào ngày 3 tháng 2 năm 1994, Việt Cộng không những đã được các nước trước kia không đặt quan hệ ngọai giao, mở tòa đại sứ mà còn giao thương buôn bán với chúng. Hơn nữa chúng (Việt Cộng) còn được gia nhập vào Liên Hiệp Quốc, vào WTO, vào Ủy Ban Nhân Quyền LHQ v.v. Do đó chúng bắt buộc phải thay đổi chính sách cai trị sắt mắu phần nào, không còn dám tàn bạo, độc ác và dã man như trước. Nhờ tình trạng này, mà một số người trong nườc đã dám lên tiếng để tỏ bầy những chính kiến của mình.
    Họ là ai ? Tại sao ngụy quyền CSVN lại sợ họ ? Và để vô hiệu hóa những người bất đồng chính kiến này, ngụy quyền CSVN đã dùng những phương thức nào ?
    I/ Những người bất đồng chính kiến là ai ?
    Đó là Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Lê Thị Công Nhân, LS Lê Công Định, LS Lê Chí Quang, LS Lê Quốc Quân, LS Lê Trần Luật, LS Nguyễn Văn Đài, Hoàng Minh Chính (đã chết), nhà báo Bùi Tín, nhà văn Dương Thu Hương, TS Nguyễn Tiến Trung, TS Cù Huy Hà Vũ, BS Phạm Hồng Sơn, BS Nguyễn Đan Quế , KS Trần Huỳnh Duy Thức, KS Lê Thăng Long (?), KS Trần Hùynh Duy Thức, KS Trần Văn Huy, Nhà giáo Vũ Hùng, Nhà văn Hùynh Ngọc Tuấn, Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, Blogger Tạ Phong Tần, Blogger Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải, Blogger Nguyễn Hòang Vi, Blogger Anh Ba Saigon tức LS Phan Thanh Hải, , Facebooker Đinh Nhật Huy, SV Nguyễn Phương Uyên, SV Đinh Nguyên Kha, NS Việt Khang, NS Trần Vũ Anh Bình, Cựu Trung Tá QĐND Trần Anh Kim, Nhà Báo Bùi Tin, Nhà Văn Dương Thu Hương, GS Nguyễn Chính Kết, GS Đinh Đăng Định, Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện (đã chết), nữ đạo diễn Song Chi, Đỗ thị Minh Hạnh, Hồ Thị Bích Khương, Bùi Thị Minh Hằng, Phạm Thanh Nghiên, v.v.
    Những người bất đồng chính kiến trên không làm gì bất hợp pháp cả. Họ chỉ là những người không đồng ý với ngụy quyền CSVN về các vấn đề gì liên quan tới chính sách của ngụy quyền. Họ chỉ đòi hỏi các quyền tự do căn bản của con người. Hành động của họ rất ôn hòa, thường chỉ là những bài viết được đăng tải trên các diễn đàn điện tử, các website hay Facebook. Nhưng ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam rất sợ bởi vì khi những người bất đồng chính kiến mà tập hợp lại thì có thể thành phong trào bất đồng chính kiến và khi họ được hoạt động thì họ có thể trở thành lực lượng đối lập hay đảng phái đối lập. Có thể nói bất đồng chính kiến là bước đầu để tiến tới lực lượng đối lập. Nếu bị cấm đoán nữa thì đôi khi lực lượng đối lập có thể chuyển thành lực lượng cách mạng và vùng lên tìm cách lật đổ chính quyền.
    Vì thế, trước tình trạng người bất đồng chính kiến mỗi ngày một đông, ngụy quyền cộng sản VN đã phải dùng những biện pháp sau để trấn áp những người bất đồng chính kiến ngõ hầu cô lập họ.
    II Những niện pháp để vô hiệu những người bất đồng chính kiến.
    1/ Vu cáo để bỏ tù họ.
    Để có thể truy tố và kết án những người bất đồng chính kiến, Ngụy quyền CSVN đã tìm đủ mọi cách để gán cho họ tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo điều 88 bộ Hình Luật Việt Cộng (1) hoặc tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 Bộ Hình Luật Việt Cộng (2). Nhẹ nhất thì cũng gán cho họ tội “Lợi dụng quyền tự do, dân chủ” chiếu điều 258 bộ luật Hình Sự Việt Cộng (3) như trường hợp của Facebooker Đinh Nhật Uy (anh trai của Đinh Nguyên Kha). Có thể nói hầu hết tất cả các người bất đồng chính kiến đều bị ghép vào một trong hai tội này để bỏ tù họ. Ở trong tù cũng vẫn chưa yên thân. Họ luôn luôn bị khủng bố tinh thần và thể xác, có người còn bị cai tùi đánh đập dã man đến ngất xỉu như trường hợp của Nguyễn Phương Uyên. Cha mẹ vợ con họ cũng không yên, luôn luôn bị đe dọa, xách nhiễu.
    2/ Khủng bố bằng cách theo dõi, cô lập và hành hung.
    Ở tù thì rồi cũng có ngày ra. Vì thế đi kèm theo án tù, thường là vài năm quản chế để theo dõi và cô lập những người bất đồng chính kiến sau khi mãn hạn tù. Đối với những người bất đồng chính kiến không mấy quan trọng, không thể truy tố ra tòa để bỏ tù, ngụy quyền Việt Cộng cô lập họ hoặc cho người theo dõi và nhiều khi vô cớ hành hung, đánh đập họ rất dã man. Đó là trường hợp của Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, sinh viên Nguyễn Tiến Nam, Blogger Nguyễn Hòang Vi, Hùynh Thục Vi (con Hùynh Ngọc Tuấn) và gần đây Blogger Mẹ Nấm (Nguyễn Ngọc Như Quỳnh) hoặc bắt giam vài tháng mà không cần đưa ra tòa xét xử như trường hợp của Blogger “Anh Ba Saigon” tức LS Phan Thanh Hải. Theo ông Uyên Vũ, một thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do thì “giới Blogger luôn luôn nằm trong vòng kiểm soát của công an và thường xuyên bị sách nhiễu và đe dọa”. Nhiều khi ngụy quyền CSVN còn khủng bố luôn cả gia đình họ như trường hợp của gia đình sinh viên Đinh Nguyên Kha ở Long An và bắt giam anh Đinh Nhật Uy là anh của Đinh Nguyên Kha hoặc KS Trần Văn Huy chỉ vì anh phổ biến một bài viết để chính thức công bố việc anh gia nhập khối 8406, một tổ chức đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền và tôn giáo cho VN. Hoặc vô cớ hành hung như trường hợp của anh Lê Quốc Quyết, em trai của Luật Sư Lê Quốc Quân, rạng sáng ngày 2/1/2014 đã bị bốn tên công an mặc thường phục có hung khí đánh đập dã man ngay trước cổng vào khu chung cư Mỹ Kim ở phường Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức.
    Không những người bất đồng chính kiến bị đe dọa mà ngay cả những Luật Sư bênh vực cho những ngững người này cũng bị đe dọa hoặc hành hung. Đó là trường hợp của Luật Sư Trần Đình Triển bị bị một nhóm côn đồ tự xưng là thương binh tấn công tại Văn phòng Luật Sư Vì Dân vào ngày 8/8/2011. Ơng cho biềt : “Đây là lần thứ hai ông bị nhóm người trên tấn công và đe dọa, đòi ông phải bỏ qua vụ án chống tham nhũng đối với bà Đặng Thị Bích Hòa là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc cổ phần chuyển phát nhanh Bưu điện, mà ông đang làm luật sư tư vấn miễn phí. Đồng thời, những người tấn công còn gọi ông là “phản động” vì đã đứng ra làm luật sư bảo vệ cho TS luật Cù Huy Hà Vũ.”
    3/ Bao vây kinh tế.
    Gán cho những tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo điều 88 bộ Hình Luật Việt Cộng, “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 Bộ Hình Luật Việt Cộng hoặc tội “Lợi dụng quyền tự do, dân chủ” chiếu điều 258 bộ luật Hình Sự Việt Cộng để phạt tù những người bất đồng chính kiến hoặc khủng bố họ cũng như gia đình họ chưa đủ, ngụy quyền CSVN còn tìm cách bao vây kinh tế họ bằng cách tịch thu gia sản của họ như trường hợp của Kỹ Sư Trần Hùynh Duy Thức, không cho hành nghề để kiếm ăn như trường hợp của LS Lê Thị Công Nhân, LS Lê Công Định và Luật Sư Lê Trần Luật hoặc bắt buộc phải xin nghỉ việc như trường hợp của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy v.v., hoặc gán cho tội trốn thuế để phạt tiền thật nặng đến phải tan gia bại sản như trường hợp của Blogger Nguyễn Văn Hải, Luật Sư Lê Quốc Quân.
    4/ Tống xuất ra nước ngoài.
    Những biện pháp trên đã làm một vài người xuống tinh thần và trở nên thụ động sau khi ra tù vì phải lo sinh kế cho gia đình. Nhưng nhiều người vẫn kiên cường đấu tranh nhờ sự giúp đỡ của đồng bào hải ngọai và con số những người bất đồng chính kiến vẫn mỗi ngày một đông. Vì thế ngụy quyền CSVN rất lo ngại. Nếu ngày nay đã có khối 8406 thì rất có thể ngày mai sẽ có phong trào phản kháng hoặc đảng phái đối lập dù ngụy quyền CSVN có cho phép hay không. Vì thế ngụy quyền CSVN sẵn sàng tống xuất những người bất đồng chính kiến mà chúng cho là nguy hiểm ra nước ngòai nếu có cơ hội. Biện pháp này không khác gì hình phạt biệt xứ hoặc cho đi đầy ở những nước xa xôi thuộc địa của Pháp thời Pháp thuộc.
    Một số khác, chúng biết ra ngọai quốc cũng chẳng làm nên trò trống gì, trái lại chúng còn được tiếng là cởi mở, là tôn trọng nhân quyền, nên chúng sẵn sàng cho đi, cho về như trường hợp của ông Trần văn Hùynh và bà Nguyễn Thị Kim Liên cha mẹ của hai anh Đinh Nhật Huy và Đinh Nguyên Kha. Nhiều người Việt tỵ nạn ở hải ngọai không hiểu, thấy vậy tưởng rằng ngày nay ngụy quyền CSVN đã cởi mở, đã thay đổi. Thực ra chúng chẳng có gì thay đổi cả. Tất cả chỉ là chính sách, chiến lược, chiến thuật của chúng. Đó cũng là lý do tại sao Việt Cộng đã được cho vào Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc. Trong khi một số người khác chúng biết nếu cho ra ngọai quốc sẽ bất lợi cho chúng thì chúng lại cấm đóan, đó là trường hợp của Blogger Mẹ Nấm, blogger Nguyễn Hoàng Vi, blogger Châu Văn Thi.
    Một số người bất đồng chính kiến cũng nghĩ rằng ra được ngoại quốc thì có hòan cảnh và cơ hội nhiều hơn để tranh đấu. Nhưng thực ra đồng ý ra ngọai quốc là đầu hàng Việt Cộng, là tự chấm dứt con đường đấu tranh của mình. Thử hỏi những người bất đồng chính kiến như thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, giáo sư Nguyễn Chính Kết, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, nữ đạo diễn Song Chi v.v. sau khi được ra ngọai quốc đã làm được gì hơn những ngày còn ở Việt Nam ?
    Những lời tuyên bố của LS Lê Thị Công Nhân, của Sinh viên Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, của Nguyễn Lân Thắng v.v. đều được coi là những lời tuyên bố chống ngụy quyền CSVN nẩy lửa. Những bài hát của Việt Khang, của Trần Vũ Anh Bình là những bài hát yêu nước hào hùng được ca ngợi và vinh danh ở VN. Nhưng nếu những người này được ra ngọai quốc mà cũng tuyên bố họac làm những bài hát tương tự như vậy thì cũng chỉ là những lời chống Cộng, những bài hát yêu nước bình thường, chẳng có gì là ghê gướm nếu đem so sánh với những bài viết chống Cộng của những người Việt tỵ nạn hải ngọai, những bài hát tố Cộng của nhạc sĩ Bão Tố hay Phan Văn Hưng.
    Tóm lại, ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam rất sợ những nhà bất đồng chính kiến do đó chúng luôn luôn tìm cách diệt trừ tận gốc rễ. Nếu không được thì chúng sẵn sàng tìm cách tống xuất họ ra nước ngòai. Có người chúng còn yêu cầu Hoa Kỳ cho máy bay bốc thẳng từ nhà tù sang Hoa Kỳ như trường hợp của ông Phan Văn Bàn mới đây. Ông Bàn, một cựu cảnh sát đặc biệt đã chấp nhận ngồi tù 29 năm chỉ để nói lên rằng ông không hề làm gì sai đối với nhân dân và đất nước Việt Nam. Ông đã được chính Bộ Trưởng Ngoại Giao Candoleezza Rice can thiệp để đi Hoa Kỳ đoàn tụ với gia đình tại Illinois.
    Những người bất đồng chính kiến cần phải hiểu điều đó và cần phải kiên trì. Ông Nelson Mandela đã phải kiên trì tranh đấu cả mấy chục năm, ngồi tù gần ba chục năm mới đi tới thành công. Đừng tưởng rằng ra được ngọai quốc sẽ có hòan cảnh và cơ hội nhiều hơn để tranh đấu. Ra tới ngọai quốc, còn phải lo sinh kế, có người còn phải đi học Anh ngữ, đâu có nhiều thì giờ rảnh rang như những người Việt tỵ nạn ở hải ngọai, đa số đã về hưu, mà chống Cộng ? Chính vì vậy mà một số người bất đồng chính kiến có thể ra ngọai quốc được nhưng đã từ chối. Đó là trường hợp của Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ v.v.
    Nếu những người bất đồng chính kiến Việt Nam mới ngồi tù có mấy năm đã nản trí chạy ra ngọai quốc thì tới bao giờ VN mới thóat khỏi sự kìm kẹp của Cộng Sản ? Chúng ta phải hiểu rằng, CSVN sẽ xụp đổ, nhưng chúng không xụp đổ bởi những người Việt hải ngọai mà xụp đổ bởi những người Việt ở trong nước. Và những người lãnh đạo tương lai cho nước VN hậu cộng sản cũng không phải là người Việt hải ngọai mà là người Việt ở trong nước.

    Chú thích:
    (1) Điều 79, khoản 1 bộ Luật Hình Sự Việt Cộng quy định “Người nào hoạt động thành lập hay tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì bị phạt như sau: Người tổ chức, người xúi dục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”.
    (2) Điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam quy định tội phạm gồm các hành vi: “Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nguời phạm tội có thể bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm. Nếu trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.
    (3) Điều 258. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân:
    1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
    2. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
    Lê Duy San

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s