Nial Ferguson – Vì sao Obama phải ra đi

 

 image

Tổng Thống không làm được lời hứa, và con đương đi đến thịnh vượng của Romney – Ryan là hy vọng duy nhất của chúng ta.

Tôi là kẻ thua cuộc ngoan ngõan vào bốn năm trước đây. “Trong khung cảnh lớn của lịch sử,” tôi viết vào ngày sau khi Barack Obama được bầu làm tổng thống,“bốn chục năm không phải là một thời gian thật dài. Tuy thế trong thời gian ngắn ngủi ấy nước Mỹ đã đi từ cuộc ám sát Martin Luther King Jr. đến việc thần thánh hóa Barack Obama. Bạn sẽ không là người nữa nếu bạn không thấy được điều này là một lý do cho sự vui sướng lớn lao.”
Dù đã là—xin tiết lộ hòan tòan—một cố vấn cho John McCain, tôi ghi nhận những đức tính đáng nhớ của đối thủ của ông: tài cao giọng thuyết phục đám đông, tâm tính dịu dàng không nổi nóng, và tổ chức tranh cử gần như không có gì sai lầm.
Tuy vậy câu hỏi cho cả nước vào gần như bốn năm sau không phải ai là người tranh cử giỏi hơn vào bốn năm trước mà là người thắng cử có làm được những lời đã hứa hay không. Và sự thật buồn bã là ông ta chưa làm được.
Trong diễn văn nhậm chức, Obama cam kết “không những chỉ tạo ra các công ăn việc làm mới mà còn đặt nền móng cho sự phát triển.” Ông hứa “xây đường xá và cầu, các mạng điện, các đường điện tử để nuôi sống nền thương mại của chúng ta và nối kết chúng ta lại với nhau.” Ông hứa “đưa khoa học trở lại vị trí đúng của nó và dùng những kỳ công của kỹ thuật để nâng cao phẩm chất và làm giảm phí tổn của việc chăm sóc sức khỏe.” Và ông cũng hứa “cải tiến các trường học, các trường cao đẳng và các trường đại học để đáp ứng cho những đòi hỏi của thời đại mới.” Bất hạnh thay bảng ghi điểm của tổng thống về từng lời cam kết ấy thật là đau thương.
Trong một lúc quên không thận trọng vào đầu năm nay, tổng thống tỏ lời bình phẩm là khu vực tư của nền kinh tế “đang họat động tốt.” Điều chắc chắn là thị trường chứng khóan lên cao (lên 74 phần trăm) so với lúc thị trường đóng cửa vào Ngày Nhậm Chức năm 2009. Nhưng con số tòan bộ công ăn việc làm có trong khu vực tư vẫn là 4.3 triệu ít hơn mức cao trong tháng Giêng năm 2008. Trong khi đó, kể từ 2008, con số lớn đáng sợ là 3.6 triệu người Mỹ đã được đưa thêm vào chương trình bảo hiểm tàn phế của hệ thống An Sinh Xã Hội. Đây là một trong nhiều cách để che dấu nạn thất nghiệp.
Trong ngân sách cho tài khóa 2010—ngân sách đầu tiên mà ông trình bày—tổng thống hình dung ra mức phát triển 3.2 phần trăm cho 2010, 4.0 phần trăm cho 2011, 4.6 phần trăm cho 2012. Các con số thực sự diễn ra là 2.4 phần trăm cho 2010 và 1.8 phần trăm cho 2011; không có mấy nhà phỏng định hiện nay kỳ vọng mức phát triển cho năm nay là trên 2.3 phần trăm.
Nạn thất nghiệp đúng ra phải là 6 phần trăm vào lúc này nhưng đã ở mức trung bình 8.2 phần trăm cho cả năm. Trong khi đó lợi tức thực trung bình hàng năm của mỗi gia cư đã giảm đi hơn 5 phần trăm kể từ tháng Sáu năm 2009. Gần 110 triệu người đã lãnh lợi tức an sinh trong năm 2011, phần lớn là trợ cấp sức khỏe (Medicaid) hoặc là phiếu mua thức ăn.
Chào đón qúy vị vào Nước Mỹ của Obama: gần một nửa dân số Mỹ không phải đóng thuế–gần đúng tỷ lệ sống trong một gia cư trong đó có ít nhất là một người nhận được một lọai trợ cấp nào đó của chính quyền. Chúng ta đang thành một quốc gia 50/50 một nửa trong chúng ta đóng các lọai thuế còn nửa kia nhận các lọai trợ cấp.
Và tất cả như vậy bất chấp món nợ của liên bang trở thành lớn hơn những gì chúng ta được cam kết. Theo ngân sách năm 2010, món nợ của chính quyền tính theo tỷ lệ với Tổng Sản Lượng Trong Nước (TSLTN) là phải giảm từ 67 phần trăm vào năm 2010 xuống thấp hơn 66 phần trăm vào năm nay. Ước gì được như vậy. Đến cuối năm nay, theo Sở Ngân Sách Của Quốc Hội (SNSQH) món nợ của chính quyền sẽ lên tới 70 phần trăm TSLTN. Tuy nhiên những con số nói trên đã diễn tả nhỏ đi rất nhiều nỗi khó khăn do món nợ gây ra. Tỷ lệ đáng chú ý là tỷ lệ của món nợ tính trên số thu họach. Tỷ lệ này đã nhảy vọt từ 165 phần trăm vào năm 2008 lên 262 phần trăm vào năm nay, theo các con số lấy từ Qũy Tiền Tệ Quốc Tế (QTTQT). Trong tất cả những nền kinh tế đã phát triển, chỉ có Ái Nhĩ Lan và Tây Ban Nha là có sự suy đồi lớn hơn.
Không những cuộc kích thích tài khóa đã phai nhạt đi ngay từ đầu sau khi viên thuốc bọc đường ấy được đưa ra vào năm 2009 mà ông tổng thống thì đã hòan tòan không làm gì để khép lại khỏang cách dài hạn giữa món chi tiêu và món thu nhập.
Cuộc cải cách chăm sóc sức khỏe đầy huênh hoang của tổng thống sẽ không ngăn chặn được sự gia tăng chi tiêu trong các chương trình chăm sóc sức khỏe từ mức trên 5 phần trăm của TSLTN vào hôm nay lên đến gần 10 phần trăm vào năm 2037. Cộng thêm các phí tổn gia tăng dự phỏng cho qũy An Sinh Xã Hội và qúy vị sẽ thấy một phiếu chi tiêu tổng cộng là 16 phần trăm TSLTN vào 25 năm kể từ bây giờ. Con số này chỉ nhỏ hơn chút xíu số phí tổn trung bình của tất cả các chương trình và các họat động của chính phủ liên bang, không kể đến số tiền lời phải trả, trong 40 năm qua. Theo các chính sách của tổng thống hiện nay, món nợ của liên bang đang trên đường lên tới 200 phần trăm của TSLTN vào năm 2037-một núi nợ khiến mức phát triển bị giảm xuống nhiều hơn nữa.
Và ngay cả con số trên cũng diễn tả nhỏ đi gánh nặng thực sự của món nợ. Số dự phỏng gần đây nhất về sự khác biệt giữa trị giá hiện tại nét của các món nợ liên bang và trị giá hiện tại nét của những món thu nhập của liên bang—cái mà nhà kinh tế Larry Kotlikoff gọi là “khoảng cách tài chính” thật là 222 nghìn tỉ đô la ($222 trillion).
Những người ủng hộ Tổng Thống sẽ: dĩ nhiên rồi, bảo rằng sự sinh họat tồi tệ của nền kinh tế không thể quy vào cho ông ta được. Họ thường chỉ tay vào vị tổng thống trước ông, hay những nhà kinh tế mà ông chọn để cố vấn cho ông, hoặc (thị trường chứng khóan) Wall Street, hoặc Âu Châu—nghĩa là bất cứ ai ngòai người đàn ông trong tòa Nhà Trắng.
Có một chút sự thực trong điều này. Khá khó mà đoán được những gì sẽ xảy ra cho nền kinh tế vào những năm sau năm 2008. Tuy thế chắc chắn chúng ta có thể quy trách đúng vào tổng thống về những lỗi lầm chính trị trong bốn năm qua. Rốt cuộc, công việc của tổng thống là điều hành ngành hành pháp một cách hữu hiệu—lãnh đạo quốc gia. Và đây là phạm vi mà sự thất bại của ông là lớn nhất.
Trên giấy tờ thì thấy có một đội đáng mơ ước về kinh tế: Larry Summers, Christina Romer, và Austan Goolsbee, ấy là chưa kể đến Peter Orszag, Tim Geithner, và PaulVolcker. Tuy thế, chuyện bên trong cho biết tổng thống hòan tòan không có khả năng điều hành những bộ óc hùng mạnh—và những cái ta—mà ông đã tụ tập lại để cố vấn cho ông.
Theo cuốn Confidence Men của Ron Suskind, Summers bảo Orszag trong bữa ăn tối vào tháng Năm năm 2009: “Anh biết không, Peter, chúng ta ở nhà một mình … Tôi nói đúng vậy đấy. Chúng ta ở nhà một mình. Không có người lớn lo liệu. Clinton thường không bao giờ làm những lỗi lầm này (không nhất quyết về những vấn đề kinh tế quan trọng).” Từ vấn đề này sang vấn đề khác, theo Suskind, Summers đã gạt bỏ lời của tổng thống. “Anh không thể chỉ tiến vào và nói lên lập luận của anh rồi để cho ông ta làm quyết định,” Summers bảo Orszag, “vì ông ta không biết ông ta đang quyết định cái gì.” (Tôi đã nghe nhiều điều tương tự nói ngòai lề bởi những người tham dự chính trong cuộc “hội thảo” lê thê không dứt của tổng thống về chính sách đối với Afghanistan.)
Vấn đề này vượt ra ngòai tòa Nhà Trắng nữa. Sau nền tổng thống đế vương thời Bush, có một cái gì giống nhiều hơn với thể chế chính quyền đại nghị trong hai năm đầu tiên của chính phủ Obama. Tổng thống đề nghị, Quốc Hội bác bỏ. Chính Nancy Pelosi và bè nhóm của bà đã viết ra dự luật kích thích kinh tế và nhất quyết nhét vào đó đầy những món xôi thịt chính trị. Và chính những đảng viên Dân Chủ trong Quốc Hội—cầm đầu bởi Christopher Dodd và Barney Frank—đã sọan ra Đạo Luật Cải Cách Wall Street và Bảo Vệ Người Tiêu Thụ (gọi tắt là Dodd-Frank) dầy 2,319 trang, một thí dụ gần như tòan hảo cho thấy sự rối rắm quá mức trong việc kiểm sóat. Đạo luật đòi những người làm việc kiểm sóat phải tạo ra 243 quy luật, làm 67 cuộc nghiên cứu, và đưa ra 22 bản tường trình định kỳ. Luật lọai bỏ một nhà kiểm sóat và tạo ra hai nhà kiểm sóat mới.
Đã năm năm từ khi cuộc khủng hỏang tài chính bắt đầu, nhưng những vấn đề chính—sự tập trung tài chính qúa mức và sự thúc đẩy tài chính qúa mức— vẫn chưa được xét đến.
Ngày nay, chỉ có 10 cơ quan tài chính lớn quá không thể đổ được là có trách nhiệm về ba phần tư tổng số các tài sản tài chính đang quản trị tại Mỹ. Tuy thế, những ngân hàng lớn nhất trong nước thiếu ít nhất là 50 tỉ đô la thì mới đáp ứng được những đòi hỏi mới về vốn theo thỏa hiệp “Basel III” lo toan về sự đủ vốn của ngân hàng.
Và đến việc chăm sóc sức khỏe. Không ai lại không chắc rằng hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ cần phải được cải tiến. Nhưng Đạo Luật Bảo Vệ Người Bệnh và Chăm Sóc Sức Khỏe Vừa Túi Tiền (ACA) của năm 2010 đã chẳng làm gì để ứng phó với những tệ hại chính của hệ thống: sự bộc phát trong dài hạn các phí tổn y tế Medicare vào lúc thế hệ được sinh đẻ thật nhiều ra sau chiến tranh (baby boomers) về hưu, mô thức “trả tiền khi khám bệnh” đẩy vọt tình trạng lạm phát về chăm sóc sức khỏe, sự móc nối công việc làm vào với bảo hiểm đã giải thích vì sao quá nhiều người Mỹ không có bảo hiểm sức khỏe, và những phí tổn quá mức về bảo hiểm trách nhiệm mà các bác sĩ của chúng ta cần có để bảo vệ chính họ trước các luật sư của chúng ta.
Trái ngược thay, điểm chủ chốt của Obamacare là “mệnh lệnh cho cá nhân” (đòi tất cả mọi người Mỹ phải mua bảo hiểm sức khỏe nếu không thì bị phạt) là cái mà chính tổng thống đã chống đối trong khi ông đang tranh đua với Hillary Clinton để được đảng Dân Chủ chỉ định ra tranh cử. Một chữ chính xác hơn rất nhiều sẽ là “Pelosicare,” vì chính bà Pelosi là người đã thực sự đẩy bản dự luật qua Quốc Hội.
Pelosi không phải chỉ là một tai họa về chính trị. Các cuộc thăm dò ý kiến liên tục cho thấy chỉ có một số nhỏ dân chúng thích luật ACA, và đó là lý do chính tại sao những người Cộng Hòa lấy lại được quyền kiểm sóat Hạ Viện vào năm 2010. Luật đó cũng lại là một rối lọan nữa về tài chính. Tổng thống đóan chắc rằng sự cải tổ về chăm sóc sức khỏe sẽ không làm tăng thêm lấy một xu vào sự thâm thụt ngân sách. Nhưng CBO (Sở Ngân Sách Của Quốc Hội) và Ủy Ban Liên Hợp về Thuế hiện nay phỏng định rằng các điều khỏan trả tiền bảo hiểm sức khỏe trong luật ACA sẽ tạo ra một phí tổn nét là gần 1.2 nghìn tỉ đô la trong thời kỳ 2012 – 22.
Tổng thống cứ tiếp tục tránh né vấn đề tài khóa. Thành lập xong tổ chức lưỡng đảng Ủy Hội Tòan Quốc về Trách Nhiệm Tài Khóa và Cải Tiến, cầm đầu bởi thượng nghị sĩ đã về hưu Alan Simpson thuộc đảng Cộng Hòa ở Wyoming và ông Erskine Bowles, cựu chánh văn phòng của Clinton, Obama đã dẹp sang một bên một cách hữu hiệu những đề nghị của Ủy Hội về việc cắt bỏ chi tiêu khỏang 3 nghìn tỉ đô la và tăng thu 1 nghìn tỉ đô la trong thời gian mười năm sắp tới. Kết qủa là không có một “thương lượng lớn” nào với phía Cộng Hòa ở Hạ Viện—điều này có nghĩa là, trừ khi có một phép lạ nào xảy đến, quốc gia sẽ đến bờ vực thẳm tài chính vào ngày 1 tháng Giêng khi mà chương trình giảm thuế của Bush hết hạn và sự áp đặt những cắt bỏ chi tiêu tự động tòan bộ các lọai của con số cắt giảm 1.2 nghìn tỉ đô la phải thi hành. Sở CBO phỏng định hiệu quả nét có thể là sản lượng bị giảm đi 4 phần trăm.
NHỮNG THẤT BẠI về lãnh đạo trong chính sách kinh tế và tài chính trong bốn năm qua đã có những hậu quả về địa-chính-trị. Ngân Hàng Thế Giới kỳ vọng Mỹ chỉ phát triển được ở mức 2 phần trăm cho năm 2012. Trung Cộng sẽ phát triển nhanh hơn gấp 4 lần mức đó; Ấn Độ nhanh hơn gấp 3 lần. Đến năm 2017, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế dự đóan, TSLTN của Trung Cộng sẽ vượt qua TSLTN của Mỹ.
Trong khi đó, chiếc xe lửa tài chính bể nát đã bắt đầu thủ tục cắt giảm lớn lao trong ngân sách quốc phòng, ở vào một điểm thời gian khó mà thấy rõ được là thế giới đã trở thành một nơi an tòan hơn—ít nhất là ở vùng Trung Đông.
Đối với tôi, sự thất bại lớn nhất của tổng thống là đã không cân nhắc kỹ về những ám hiệu thách đố quyền lực của Mỹ. Không màng đưa ra một chiến lược thích ứng, ông tin—có lẽ thấy phấn khởi vì sớm được giải thưởng non Hòa Bình Nobel—rằng tất cả những gì ông cần làm chỉ là đọc trên khắp thế giới những diễn văn khích động tâm hồn để giải thích cho người nước ngòai biết rằng ông không phải là George W. Bush.
Tại Đông Kinh trong tháng Mười Một năm 2009, tổng thống đã đọc một diễn văn nẩy lửa yêu-thương-người-nước-ngòai: “Trong một thế giới liên kết với nhau, quyền lực không cần phải là một trò chơi được-thua, và các nước không cần phải sợ sự thành công của một nước khác … Mỹ không cần ngăn chặn Trung Cộng … Trái lại, sự xuất hiện của một Trung Cộng mạnh mẽ, thịnh vượng có thể là nguồn sức mạnh cho cộng đồng các nước.” Thế mà đến mùa thu năm 2011, đường lối này đã bị vứt bỏ để “chuyển trở lại” chiến lược Thái Bình Dương, gồm cả những cuộc đóng quân đáng buồn cười ở Úc và Tân Gia Ba. Trên quan điểm của Bắc Kinh, cả hai đường lối này đều không có gì đáng tin cả.
Diễn văn của ông tại Cairo vào ngày 4 tháng Sáu năm 2009 là một nỗ lực thật vụng về nhằm lấy tình thương cho ông nhưng đã chứng tỏ là sự khởi đầu cho cuộc cách mạng trong vùng. “Tôi rất vinh hạnh mang theo với tôi,” ông nói với người Ai Cập, “lời chào mừng hòa bình từ các cộng đồng Hồi giáo ở nước tôi: Assalumu alaikum … Tôi đến đây … để tìm một khởi đầu mới giữa Mỹ và những người Hồi giáo trên thế giới, cái đặt … trên sự thật là Mỹ và Hồi giáo không bãi bỏ nhau và không cần cạnh tranh với nhau.”
Tin rằng vai trò của ông là bác bỏ đường lối bảo thủ mới, Obama đã hòan tòan lỡ mất ngọn sóng cách mạng dân chủ ở Trung Đông—chính là làn sóng mà những người bảo thủ mới đã hy vọng sẽ bộc phát với cuộc lật đổ Saddam Hussein ở Iraq. Khi cách mạng nổ ra—trước hết tại Ba Tư, rồi tại Tunisia, Ai Cập, Libya, và Syria—tổng thống đứng trước những chọn lựa rõ rệt. Ông có thể cố gắng bắt ngọn sóng bằng cách ủng hộ những người cách mạng trẻ và gắng cưỡi ngọn sóng ấy theo một chiều hướng thuận lợi cho các quyền lợi của Mỹ. Hoặc là ông có thể chẳng làm gì hết và để những thế lực đối nghịch chế ngự.
Trong trường hợp Ba Tư, ông chẳng làm gì hết và những kẻ bạo tàn của nước Cộng Hòa Hồi Giáo đã nghiền nát các cuộc biểu tình một cách không gớm tay. Tại Syria cũng vậy. Tại Libya, ông bị dụ ngọt vào sự can thiệp. Tại Ai Cập ông gắng làm cả hai bên, ép buộc Tổng Thống Ai Cập Hosni Mubarak ra đi, rồi rút lại và đề nghị một “cuộc chuyển giao có thứ tự.” Kết quả là sự thất bại trong đường lối ngọai giao một cách nực cười đáng phỉ nhổ. Không những giới tinh nhuệ của Ai Cập thấy ngỡ ngàng trước sự phản bội, mà những kẻ chiến thắng—nhóm Anh Em Hồi Giáo—chẳng có gì phải mang ơn cả. Các đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở Trung Đông—Do Thái và Saudis—trố mắt ngỡ ngàng.
“Đây là chuyện xảy ra khi ta bị ngạc nhiên,” một viên chức Mỹ dấu tên đã nói như vậy với The New York Times vào tháng Hai năm 2011. “Chúng tôi đã có những cuộc họp chiến lược lê thê không đi đến kết luận trong hai năm qua về hòa bình ở Trung Đông, về ngăn chặn Ba Tư. Và bao nhiêu trong những cuộc họp đó đã đụng đến việc Ai Cập có thể đi từ ổn định sang rối lọan? Chẳng có cuộc họp nào hết.”
Điều đáng lưu ý là tổng thống được cho là tương đối mạnh về an ninh quốc gia. Cho đến nay công chúng vẫn lầm lẫn giữa chuyện chính quyền của tổng thống tha hồ dùng việc ám sát chính trị với việc cần có một chính sách có lớp lang. Theo Phòng Điều Tra Báo Chí ở Luân Đôn, tỉ số thường dân bị máy bay không người lái giết chết là 16 phần trăm vào năm ngóai. Bạn hãy tự hỏi giới truyền thông phóng túng sẽ cư xử ra sao nếu George W. Bush đã dùng máy bay không người lái kiểu này. Đến nay vẫn chỉ có các ngọai trưởng Cộng Hòa bị tố cáo là “tội phạm chiến tranh” mà thôi.
Tội ác thật sự là chương trình ám sát làm mất đi tin tình báo có tầm tối trọng (cũng như là làm người địa phương bất mãn) mỗi khi một máy bay không người lái tấn công. Chương trình này tiêu biểu cho quyết định của chính phủ bỏ rơi việc chống nổi lọan để lấy việc chống khủng bố chật hẹp. Điều có nghĩa trên thực tế là sự bỏ rơi không những chỉ có bỏ rơi Iraq mà chẳng mấy chốc cả Afghanistan nữa. Bởi thế mới hiểu được rằng các đàn ông và đàn bà phục vụ ở những nơi ấy tự hỏi sự hy sinh của họ là cho đích xác cái gì, nếu có ý niệm là chúng ta đang xây dựng quốc gia thì ý niệm ấy đã bị lẳng lặng vứt đi rồi. Chỉ khi cả hai nước trên chìm đắm trở lại vào nội chiến thì chúng ta mới thấy được cái giá thật sự của chính sách đối ngọai của Obama.
Nước Mỹ dưới quyền tổng thống này là một siêu cường thụt lùi, nếu không nói là tháo lui. Ít lấy làm lạ là 46 phần trăm dân Mỹ–và 63 phần trăm dân Tàu—tin rằng Trung Cộng đã thay Mỹ làm siêu cường hàng đầu của thế giới hoặc cuối cùng rồi cũng sẽ như vậy.
Một dấu hiệu về cách thức mà Barack Obama đã hòan tòan “đánh mất câu chuyện” từ khi được bầu lên là việc ông dùng cái hay nhất mà ông kiếm được cho việc ứng cử lại của ông là nói rằng Mitt Romney không nên là tổng thống. Trong diễn văn dơ dáy“các bạn đã không gây dựng nên cái đó” mà ai cũng đã biết, Obama kê khai ra những gì mà ông coi là các thành quả lớn nhất của chính quyền lớn: In-tơ-nét (internet, CN), GI Bill (luật trợ cấp cựu chiến binh, CN), cầu Golden Gate, đập nước Hoover, cuộc đổ bộ lên mặt trăng của phi thuyền Apollo, và ngay cả (thật lạ lùng) sự tạo thành giai cấp trung lưu. Buồn thay, ông đã không đề cập được đến bất cứ gì tương xứng mà chính phủ của ông đã đạt được.
Bây giờ Obama phải đầu-đối-đầu với đối thủ của ông: một nhà chính trị tin vào thực chất nhiều hơn là hình thức, cải tiến nhiều hơn là nói năng. Trong những ngày qua đã có nhiều bài viết về Dân Biểu Paul Ryan của Wisconsin, người được Mitt Romney chọn làm ứng cử viên chung của ông. Tôi biết, thích, và khâm phục Paul Ryan. Đối với tôi, điều về ông là đơn giản. Ông là một trong vài nhà chính trị đếm được trên đầu ngón tay ở Hoa Thịnh Đốn mà thật sự thành thực trong việc đối phó với cuộc khủng hỏang tài chính trong nước.
Trong hai năm qua chương trình “Con Đường Đi Đến Thịnh Vượng” của Ryan đã diễn tiến ra, nhưng những điểm chính là rõ ràng: thay thế Medicare bằng một chương trình phiếu thanh thỏa giành cho những người hiện giờ dưới 55 tuổi (không phải những người hiện đang nhận hay sắp nhận Medicare), chuyển Medicaid và phiếu mua thức ăn thành các qũy liên bang cho tiểu bang tùy tiện sử dụng, và—điều tối quan hệ–làm đơn giản hóa luật thuế và hạ thấp mức thuế để gắng bơm ít sinh lực kinh-tế-theo-ngành-cung vào trở lại khu vực tưcủa Mỹ.
Ryan không thuyết giảng về khắc khổ. Ông thuyết giảng về phát triển. Và cho dù những người cựu thời Reagan như David Stockman có thể có những nghi ngờ, họ đều ước định thấp sự quán triệt đề tài này của Ryan. Hiển nhiên là không có ai ở Hoa Thịnh Đốn hiểu về những thách đố cho cuộc cải cách tài chính rõ hơn là Ryan.
Cũng quan trọng như vậy, Ryan đã học được rằng chính trị là nghệ thuật về sự có thể. Có những phần trong chương trình của ông mà ông nhấn nhẹ vào bàn đạp một cách dễ hiểu ngay lúc này—đáng để ý là nguồn mới của món thu nhập của liên bang được nói đến trong chương trình “Đường Đến Tương Lai của Mỹ” là một “thuế tiêu thụ doanh nghiệp.” Stockman cần tự nhắc chính ông là “những kế họach ngân sách mơ tưởng” thực sự là những kế họach được tòa Nhà Trắng sản xuất ra từ năm 2009.
Tôi gặp Paul Ryan lần đầu tiên vào tháng Tư năm 2010. Tôi đã được mời đến dự môt bữa ăn tối ở Hoa Thịnh Đốn nơi mà cuộc khủng hỏang tài chính của Mỹ sẽ là đề tài thảo luận. Đề tài này dường như có tầm quan trọng hết sức đối với tôi khiến tôi nghĩ là bữa ăn tối sẽ diễn ra ở một trong những phòng hội lớn nhất của khách sạn trong thành phố. Bữa ăn thực sự diễn ra tại nhà của người chủ khỏan đãi. Có ba dân biểu xuất hiện—một dấu hiệu cho thấy văn bản tài chính “không hỏi, không nói” (về món nợ) của tổng thống đã thành công trước đó ra sao. Ryan làm tôi chóang váng. Tôi đã muốn thấy ông trong tòa Nhà Trắng kể từ khi đó.
Vẫn phải chờ xem công chúng Mỹ có sẵn sàng đón nhận cuộc chấn chỉnh sâu rộng các vấn đề tài chính của đất nước mà Ryan đề nghị hay không. Cảm giác của quần chúng rất là đối chọi với nhau. Mức độ tổng thống được chấp nhận tụt xuống còn 49 phần trăm. Chỉ Số Tin Tưởng vào Kinh Tế của viện Gallup là ở mức trừ 28 (tụt xuống từ mức trừ 13 vào tháng Năm). Nhưng Obama vẫn khít khao dẫn trước Romney trong các cuộc thăm dò về phiếu đại chúng (50.8 so với 48.2) và thỏai mái dẫn trước về Cử Tri Đòan. Các nhà thăm dò cho biết việc chỉ định Paul Ryan không tạo nên sự thay đổi trong cuộc chơi; thực vậy, ông là một chọn lựa có tầm bất trắc cao cho Romney vì có nhiều người cảm thấy áy náy về những cải tổ mà Ryan đề nghị.
Nhưng có một điều hiện ra rõ ràng. Ryan lột trần động lực của Obama ra. Điều này thành rõ ràng suốt từ khi tòa Nhà Trắng phát động tấn công Ryan vào mùa Xuân năm ngóai. Và lý do Ryan lột trần ông ta ra là vì, khác với Obama, Ryan có kế họach—trái ngược với việc chỉ có truyện—cho đất nước này.
Mitt Romney không phải là ứng cử viên giỏi nhất cho chức vụ tổng thống mà tôi có thể hình dung ra được. Nhưng ông ta rõ ràng là người giỏi nhất trong số các người Cộng Hòa ra cạnh tranh nhau chức đại diện đảng. Ông đem vào chức vụ tổng thống chính cái kinh nghiệm—cả trong thế giới doanh nghiệp cũng như trong chức vụ hành pháp—mà Obama rõ ràng là không có vào bốn năm trước đây. (Nếu mà Obama đã làm việc ở hãng Bain Capital trong vài năm, thay vì làm người tổ chức cộng đồng ở Chicago, ông ta có lẽ hiểu đúng được vì sao khu vực tư không “sinh họat tốt đẹp” vào chính lúc này.) Và qua việc chọn Ryan làm người tranh cử chung, Romney đã cho thấy một dấu hiệu thực sự đầu tiên là—khác với Obama—ông ta là một lãnh tụ can đảm không lẩn tránh những thách đố mà Mỹ phải đối diện.
Người đi bầu bây giờ đứng trước một chọn lựa rõ rệt. Họ có thể cứ để Obama lang thang, tiếp tục nói chuyện về “cái ta” của ông ấy cho đến khi họ thấy chính họ đang sống trong một hình thức Âu Châu tại Mỹ, với sự phát triển thấp kém, nạn thất nghiệp cao, ngay cả món nợ cao hơn nữa—và sự suy đồi địa chính trị thực sự.
Hoặc họ có thể chọn lấy sự thay đổi thật: lọai thay đổi sẽ kết thúc bốn năm họat động kinh tế thấp kém, chấm dứt sự gia tăng kinh hòang của món nợ, và thiết lập lại một nền móng tài chính vững chắc cho nền an ninh quốc gia của Mỹ.
Tôi đã nói điều này trước đây: chọn lựa giữa Các Tiểu Bang Kết Hợp và Cộng Hòa Tác Chiến Hoan Ca.
Tôi là kẻ thua cuộc ngoan ngõan vào bốn năm trước đây. Nhưng năm nay, bừng lên vì sự thăng tiến của Ryan, tôi rất muốn thắng. NW
Ghi Chú của CN: Một trong những điểm chính của việc dịch hay chuyển nghĩa một tài liệu là phải chuyển được đúng ý của tác giả. Những điểm chính khiến người dịch làm được như vậy là việc hiểu biết về cả hai ngôn ngữ, cách sử dụng trong mỗi ngôn ngữ, ý nghĩa của chữ thay đổi theo văn bản (context), ngữ vựng chuyên môn của một môn học hay ngành làm việc, văn hóa của người trong mỗi ngôn ngữ, v.v. Ngòai ra, tôi hết sức tránh dùng những chữ do Tàu để lại cho người Việt sau cả nghìn năm Tàu đô hộ người Việt. Không phải vì chống Tàu mà vì mỗi một dân tộc chỉ tồn tại được khi giữ được văn hóa riêng của họ và bãi bỏ–được chừng nào hay chừng ấy—những điểm văn hóa nô lệ. Chẳng hạn, gọi là “người đi bầu” thay vì “cửtri”, “ép buộc” thay vì “áp lực”, “một số nhỏ dân chúng” thay vì “thiểu số quần chúng”, “người nước ngòai” thay vì “người ngọai quốc”, “thời gian 10 năm” thay vì “thập niên”, “vị tổng thống trước” thay vì “vị tổng thống tiền nhiệm”, “làm ra” thay vì “sản xuất”…. Ngòai ra, tôi chuyển nghĩa chữ “China” sang cho đúng tên dài của “China” từ 1949 đến nay là “Trung Cộng” và chữ “liberal” (cũng có nghĩa là ‘not literal or strict’) sang cho đúng nghĩa của đường lối liberal là “phóng túng” thay vì “cấp tiến”.
*Những chữ tô đậm trong bài tiếng Việt là để giống như trong bài chính bằng tiếng Anh.
*Tổng Sản Lượng Trong Nước (Gross Domestic Product – GDP) chỉ về tổng số trị giá hàng và dịch vụ làm ra/tiêu dùng trong nước. Tổng Sản Lượng Quốc Gia (Gross National Product) = TSLTN + (Xuất Cảng– Nhập Cảng)

 

Cẩm Nguyễn

Chuyển dịch tiếng Việt

Tổng Thống không làm được lời hứa, và con đương đi đến thịnh vượng của Romney – Ryan là hy vọng duy nhất của chúng ta.

Tác giả Nial Ferguson
Tôi là kẻ thua cuộc ngoan ngõan vào bốn năm trước đây. “Trong khung cảnh lớn của lịch sử,” tôi viết vào ngày sau khi Barack Obama được bầu làm tổng thống,“bốn chục năm không phải là một thời gian thật dài. Tuy thế trong thời gian ngắn ngủi ấy nước Mỹ đã đi từ cuộc ám sát Martin Luther King Jr. đến việc thần thánh hóa Barack Obama. Bạn sẽ không là người nữa nếu bạn không thấy được điều này là một lý do cho sự vui sướng lớn lao.”
Dù đã là—xin tiết lộ hòan tòan—một cố vấn cho John McCain, tôi ghi nhận những đức tính đáng nhớ của đối thủ của ông: tài cao giọng thuyết phục đám đông, tâm tính dịu dàng không nổi nóng, và tổ chức tranh cử gần như không có gì sai lầm.
Tuy vậy câu hỏi cho cả nước vào gần như bốn năm sau không phải ai là người tranh cử giỏi hơn vào bốn năm trước mà là người thắng cử có làm được những lời đã hứa hay không. Và sự thật buồn bã là ông ta chưa làm được.
Trong diễn văn nhậm chức, Obama cam kết “không những chỉ tạo ra các công ăn việc làm mới mà còn đặt nền móng cho sự phát triển.” Ông hứa “xây đường xá và cầu, các mạng điện, các đường điện tử để nuôi sống nền thương mại của chúng ta và nối kết chúng ta lại với nhau.” Ông hứa “đưa khoa học trở lại vị trí đúng của nó và dùng những kỳ công của kỹ thuật để nâng cao phẩm chất và làm giảm phí tổn của việc chăm sóc sức khỏe.” Và ông cũng hứa “cải tiến các trường học, các trường cao đẳng và các trường đại học để đáp ứng cho những đòi hỏi của thời đại mới.” Bất hạnh thay bảng ghi điểm của tổng thống về từng lời cam kết ấy thật là đau thương.
Trong một lúc quên không thận trọng vào đầu năm nay, tổng thống tỏ lời bình phẩm là khu vực tư của nền kinh tế “đang họat động tốt.” Điều chắc chắn là thị trường chứng khóan lên cao (lên 74 phần trăm) so với lúc thị trường đóng cửa vào Ngày Nhậm Chức năm 2009. Nhưng con số tòan bộ công ăn việc làm có trong khu vực tư vẫn là 4.3 triệu ít hơn mức cao trong tháng Giêng năm 2008. Trong khi đó, kể từ 2008, con số lớn đáng sợ là 3.6 triệu người Mỹ đã được đưa thêm vào chương trình bảo hiểm tàn phế của hệ thống An Sinh Xã Hội. Đây là một trong nhiều cách để che dấu nạn thất nghiệp.
Trong ngân sách cho tài khóa 2010—ngân sách đầu tiên mà ông trình bày—tổng thống hình dung ra mức phát triển 3.2 phần trăm cho 2010, 4.0 phần trăm cho 2011, 4.6 phần trăm cho 2012. Các con số thực sự diễn ra là 2.4 phần trăm cho 2010 và 1.8 phần trăm cho 2011; không có mấy nhà phỏng định hiện nay kỳ vọng mức phát triển cho năm nay là trên 2.3 phần trăm.
Nạn thất nghiệp đúng ra phải là 6 phần trăm vào lúc này nhưng đã ở mức trung bình 8.2 phần trăm cho cả năm. Trong khi đó lợi tức thực trung bình hàng năm của mỗi gia cư đã giảm đi hơn 5 phần trăm kể từ tháng Sáu năm 2009. Gần 110 triệu người đã lãnh lợi tức an sinh trong năm 2011, phần lớn là trợ cấp sức khỏe (Medicaid) hoặc là phiếu mua thức ăn.
Chào đón qúy vị vào Nước Mỹ của Obama: gần một nửa dân số Mỹ không phải đóng thuế–gần đúng tỷ lệ sống trong một gia cư trong đó có ít nhất là một người nhận được một lọai trợ cấp nào đó của chính quyền. Chúng ta đang thành một quốc gia 50/50 một nửa trong chúng ta đóng các lọai thuế còn nửa kia nhận các lọai trợ cấp.
Và tất cả như vậy bất chấp món nợ của liên bang trở thành lớn hơn những gì chúng ta được cam kết. Theo ngân sách năm 2010, món nợ của chính quyền tính theo tỷ lệ với Tổng Sản Lượng Trong Nước (TSLTN) là phải giảm từ 67 phần trăm vào năm 2010 xuống thấp hơn 66 phần trăm vào năm nay. Ước gì được như vậy. Đến cuối năm nay, theo Sở Ngân Sách Của Quốc Hội (SNSQH) món nợ của chính quyền sẽ lên tới 70 phần trăm TSLTN. Tuy nhiên những con số nói trên đã diễn tả nhỏ đi rất nhiều nỗi khó khăn do món nợ gây ra. Tỷ lệ đáng chú ý là tỷ lệ của món nợ tính trên số thu họach. Tỷ lệ này đã nhảy vọt từ 165 phần trăm vào năm 2008 lên 262 phần trăm vào năm nay, theo các con số lấy từ Qũy Tiền Tệ Quốc Tế (QTTQT). Trong tất cả những nền kinh tế đã phát triển, chỉ có Ái Nhĩ Lan và Tây Ban Nha là có sự suy đồi lớn hơn.
Không những cuộc kích thích tài khóa đã phai nhạt đi ngay từ đầu sau khi viên thuốc bọc đường ấy được đưa ra vào năm 2009 mà ông tổng thống thì đã hòan tòan không làm gì để khép lại khỏang cách dài hạn giữa món chi tiêu và món thu nhập.
Cuộc cải cách chăm sóc sức khỏe đầy huênh hoang của tổng thống sẽ không ngăn chặn được sự gia tăng chi tiêu trong các chương trình chăm sóc sức khỏe từ mức trên 5 phần trăm của TSLTN vào hôm nay lên đến gần 10 phần trăm vào năm 2037. Cộng thêm các phí tổn gia tăng dự phỏng cho qũy An Sinh Xã Hội và qúy vị sẽ thấy một phiếu chi tiêu tổng cộng là 16 phần trăm TSLTN vào 25 năm kể từ bây giờ. Con số này chỉ nhỏ hơn chút xíu số phí tổn trung bình của tất cả các chương trình và các họat động của chính phủ liên bang, không kể đến số tiền lời phải trả, trong 40 năm qua. Theo các chính sách của tổng thống hiện nay, món nợ của liên bang đang trên đường lên tới 200 phần trăm của TSLTN vào năm 2037-một núi nợ khiến mức phát triển bị giảm xuống nhiều hơn nữa.
Và ngay cả con số trên cũng diễn tả nhỏ đi gánh nặng thực sự của món nợ. Số dự phỏng gần đây nhất về sự khác biệt giữa trị giá hiện tại nét của các món nợ liên bang và trị giá hiện tại nét của những món thu nhập của liên bang—cái mà nhà kinh tế Larry Kotlikoff gọi là “khoảng cách tài chính” thật là 222 nghìn tỉ đô la ($222 trillion).
Những người ủng hộ Tổng Thống sẽ: dĩ nhiên rồi, bảo rằng sự sinh họat tồi tệ của nền kinh tế không thể quy vào cho ông ta được. Họ thường chỉ tay vào vị tổng thống trước ông, hay những nhà kinh tế mà ông chọn để cố vấn cho ông, hoặc (thị trường chứng khóan) Wall Street, hoặc Âu Châu—nghĩa là bất cứ ai ngòai người đàn ông trong tòa Nhà Trắng.
Có một chút sự thực trong điều này. Khá khó mà đoán được những gì sẽ xảy ra cho nền kinh tế vào những năm sau năm 2008. Tuy thế chắc chắn chúng ta có thể quy trách đúng vào tổng thống về những lỗi lầm chính trị trong bốn năm qua. Rốt cuộc, công việc của tổng thống là điều hành ngành hành pháp một cách hữu hiệu—lãnh đạo quốc gia. Và đây là phạm vi mà sự thất bại của ông là lớn nhất.
Trên giấy tờ thì thấy có một đội đáng mơ ước về kinh tế: Larry Summers, Christina Romer, và Austan Goolsbee, ấy là chưa kể đến Peter Orszag, Tim Geithner, và PaulVolcker. Tuy thế, chuyện bên trong cho biết tổng thống hòan tòan không có khả năng điều hành những bộ óc hùng mạnh—và những cái ta—mà ông đã tụ tập lại để cố vấn cho ông.
Theo cuốn Confidence Men của Ron Suskind, Summers bảo Orszag trong bữa ăn tối vào tháng Năm năm 2009: “Anh biết không, Peter, chúng ta ở nhà một mình … Tôi nói đúng vậy đấy. Chúng ta ở nhà một mình. Không có người lớn lo liệu. Clinton thường không bao giờ làm những lỗi lầm này (không nhất quyết về những vấn đề kinh tế quan trọng).” Từ vấn đề này sang vấn đề khác, theo Suskind, Summers đã gạt bỏ lời của tổng thống. “Anh không thể chỉ tiến vào và nói lên lập luận của anh rồi để cho ông ta làm quyết định,” Summers bảo Orszag, “vì ông ta không biết ông ta đang quyết định cái gì.” (Tôi đã nghe nhiều điều tương tự nói ngòai lề bởi những người tham dự chính trong cuộc “hội thảo” lê thê không dứt của tổng thống về chính sách đối với Afghanistan.)
Vấn đề này vượt ra ngòai tòa Nhà Trắng nữa. Sau nền tổng thống đế vương thời Bush, có một cái gì giống nhiều hơn với thể chế chính quyền đại nghị trong hai năm đầu tiên của chính phủ Obama. Tổng thống đề nghị, Quốc Hội bác bỏ. Chính Nancy Pelosi và bè nhóm của bà đã viết ra dự luật kích thích kinh tế và nhất quyết nhét vào đó đầy những món xôi thịt chính trị. Và chính những đảng viên Dân Chủ trong Quốc Hội—cầm đầu bởi Christopher Dodd và Barney Frank—đã sọan ra Đạo Luật Cải Cách Wall Street và Bảo Vệ Người Tiêu Thụ (gọi tắt là Dodd-Frank) dầy 2,319 trang, một thí dụ gần như tòan hảo cho thấy sự rối rắm quá mức trong việc kiểm sóat. Đạo luật đòi những người làm việc kiểm sóat phải tạo ra 243 quy luật, làm 67 cuộc nghiên cứu, và đưa ra 22 bản tường trình định kỳ. Luật lọai bỏ một nhà kiểm sóat và tạo ra hai nhà kiểm sóat mới.
Đã năm năm từ khi cuộc khủng hỏang tài chính bắt đầu, nhưng những vấn đề chính—sự tập trung tài chính qúa mức và sự thúc đẩy tài chính qúa mức— vẫn chưa được xét đến.
Ngày nay, chỉ có 10 cơ quan tài chính lớn quá không thể đổ được là có trách nhiệm về ba phần tư tổng số các tài sản tài chính đang quản trị tại Mỹ. Tuy thế, những ngân hàng lớn nhất trong nước thiếu ít nhất là 50 tỉ đô la thì mới đáp ứng được những đòi hỏi mới về vốn theo thỏa hiệp “Basel III” lo toan về sự đủ vốn của ngân hàng.
Và đến việc chăm sóc sức khỏe. Không ai lại không chắc rằng hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ cần phải được cải tiến. Nhưng Đạo Luật Bảo Vệ Người Bệnh và Chăm Sóc Sức Khỏe Vừa Túi Tiền (ACA) của năm 2010 đã chẳng làm gì để ứng phó với những tệ hại chính của hệ thống: sự bộc phát trong dài hạn các phí tổn y tế Medicare vào lúc thế hệ được sinh đẻ thật nhiều ra sau chiến tranh (baby boomers) về hưu, mô thức “trả tiền khi khám bệnh” đẩy vọt tình trạng lạm phát về chăm sóc sức khỏe, sự móc nối công việc làm vào với bảo hiểm đã giải thích vì sao quá nhiều người Mỹ không có bảo hiểm sức khỏe, và những phí tổn quá mức về bảo hiểm trách nhiệm mà các bác sĩ của chúng ta cần có để bảo vệ chính họ trước các luật sư của chúng ta.
Trái ngược thay, điểm chủ chốt của Obamacare là “mệnh lệnh cho cá nhân” (đòi tất cả mọi người Mỹ phải mua bảo hiểm sức khỏe nếu không thì bị phạt) là cái mà chính tổng thống đã chống đối trong khi ông đang tranh đua với Hillary Clinton để được đảng Dân Chủ chỉ định ra tranh cử. Một chữ chính xác hơn rất nhiều sẽ là “Pelosicare,” vì chính bà Pelosi là người đã thực sự đẩy bản dự luật qua Quốc Hội.
Pelosi không phải chỉ là một tai họa về chính trị. Các cuộc thăm dò ý kiến liên tục cho thấy chỉ có một số nhỏ dân chúng thích luật ACA, và đó là lý do chính tại sao những người Cộng Hòa lấy lại được quyền kiểm sóat Hạ Viện vào năm 2010. Luật đó cũng lại là một rối lọan nữa về tài chính. Tổng thống đóan chắc rằng sự cải tổ về chăm sóc sức khỏe sẽ không làm tăng thêm lấy một xu vào sự thâm thụt ngân sách. Nhưng CBO (Sở Ngân Sách Của Quốc Hội) và Ủy Ban Liên Hợp về Thuế hiện nay phỏng định rằng các điều khỏan trả tiền bảo hiểm sức khỏe trong luật ACA sẽ tạo ra một phí tổn nét là gần 1.2 nghìn tỉ đô la trong thời kỳ 2012 – 22.
Tổng thống cứ tiếp tục tránh né vấn đề tài khóa. Thành lập xong tổ chức lưỡng đảng Ủy Hội Tòan Quốc về Trách Nhiệm Tài Khóa và Cải Tiến, cầm đầu bởi thượng nghị sĩ đã về hưu Alan Simpson thuộc đảng Cộng Hòa ở Wyoming và ông Erskine Bowles, cựu chánh văn phòng của Clinton, Obama đã dẹp sang một bên một cách hữu hiệu những đề nghị của Ủy Hội về việc cắt bỏ chi tiêu khỏang 3 nghìn tỉ đô la và tăng thu 1 nghìn tỉ đô la trong thời gian mười năm sắp tới. Kết qủa là không có một “thương lượng lớn” nào với phía Cộng Hòa ở Hạ Viện—điều này có nghĩa là, trừ khi có một phép lạ nào xảy đến, quốc gia sẽ đến bờ vực thẳm tài chính vào ngày 1 tháng Giêng khi mà chương trình giảm thuế của Bush hết hạn và sự áp đặt những cắt bỏ chi tiêu tự động tòan bộ các lọai của con số cắt giảm 1.2 nghìn tỉ đô la phải thi hành. Sở CBO phỏng định hiệu quả nét có thể là sản lượng bị giảm đi 4 phần trăm.
NHỮNG THẤT BẠI về lãnh đạo trong chính sách kinh tế và tài chính trong bốn năm qua đã có những hậu quả về địa-chính-trị. Ngân Hàng Thế Giới kỳ vọng Mỹ chỉ phát triển được ở mức 2 phần trăm cho năm 2012. Trung Cộng sẽ phát triển nhanh hơn gấp 4 lần mức đó; Ấn Độ nhanh hơn gấp 3 lần. Đến năm 2017, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế dự đóan, TSLTN của Trung Cộng sẽ vượt qua TSLTN của Mỹ.
Trong khi đó, chiếc xe lửa tài chính bể nát đã bắt đầu thủ tục cắt giảm lớn lao trong ngân sách quốc phòng, ở vào một điểm thời gian khó mà thấy rõ được là thế giới đã trở thành một nơi an tòan hơn—ít nhất là ở vùng Trung Đông.
Đối với tôi, sự thất bại lớn nhất của tổng thống là đã không cân nhắc kỹ về những ám hiệu thách đố quyền lực của Mỹ. Không màng đưa ra một chiến lược thích ứng, ông tin—có lẽ thấy phấn khởi vì sớm được giải thưởng non Hòa Bình Nobel—rằng tất cả những gì ông cần làm chỉ là đọc trên khắp thế giới những diễn văn khích động tâm hồn để giải thích cho người nước ngòai biết rằng ông không phải là George W. Bush.
Tại Đông Kinh trong tháng Mười Một năm 2009, tổng thống đã đọc một diễn văn nẩy lửa yêu-thương-người-nước-ngòai: “Trong một thế giới liên kết với nhau, quyền lực không cần phải là một trò chơi được-thua, và các nước không cần phải sợ sự thành công của một nước khác … Mỹ không cần ngăn chặn Trung Cộng … Trái lại, sự xuất hiện của một Trung Cộng mạnh mẽ, thịnh vượng có thể là nguồn sức mạnh cho cộng đồng các nước.” Thế mà đến mùa thu năm 2011, đường lối này đã bị vứt bỏ để “chuyển trở lại” chiến lược Thái Bình Dương, gồm cả những cuộc đóng quân đáng buồn cười ở Úc và Tân Gia Ba. Trên quan điểm của Bắc Kinh, cả hai đường lối này đều không có gì đáng tin cả.
Diễn văn của ông tại Cairo vào ngày 4 tháng Sáu năm 2009 là một nỗ lực thật vụng về nhằm lấy tình thương cho ông nhưng đã chứng tỏ là sự khởi đầu cho cuộc cách mạng trong vùng. “Tôi rất vinh hạnh mang theo với tôi,” ông nói với người Ai Cập, “lời chào mừng hòa bình từ các cộng đồng Hồi giáo ở nước tôi: Assalumu alaikum … Tôi đến đây … để tìm một khởi đầu mới giữa Mỹ và những người Hồi giáo trên thế giới, cái đặt … trên sự thật là Mỹ và Hồi giáo không bãi bỏ nhau và không cần cạnh tranh với nhau.”
Tin rằng vai trò của ông là bác bỏ đường lối bảo thủ mới, Obama đã hòan tòan lỡ mất ngọn sóng cách mạng dân chủ ở Trung Đông—chính là làn sóng mà những người bảo thủ mới đã hy vọng sẽ bộc phát với cuộc lật đổ Saddam Hussein ở Iraq. Khi cách mạng nổ ra—trước hết tại Ba Tư, rồi tại Tunisia, Ai Cập, Libya, và Syria—tổng thống đứng trước những chọn lựa rõ rệt. Ông có thể cố gắng bắt ngọn sóng bằng cách ủng hộ những người cách mạng trẻ và gắng cưỡi ngọn sóng ấy theo một chiều hướng thuận lợi cho các quyền lợi của Mỹ. Hoặc là ông có thể chẳng làm gì hết và để những thế lực đối nghịch chế ngự.
Trong trường hợp Ba Tư, ông chẳng làm gì hết và những kẻ bạo tàn của nước Cộng Hòa Hồi Giáo đã nghiền nát các cuộc biểu tình một cách không gớm tay. Tại Syria cũng vậy. Tại Libya, ông bị dụ ngọt vào sự can thiệp. Tại Ai Cập ông gắng làm cả hai bên, ép buộc Tổng Thống Ai Cập Hosni Mubarak ra đi, rồi rút lại và đề nghị một “cuộc chuyển giao có thứ tự.” Kết quả là sự thất bại trong đường lối ngọai giao một cách nực cười đáng phỉ nhổ. Không những giới tinh nhuệ của Ai Cập thấy ngỡ ngàng trước sự phản bội, mà những kẻ chiến thắng—nhóm Anh Em Hồi Giáo—chẳng có gì phải mang ơn cả. Các đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở Trung Đông—Do Thái và Saudis—trố mắt ngỡ ngàng.
“Đây là chuyện xảy ra khi ta bị ngạc nhiên,” một viên chức Mỹ dấu tên đã nói như vậy với The New York Times vào tháng Hai năm 2011. “Chúng tôi đã có những cuộc họp chiến lược lê thê không đi đến kết luận trong hai năm qua về hòa bình ở Trung Đông, về ngăn chặn Ba Tư. Và bao nhiêu trong những cuộc họp đó đã đụng đến việc Ai Cập có thể đi từ ổn định sang rối lọan? Chẳng có cuộc họp nào hết.”
Điều đáng lưu ý là tổng thống được cho là tương đối mạnh về an ninh quốc gia. Cho đến nay công chúng vẫn lầm lẫn giữa chuyện chính quyền của tổng thống tha hồ dùng việc ám sát chính trị với việc cần có một chính sách có lớp lang. Theo Phòng Điều Tra Báo Chí ở Luân Đôn, tỉ số thường dân bị máy bay không người lái giết chết là 16 phần trăm vào năm ngóai. Bạn hãy tự hỏi giới truyền thông phóng túng sẽ cư xử ra sao nếu George W. Bush đã dùng máy bay không người lái kiểu này. Đến nay vẫn chỉ có các ngọai trưởng Cộng Hòa bị tố cáo là “tội phạm chiến tranh” mà thôi.
Tội ác thật sự là chương trình ám sát làm mất đi tin tình báo có tầm tối trọng (cũng như là làm người địa phương bất mãn) mỗi khi một máy bay không người lái tấn công. Chương trình này tiêu biểu cho quyết định của chính phủ bỏ rơi việc chống nổi lọan để lấy việc chống khủng bố chật hẹp. Điều có nghĩa trên thực tế là sự bỏ rơi không những chỉ có bỏ rơi Iraq mà chẳng mấy chốc cả Afghanistan nữa. Bởi thế mới hiểu được rằng các đàn ông và đàn bà phục vụ ở những nơi ấy tự hỏi sự hy sinh của họ là cho đích xác cái gì, nếu có ý niệm là chúng ta đang xây dựng quốc gia thì ý niệm ấy đã bị lẳng lặng vứt đi rồi. Chỉ khi cả hai nước trên chìm đắm trở lại vào nội chiến thì chúng ta mới thấy được cái giá thật sự của chính sách đối ngọai của Obama.
Nước Mỹ dưới quyền tổng thống này là một siêu cường thụt lùi, nếu không nói là tháo lui. Ít lấy làm lạ là 46 phần trăm dân Mỹ–và 63 phần trăm dân Tàu—tin rằng Trung Cộng đã thay Mỹ làm siêu cường hàng đầu của thế giới hoặc cuối cùng rồi cũng sẽ như vậy.
Một dấu hiệu về cách thức mà Barack Obama đã hòan tòan “đánh mất câu chuyện” từ khi được bầu lên là việc ông dùng cái hay nhất mà ông kiếm được cho việc ứng cử lại của ông là nói rằng Mitt Romney không nên là tổng thống. Trong diễn văn dơ dáy“các bạn đã không gây dựng nên cái đó” mà ai cũng đã biết, Obama kê khai ra những gì mà ông coi là các thành quả lớn nhất của chính quyền lớn: In-tơ-nét (internet, CN), GI Bill (luật trợ cấp cựu chiến binh, CN), cầu Golden Gate, đập nước Hoover, cuộc đổ bộ lên mặt trăng của phi thuyền Apollo, và ngay cả (thật lạ lùng) sự tạo thành giai cấp trung lưu. Buồn thay, ông đã không đề cập được đến bất cứ gì tương xứng mà chính phủ của ông đã đạt được.
Bây giờ Obama phải đầu-đối-đầu với đối thủ của ông: một nhà chính trị tin vào thực chất nhiều hơn là hình thức, cải tiến nhiều hơn là nói năng. Trong những ngày qua đã có nhiều bài viết về Dân Biểu Paul Ryan của Wisconsin, người được Mitt Romney chọn làm ứng cử viên chung của ông. Tôi biết, thích, và khâm phục Paul Ryan. Đối với tôi, điều về ông là đơn giản. Ông là một trong vài nhà chính trị đếm được trên đầu ngón tay ở Hoa Thịnh Đốn mà thật sự thành thực trong việc đối phó với cuộc khủng hỏang tài chính trong nước.
Trong hai năm qua chương trình “Con Đường Đi Đến Thịnh Vượng” của Ryan đã diễn tiến ra, nhưng những điểm chính là rõ ràng: thay thế Medicare bằng một chương trình phiếu thanh thỏa giành cho những người hiện giờ dưới 55 tuổi (không phải những người hiện đang nhận hay sắp nhận Medicare), chuyển Medicaid và phiếu mua thức ăn thành các qũy liên bang cho tiểu bang tùy tiện sử dụng, và—điều tối quan hệ–làm đơn giản hóa luật thuế và hạ thấp mức thuế để gắng bơm ít sinh lực kinh-tế-theo-ngành-cung vào trở lại khu vực tưcủa Mỹ.
Ryan không thuyết giảng về khắc khổ. Ông thuyết giảng về phát triển. Và cho dù những người cựu thời Reagan như David Stockman có thể có những nghi ngờ, họ đều ước định thấp sự quán triệt đề tài này của Ryan. Hiển nhiên là không có ai ở Hoa Thịnh Đốn hiểu về những thách đố cho cuộc cải cách tài chính rõ hơn là Ryan.
Cũng quan trọng như vậy, Ryan đã học được rằng chính trị là nghệ thuật về sự có thể. Có những phần trong chương trình của ông mà ông nhấn nhẹ vào bàn đạp một cách dễ hiểu ngay lúc này—đáng để ý là nguồn mới của món thu nhập của liên bang được nói đến trong chương trình “Đường Đến Tương Lai của Mỹ” là một “thuế tiêu thụ doanh nghiệp.” Stockman cần tự nhắc chính ông là “những kế họach ngân sách mơ tưởng” thực sự là những kế họach được tòa Nhà Trắng sản xuất ra từ năm 2009.
Tôi gặp Paul Ryan lần đầu tiên vào tháng Tư năm 2010. Tôi đã được mời đến dự môt bữa ăn tối ở Hoa Thịnh Đốn nơi mà cuộc khủng hỏang tài chính của Mỹ sẽ là đề tài thảo luận. Đề tài này dường như có tầm quan trọng hết sức đối với tôi khiến tôi nghĩ là bữa ăn tối sẽ diễn ra ở một trong những phòng hội lớn nhất của khách sạn trong thành phố. Bữa ăn thực sự diễn ra tại nhà của người chủ khỏan đãi. Có ba dân biểu xuất hiện—một dấu hiệu cho thấy văn bản tài chính “không hỏi, không nói” (về món nợ) của tổng thống đã thành công trước đó ra sao. Ryan làm tôi chóang váng. Tôi đã muốn thấy ông trong tòa Nhà Trắng kể từ khi đó.
Vẫn phải chờ xem công chúng Mỹ có sẵn sàng đón nhận cuộc chấn chỉnh sâu rộng các vấn đề tài chính của đất nước mà Ryan đề nghị hay không. Cảm giác của quần chúng rất là đối chọi với nhau. Mức độ tổng thống được chấp nhận tụt xuống còn 49 phần trăm. Chỉ Số Tin Tưởng vào Kinh Tế của viện Gallup là ở mức trừ 28 (tụt xuống từ mức trừ 13 vào tháng Năm). Nhưng Obama vẫn khít khao dẫn trước Romney trong các cuộc thăm dò về phiếu đại chúng (50.8 so với 48.2) và thỏai mái dẫn trước về Cử Tri Đòan. Các nhà thăm dò cho biết việc chỉ định Paul Ryan không tạo nên sự thay đổi trong cuộc chơi; thực vậy, ông là một chọn lựa có tầm bất trắc cao cho Romney vì có nhiều người cảm thấy áy náy về những cải tổ mà Ryan đề nghị.
Nhưng có một điều hiện ra rõ ràng. Ryan lột trần động lực của Obama ra. Điều này thành rõ ràng suốt từ khi tòa Nhà Trắng phát động tấn công Ryan vào mùa Xuân năm ngóai. Và lý do Ryan lột trần ông ta ra là vì, khác với Obama, Ryan có kế họach—trái ngược với việc chỉ có truyện—cho đất nước này.
Mitt Romney không phải là ứng cử viên giỏi nhất cho chức vụ tổng thống mà tôi có thể hình dung ra được. Nhưng ông ta rõ ràng là người giỏi nhất trong số các người Cộng Hòa ra cạnh tranh nhau chức đại diện đảng. Ông đem vào chức vụ tổng thống chính cái kinh nghiệm—cả trong thế giới doanh nghiệp cũng như trong chức vụ hành pháp—mà Obama rõ ràng là không có vào bốn năm trước đây. (Nếu mà Obama đã làm việc ở hãng Bain Capital trong vài năm, thay vì làm người tổ chức cộng đồng ở Chicago, ông ta có lẽ hiểu đúng được vì sao khu vực tư không “sinh họat tốt đẹp” vào chính lúc này.) Và qua việc chọn Ryan làm người tranh cử chung, Romney đã cho thấy một dấu hiệu thực sự đầu tiên là—khác với Obama—ông ta là một lãnh tụ can đảm không lẩn tránh những thách đố mà Mỹ phải đối diện.
Người đi bầu bây giờ đứng trước một chọn lựa rõ rệt. Họ có thể cứ để Obama lang thang, tiếp tục nói chuyện về “cái ta” của ông ấy cho đến khi họ thấy chính họ đang sống trong một hình thức Âu Châu tại Mỹ, với sự phát triển thấp kém, nạn thất nghiệp cao, ngay cả món nợ cao hơn nữa—và sự suy đồi địa chính trị thực sự.
Hoặc họ có thể chọn lấy sự thay đổi thật: lọai thay đổi sẽ kết thúc bốn năm họat động kinh tế thấp kém, chấm dứt sự gia tăng kinh hòang của món nợ, và thiết lập lại một nền móng tài chính vững chắc cho nền an ninh quốc gia của Mỹ.
Tôi đã nói điều này trước đây: chọn lựa giữa Các Tiểu Bang Kết Hợp và Cộng Hòa Tác Chiến Hoan Ca.
Tôi là kẻ thua cuộc ngoan ngõan vào bốn năm trước đây. Nhưng năm nay, bừng lên vì sự thăng tiến của Ryan, tôi rất muốn thắng. NW
Ghi Chú của CN: Một trong những điểm chính của việc dịch hay chuyển nghĩa một tài liệu là phải chuyển được đúng ý của tác giả. Những điểm chính khiến người dịch làm được như vậy là việc hiểu biết về cả hai ngôn ngữ, cách sử dụng trong mỗi ngôn ngữ, ý nghĩa của chữ thay đổi theo văn bản (context), ngữ vựng chuyên môn của một môn học hay ngành làm việc, văn hóa của người trong mỗi ngôn ngữ, v.v. Ngòai ra, tôi hết sức tránh dùng những chữ do Tàu để lại cho người Việt sau cả nghìn năm Tàu đô hộ người Việt. Không phải vì chống Tàu mà vì mỗi một dân tộc chỉ tồn tại được khi giữ được văn hóa riêng của họ và bãi bỏ–được chừng nào hay chừng ấy—những điểm văn hóa nô lệ. Chẳng hạn, gọi là “người đi bầu” thay vì “cửtri”, “ép buộc” thay vì “áp lực”, “một số nhỏ dân chúng” thay vì “thiểu số quần chúng”, “người nước ngòai” thay vì “người ngọai quốc”, “thời gian 10 năm” thay vì “thập niên”, “vị tổng thống trước” thay vì “vị tổng thống tiền nhiệm”, “làm ra” thay vì “sản xuất”…. Ngòai ra, tôi chuyển nghĩa chữ “China” sang cho đúng tên dài của “China” từ 1949 đến nay là “Trung Cộng” và chữ “liberal” (cũng có nghĩa là ‘not literal or strict’) sang cho đúng nghĩa của đường lối liberal là “phóng túng” thay vì “cấp tiến”.
*Những chữ tô đậm trong bài tiếng Việt là để giống như trong bài chính bằng tiếng Anh.
*Tổng Sản Lượng Trong Nước (Gross Domestic Product – GDP) chỉ về tổng số trị giá hàng và dịch vụ làm ra/tiêu dùng trong nước. Tổng Sản Lượng Quốc Gia (Gross National Product) = TSLTN + (Xuất Cảng– Nhập Cảng)

 

Cẩm Nguyễn

Chuyển dịch tiếng Việt

This entry was posted in Bình luận. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s