Nguyễn Thu Trâm – Đôi điều gởi đến lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam

Nguyễn Thu Trâm – Với tư cách là một công dân của nước Việt Nam có một phần trách nhiệm với vận mệnh của đất nước và sự tồn vong của giống nòi, nhưng không có cơ hội được trực tiếp gặp các ông để đề đạt những nguyện vọng của tôi, nên tôi xin được gởi những tâm tư này đến các ông: Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng cùng các lãnh đạo khác của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam.
Thưa các ông, 
Trước hết, tôi xin được làm rõ một vấn đề mà chắc là các ông đang có một sự nhầm lẫn nào đó trong tư duy, dẫn đến việc trị nước chăn dân của các ông đi từ sai lầm này đến sai làm khác trong suốt thời gian đảng cộng sản các ông năm quyền cai trị đất nước, khiến cho nhân tâm ly loạn, đồng bào thống khổ, đói rách và luôn sống trong tâm trạng bất an bởi vì họ không biết khi nào thì đến lượt họ bị bắt giam bị đánh đập tra tấn cho đến chết, hoặc bị mất tích sau khi công an bắt đi. Việc đó khiến cho toàn dân luôn sợ hãi mà phải câm lặng ngay cả khi nhìn thấy một đại họa mất nước đang cận kề. Vậy, điều mà tôi muốn làm sáng tỏ hôm nay, ấy là: “ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM LÀ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, KHÔNG PHẢI CHỈ RIÊNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN, HAY CỦA CÁC ÔNG”. 
Vậy mà một số nhân sỹ, trí thức sinh viên học sinh và các sỹ phu yêu nước chỉ vì thể hiện trách nhiệm của mình, là một công dân, trước hiện tình của đất nước mà đã bị bắt bớ giam cầm một cách hết sức độc đoán, phi lý và bất công:
Trước hết chúng tôi xin nhắc lại với các ông về chính những người cộng sản của các ông, nhưng khi họ nhận ra những sai lầm của chế độ cộng sản đã đưa dân tộc Việt Nam cận kề với bờ vực diệt vong, họ đề xuất với đảng cộng sản, với các ông về những cải tổ cần thiết để cứu nguy cho dân tộc thì lập tức họ bị các ông giam cầm bằng rất nhiều hình thức mà không ít những người có tâm huyết với dân tộc đó đã chết một cách oan nghiệt trong các nhà tù nhỏ cũng như nhà tù lớn:
1. Tướng Trần Độ khi nhận thấy những hiểm họa mà chế độ công sản đã và đang mang đến cho dân tộc, Trần Độ đã đề xuất với đảng cộng sản, và với các ông rằng: “Đảng Cộng sản phải tự mình từ bỏ chế độ độc đảng, toàn trị, khôi phục vai trò, vị trí vốn có của Quốc hội, Chính phủ. Phải thực hiện đúng Hiến pháp, tức là sửa chữa các đạo luật chưa đúng tinh thần Hiến pháp. Đó là phải có những đạo luật ban bố quyền tự do lập hội, lập đảng, tự do ngôn luận, luật báo chí, xuất bản. Sửa chữa các luật bầu cử ứng cử tự do, từ bỏ quyền quyết định của cơ quan tổ chức Đảng, trừ bỏ “hiệp thương” mà thực chất là gò ép”. Nếu các ông thực sự là những “vua sáng” biết nghe theo lời can gián của “tôi hiền” thì đất nước Việt Nam đâu có loạn lạc đến mức này. Và điều gì đã xảy ra cho tướng Trần Độ, thì các ông đã biết rõ: Bị quản thúc tại gia cho đến chết. Và ngay cả trong đám tang của tướng Trần Độ các ông cũng còn tiếp tục làm nhục người đã khuất bằng vô số những việc là bất nhân, thất đức của những kẻ mang trong mình dòng máu cộng sản!
2. Một đại công thần của chế độ cộng sản Việt Nam là cụ Hoàng Minh Chính, người đã có công lớn trong việc xây dựng ngai vàng cho các ông, nhưng đến khi nhận thức được những sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa cộng sản, của học thuyết Karl Marx và Friedrich Engels mà đề xuất những cải tổ nhằm cứu nguy cho dân tộc, thì cũng đã bị đảng cộng sản các ông quy kết tội xét lại, chống đảng và vào những năm 1967-1973, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ông đi tập trung cải tạo mà thực chất là tù đày, chỉ vì ông thực sự yêu nước, muốn chấn hưng đất nước và đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi họa cộng sản. Việc cụ Hoàng Minh Chính đã giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động của những người bất đồng chính kiến: đã vận động lấy chữ ký đòi hủy bỏ điều 4 của Hiến pháp Việt Nam và nghị định số 31/CP, tìm cách phát triển lực lượng, cùng với Phạm Quế Dương, Trần Khuê và những nhân sỹ, trí thức bất đồng chính kiến khác, phục hoạt đảng Dân Chủ nhằm tiến tới xây dựng một chế độ chính trị đa nguyên, đa đảng hầu mọi người dân Việt Nam đều được thụ hưởng trọn vẹn các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền theo như Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc 1948 và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã tham gia ký kết – Đó thực sự là một việc làm vì quyền lợi chính đáng của dân tộc Việt Nam và vì sự tồn vong của Tổ Quốc Việt Nan. Nếu chính phủ cộng sản của các ông hiện nay thực sự là của dân, do dân và vì dân thì các ông đã tiếp thu những đề xuất của cụ Hoàng Minh Chính, đã chấp nhận những cải tổ về chế độ chính trị, đã hủy bỏ điều 4 hiến pháp, hủy bỏ quyền lãnh đạo đất nước của đảng cộng sản, chấp nhận tiếng nói đa nguyên nhằm từng bước xây dựng một chính phủ Việt Nam theo chính thể cộng hòa để có thể phát huy tối đa nguồn nhân lực trong và ngoài nước với sự đóng góp trí lực của nhiều sỹ phu từ các đảng phái chính trị trong nước thì là sao dân chẳng thịnh, nước chẳng cường. Nhưng thật bất hạnh cho dân tộc Việt Nam thời cộng sản, bởi đất nước đang bị thống trị bởi những con người cộng sản u tối và mê cuồng quyền lực thống trị, nên chẳng bao giờ biết nghe lời can gián của hiền sỹ, để cho đất nước tiếp tục tụt hậu, nhược tiểu dân chúng tiếp tục sống đời lầm than.
3. Nhiều nhân sỹ trí thức, các nhà yêu nước, các lãnh tụ tinh thần tôn giáo hiện đang bị quản thúc hay vẫn đang bị chế độ công sản các ông giam cầm như Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Linh Mục Nguyễn Văn Văn Lý, Trung tá Trần Anh Kim, Tiến Sỹ Cù Huy Hà Vũ, Luật Sư Lê Công Định, Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long, Trần Huỳnh Duy Thức, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyên Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Hồ Thị Bích Khương, mục sư Đỗ Trung Tôn… Rồi đến bản án dành cho các nhà báo tự do Điếu Cày, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải hôm 24 tháng 9 năm 2012… và cả những vụ bắt giữ gần đây đối với các nhạc sỹ trẻ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, và mới nhất là vụ bắt cóc nữ sinh Nguyễn Phương Uyên hôm Chúa Nhật 14 tháng 10 năm vừa qua là một sai lầm nghiêm trọng của đảng cộng sản các ông, là một vết ô nhục không thể nào tẩy xóa được trong lịch sử cai trị của đảng cộng sản đối với đất nước và dân tộc Việt Nam bởi những người bị bắt bớ, bị xét xử rồi bị kết án và bị tù đày là những người yêu nước, còn những kẻ xét xử rồi kết án và giam cầm, quản thúc họ là những kẻ đang mang họa hại đến cho dân tộc và đang làm đất nước điêu tàn.
Xin được nhắc các ông rằng: Vua ví như thuyền; dân ví như nước; nước chở được thuyền thì cũng lật được thuyền. Cho nên, các ông là những kẻ nắm quyền cai trị nếu muốn được an vị, thì chẳng còn cách nào hay bằng, thực hiện chính trị hòa bình và phải biết kính trọng người dân.
Xin các ông hãy thử nhìn lại xuyên suốt lịch sử cai trị của đảng cộng sản, đã có bao giờ các ông biết yêu nước biết kính trọng nhân dân chưa hay cứ đi từ sai lầm này đến sai lầm khác?
Việc du nhập chủ nghĩa cộng sản về để đấu tranh giành độc lập là một sai lầm của ông Hồ Chí Minh, bởi cái giá mà đảng cộng sản buộc dân tộc Việt Nam phải trả cho cái nền độc lập mà không tự do đó là quá đắc, bởi xu thế của thời đại mới bắt đầu từ thế kỷ 20 là xu thế chấm dứt chế độ thực dân, xóa bỏ hoàn toàn chế độ thuộc địa, tất cả các xứ thuộc địa đều được trao trả độc lập mà không phải đổ một giọt máu. Còn Việt Nam ngoài 2 triệu người phải chết đói vào tháng 3 năm Ất Dậu 1945, thì trong các cuộc chiến đấu với quân đội Viễn Chinh Pháp, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản và Việt Minh từ ngày 22 tháng 12 năm 1944 cho đến chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 07 tháng 5 năm 1954, với chiến lược biển người, đảng cộng sản các ông cũng đã nướng không dưới 1 triệu vệ quốc quân trong các lực lượng quân sự của Việt Minh. Xin một lần các ông hãy so sánh, một nền độc lập đánh đổi bằng khoảng 3 triệu sinh mạng và vô số tài sản với một nền độc lập mà không phải đánh đổi bằng một giọt máu nào. Phải chăng đây là cái xuẩn động và sai lầm nhất của Hồ Chí Minh và của đảng cộng sản hay không?
Việc Hồ Chí Minh ký kết Hiệp định Geneva để chia cắt đất nước làm hai miền là một sai lầm thứ hai của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản.
Nhưng vẫn chưa dừng lại ở sai lầm đó, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã áp đặt nền cai trị vô cùng “chuyên chính” lên Miền Bắc, bằng những vụ thanh trừng đẫm máu, khiến cho hơn một triệu đồng bào phải rời bỏ quê hương ở Miền Bắc, di cư vào Nam để tránh họa cộng sản là một sai lầm thứ ba của Hồ Chí Minh và của đảng cộng sản. Thực ra nếu không có những sự đe dọa, ngăn chặn và khủng bố của chính quyền cộng sản ở các địa phương, thì trong 300 ngày được phép di tản khỏi vùng cộng sản cai trị sang miền tự do đó chí ít cũng phải đến 10 triệu đồng bào di cư vào Nam chứ không chỉ dừng lại ở con số hơn một triệu đó.
Việc thực hiện chính sách cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ, phú nông ở các tỉnh miền Bắc là sai lầm thứ tư của ông Hồ và của đảng cộng sản. Tất nhiên đây là nhiệm vụ trọng đại mà ông Hồ nhận lãnh từ Quốc Tế Cộng Sản mà trực tiếp là từ Stalin và Mao Trạch Đông, khiến cho 15,000 nông dân bị hành quyết và xấp xỉ 300.000 nông dân khác phải chịu tù đày ở các trại cải tạo mà không ít đã chết vì đói khát và bệnh tật. Chắc ông Hồ và đảng cộng sản nghĩ rằng con số này chẳng đáng gì so với 30 triệu nông dân Nga và 70 triệu nông dân Trung Quốc cũng đã bị giết cùng với chính sách “Thổ Địa Cải Cách” ở hai nước xã hội chủ nghĩa đàn anh? Không chỉ dừng lại ở con số địa chủ bị hành quyết, số gia đình nông dân bị ly loạn bị phân biệt đối xử, mà cái di hại khó lường của chính sách cách ruộng đất ấy là hình thành một loại văn hóa nghi kỵ, đấu tố ngay cả trong gia đình con cháu đấu tố ông bà cha mẹ, vợ chồng đấu tố lẫn nhau… khiến cho những giá trị văn hóa, những thuần phong mỹ tục trong đời sống gia đình, xã hội đàn bị thay thế bằng cái văn hóa đấu tố này.
Việc tống giam các nhân sỹ trí trong vụ án nhân văn giai phẩm và hạ phóng nhiều văn sỹ, thi sỹ trí thức khác về nông thôn để cải tạo tư tưởng là sai lầm thứ năm của ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản bởi “Không biết kính trọng kẻ hiền sĩ, tức là loài cầm thú vậy”. Với việc thực hiện chính sách này, Hồ Chí Minh, Tố Hữu và bộ chính trị trung ương đảng cộng sản đã tự biến mình thành loài cầm thú chứ không còn là người nữa. Đã thế với chính sách “Trí Phú Địa Hào Đào Tận Gốc Trốc Tận Ngọn” được áp dụng rộng khắp ở miền Bắc trong thời kỳ tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN ở miền Bắc đã khiến cho nhân dân cả miền Bắc thuở đó ngây ngô như con người sống vào thời đồ đá để ai ai cũng tin rằng “bác Hồ luôn ỉa ra cứt vuông như chiếc bánh chưng và thơm như hoa lài hoa lý” sic. Và rằng “Các đồng chí anh hùng lái máy bay Mig của ta đã sáng tạo ra một cách để diệt các máy bay B52 của Mỹ. Khi ra trận họ tìm một cụm mây to rồi nấp vào trong đấy tắt máy nằm chờ… chiếc máy bay B52 vừa trờ đến là đồng chí ấy mở máy rồi bay ra chẹt ngay”. Tất nhiên đảng cộng sản vẫn còn thống trị được đất nước cũng là nhờ một phần rất lớn của chính sách ngu dân mà đảng công sản đã áp dụng hết sức thành công trên cả hai miền của đất nước.
Việc thực hiện cuộc tổng công kích vào Tết Mậu Thân 1968 bằng sự bội ước hiệp ước hưu chiến cho toàn dân hai miền vui xuân đón tết, rồi bất ngờ tấn công vào các đô thị của miền Nam, tàn sát nhiều dân lành vô tội và thảm sát hơn 7.000 đồng bào Huế bằng cách chôn sống là sai lầm thứ sáu của ông Hồ và của đảng cộng sản Việt Nam. Mang lại đau thương tang tóc cho đồng bào miền Nam giữa những ngày đón tết cổ truyền của dân tộc, đó là một tội ác đến man rợ của ông Hồ và đảng cộng sản, tất nhiên cái quả báo nhãn tiền đó là hàng chục sư đoàn của cộng quân Bắc Việt đã hoàn toàn bị xóa sổ sau những đợt phản công của Quân Lực Việt nam Cộng Hòa và Quân Đội Đồng Minh khiến cho hàng trăm ngàn thanh niên phải sinh Bắc tử Nam ngay trong dịp tết, và khiến cho Hồ Chí Minh cũng phải uất ức mà chết không lâu sau đó.
Hành động vi phạm công pháp quốc tế về vùng phi quân sự, xua quân vượt sông Bến Hải đánh chiếm tỉnh địa đầu Quảng Trị vào mùa hè đỏ lửa 1972 là hành động sai lầm thứ bảy của đảng cộng sản Việt Nam: sự tráo trở phản trắc kiểu cộng sản đã phải trả giá bằng sinh mạng của hơn 100 ngàn cán binh cộng sản phải đền tội tại chiến trường này bởi sự trừng phạt của không quân và Hải quân Hoa Kỳ với Operation Linebacker bombing và chiến dịch oanh tạc Linebacker I, oanh kích miền Bắc để trả đũa sự vi phạm công pháp quốc tế về vùng phi quân sự của cộng quân Bắc Việt, từ 10-5 đến 23-10-1972 và trận mưa bom mùa Giáng Sinh tại Hà Nội năm 1972, chỉ tiếc rằng chiến dịch oanh kích Hà Nội chỉ kéo dài 12 ngày thôi, cho nên Lê Duẩn và bộ chính trị còn ngấp ngoái dưới các hầm tránh bom, đã phải tồn tại nhiều ngày không có lương thực, phải uống cả nước đái của nhau để sống. Nếu chiến dịch Operation Linebacker II kéo dài thêm một ngày nữa thôi thì cộng sản Bắc Việt đã phải chính thức đầu hàng vô điều kiện, nhân dân Miền bắc được giải phóng khỏi chế độ cộng sản từ đó và dân tộc Việt Nam đã không chịu cái thảm họa 30 tháng 4 năm 1975. Nhưng âu cũng là cái vận hạn của quốc gia hay cái nghiệp chướng của dân tộc.
Việc phát động chiến dịch Hồ Chí Minh và mùa Xuân năm 1975 dốc toàn bộ lực lượng quân đội Bắc Việt vào đánh chiếm miền Nam để thực hiện tham vọng thống nhất nước nhà bằng máu xương của đồng bào là sai lầmthứ tám của đảng cộng sản Việt Nam. Nếu Hồ Chí Minh đã trót làm tay sai cho Quốc Tế Cộng Sản du nhập chủ nghĩa cộng sản về để tàn hại đất nước và đã trót ký Hiệp định Geneva để chia đôi đất nước, thì Việt Nam vẫn có thể tồn tại hai quốc gia Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam và Việt Nam Cộng Sản ở miền Bắc, như Đông Đức và Tây Đức một thời, họ không hề đánh nhau, họ không hề đổ máu mà họ cuối cùng cũng được thống nhất. Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã không thể làm được như cách làm của người Đức, khiến cho cái giá của sự thống nhất quá lớn, hàng chục triệu người của cả hai miền Nam Bác đã bỏ mình trong cuộc chiến và đến nay đã 37 năm sau khi kết thúc chiến tranh, hàng vạn gia đình ở miền bắc vẫn đang tiếp tục hành trình đi tìm mộ liệt sỹ, đi tìm hài cốt của thân nhân họ, bị vùi lấp một cách vội vã ở một nơi nào đó trên đường đi xâm lược miền Nam, mà theo thông tin từ chương trình nhắn tìm đồng đội thì công việc tìm một liệt sỹ thì dù một hai trăm năm sau nữa vẫn chưa thể nào kết thúc. Đó là cái giá của sự thống nhất nước nhà do sự xuẩn động của ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản.
Việc trả thù các sỹ quan, hạ sỹ quan của Quân Lực Việt nam Cộng Hòa và các quân cán chính của Việt Nam Cộng Hòa bằng cách đưa họ vào các trại tù cải tạo rồi trấn cướp nhà cửa của họ và xua đuổi vợ con họ đến các vùng kinh tế mới là sai lầm thứ chín của đảng cộng sản Việt Nam. Trên thực tế cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh ý thức hệ. Quân dân miền Nam chiến đấu nhằm bảo vệ nền tự do cho miền Nam, bảo vệ cho đồng bào miền Nam khỏi họa cộng sản. Tuy cuộc chiến tranh kết thúc một cách quá bạo tàn, không như người miền Nam mong muốn, nhưng chắc chắn các quân cán chính của Việt Nam Cộng Hòa đều có đủ thiện chí để hàn gắn những đau thương mất mát do chiến tranh, họ sẵn sàng tha thứ cho những kẻ xâm lược, sẵn sàng chung tay xây dựng quê hương thời hậu chiến. Phần lớn, họ là những người có kiến thức uyên bác, có trình độ khoa học kỹ thuật rất cao, đây là một nguồn tài lực quan trọng và vô giá của quốc gia, tiếc thay đảng cộng sản đã muốn hủy diệt nguồn tài lực quý giá đó bằng cách đọa đày để họ chết dần chết mòn trong các trại cải tạo. Nếu đảng cộng sản biết “chiêu hiền đãi sỹ” ngay sau ngày tàn cuộc chiến vào tháng tư năm 1975 thì chắc chắn cả dân tộc Việt Nam đã không quá điêu linh, quá cơ lại đến độ Phạm Văn Đồng phải mang gạo của Việt Nam sang Ấn Độ để đổi lấy hạt bo bo và các phụ phẩm nông nghiệp mà Ấn Độ dùng để chăn nuôi gia súc, rồi mang về cho nhân dân cả nước cùng ăn để sống qua ngày trong suốt những năm 1978, 1979 cho đến cuối những năm đầu thập niên 1980s. Một sự ô nhục tột cùng cho dân tộc Việt! Một đại nhục quốc thể cho Việt Nam!
Chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam sau năm 1975 là sai lầmthứ mười của đảng cộng sản. Chính việc đánh đổ tư sản và công hữu hóa các phương tiện sản xuất chính là hành động khiến cho đất nước Việt Nam “xuống hàng chó ngựa” khiến cho lòng người ly loạn, dẫn đến việc hàng triệu người phải bỏ nước ra đi tìm tự do, mà đến “cái cột điện nếu đi được, nó cũng đã đi rồi!”. Hàng triệu người dân lành vô tội nữa lại phải bỏ mình trên đường đi tìm tự do đó. Một tội ác tày trời nữa của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam. Điều này chắc các ông biết rõ! Thật là mỉa mai, khi một nhà báo phương tây chất vấn Phạm Văn Đồng rằng:“Các ông nói Xã Hội Chủ Nghĩa là thiên đường ở hạ giới, tại sao hàng triệu người Việt của ông phải bỏ nước ra đi tìm tự do suốt nhiều năm như vậy?” Phạm Văn Đồng đã trả lời một cách vô cùng trơ tráo và vô liêm sỉ rằng: “Đó là loài dơi, nên chúng không thể sống nơi trong sáng, mà phải đi tìm bóng tối”. Thật là vô liêm sỉ hết chỗ nói! Đâu là bóng tối? Các nước theo chế độ cộng sản hay các nước tự do ở phương Tây? Ai là loài dơi chỉ thích bóng tối? Chúng tôi là loài dơi hay chính những người cộng sản các ông cứ theo đuổi cái thiên đường mù ấy đích thị là loài dơi chỉ muốn tồn tại trong bóng tối?
Các nước công sản Đông Âu một thời lầm lạc đi theo chủ nghĩa cộng sản phi nhân, khiến cho đất nước họ tụt hậu, dân tộc họ đói nghèo, nhưng cuối cùng họ đã nhận ra cái sai lầm chết người đó, và họ đã quay lại với thế giới tự do để họ được tiếp tục làm người. Tại sao các ông chưa chịu vứt bỏ cái chủ nghĩa cộng sản vào sọt rác để giải thể ngay cái chế độ cộng sản, từ bỏ cộng sản, quay lại là thấy bờ tại sao các ông không theo gót các nước cộng sản Đông Âu, làm ngay việc hệ trọng đó, để chính các ông cũng được đứng thẳng lên làm người, mà dân tộc Việt Nam cũng chấm dứt được những chuổi đêm trường tăm tối bước đi trong đói khổ, lầm than và u tối? Để đất nước Việt Nam sẽ không còn nghèo nàn tụt hậu và nhược tiểu nữa, không còn phải đối diện với đại họa mất nước nữa?
Thưa các ông,
“Trời sinh ra dân, chẳng phải vì vua; mà Trời lập ra vua, ấy là vì dân”. Sao các ông đang là những “ông vua” của đất nước này mà các ông không vì dân? Sao các ông lãnh đạo đất nước mà chẳng biết quý dân và không biết nghe lời dân và không đặt quyền lợi của dân lên trên quyền lợi của giai cấp thống trị, của đảng cộng sản các ông?
Nếu các ông là con người, sao không biết kính người hiền trọng người tài, mà lại bắt bớ, tra tấn và giam cầm họ?
Cho nên tôi viết những điều này này gởi đến các ông, với mong muốn các ông sớm quay trở lại kiếp người bởi “Không biết kính trọng kẻ hiền sĩ, tức là loài cầm thú vậy”. Xin các ông hãy đứng thẳng lên để làm người bằng cách trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho các nhà bất đồng chính kiến, các sỹ phu, các trí thức các sinh viên học sinh đang bị các ông giam cầm bởi họ chính là hiền sĩ đó. Họ là những người thực sự yêu nước và thực sự ưu tư trước sự hưng phế của quốc gia sự tồn vong của nòi giống.
Hãy trả tự do ngay cho nữ sinh Nguyễn Phương Uyên mà thuộc hạ của các ông vừa bắt giam vào ngày 14 tháng 10 vừa qua chỉ vì lòng yêu nước của Phương Uyên đã thôi thúc cô viết nên những vẫn thờ chống giặc Tàu xâm lược. Phải chăng nếu các ông đã nắm quyền cai trị đất nước này tự ngàn xưa, thì làm sao có đất sống cho các bậc vương tướng như bà Trưng, bà Triệu, như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền, Lê Lợi, Quang Trung… bởi các đấng ấy đã bao lần đánh cho tan tác hàng vạn quân Tàu xâm lược chứ không chỉ dừng lại ở việc xuống đường điểu tình đả đảo hay làm thơ chống Tàu như con cháu của họ thời nay.
Và nếu các ông thực sự vì nước vì dân, hãy tự mình xóa bỏ điều 4 hiến pháp, tự mình giải thể chế độ cộng sản và trao quyền lực cho nhân dân, tôi tin rằng các sỹ phu trong nước hiện nay cùng với những hiền sĩ đang định cư ở nước ngoài sẽ chung tay góp sức xây dựng một nước Việt Nam hùng mạnh phú cường đủ sức đương cự với mọi đội quân xâm lược của Tàu man để giữ vẹn toàn bờ cõi.
Mười cái sai lầm ngu xuẩn nhất của một chế độ tưởng cũng đã quá nhiều và cũng đã mang những họa hại khôn lường cho đất nước cho dân tộc rồi. Đừng tiếp tục sai lầm trong tham lam và ngu xuẩn nữa mà đưa đất nước đến bờ vực diệt vong.
Nguyễn Thu Trâm
This entry was posted in Bình luận. Bookmark the permalink.

One Response to Nguyễn Thu Trâm – Đôi điều gởi đến lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam

  1. Tuấn Phương says:

    MÁC GIẢ (LÀ MÁC-LÊNIN) HAY Phong Uyên GIẢ?

    Tôi bật cười khi đọc bài viết này của Phong Uyên (PU) viết về “cần phân biệt Mác giả (là Mác-Lênin) và Mác thật (Mác-Ăngghen). Chắc là khi nghĩ ra “tít” bài báo, PU mừng và tự thưởng cho mình đã nghĩ ra một cái “tít” đắt. Tôi nhớ không nhầm cách đây vài năm cũng đã có một tác giả “cùng hội cùng thuyền” với những người như PU viết một bài về Mác-Lênin bằng cách nhắc lại tiểu sử của các ông. Tôi không nói PU đạo văn, cũng không nói bài viết là phản động muốn chạy tội cho Mác, hoặc theo “chủ nghĩa xét lại” kiểu dân chủ-XH hay là một người nham hiểm, tay sai của một thế lực thù địch nào đó như PU có nói đến trong bài viết của mình. Thậm chí tôi còn coi đấy là ý kiến nghiên cứu riêng của tác giả.
    Tuy nhiên, viết theo kiểu dẫn nguồn gốc gia đình, thân thế, sự nghiệp thì đã có hàng nghìn bài viết và cuốn sách viết về các ông. PU lại viết rằng “những gì tôi nói về tư tưởng Marx không phải được lấy ra từ những tài liệu phản động nào, mà đều được chích dẫn từ một cuốn Triết học tổng quát lớp 12 các trường Trung học Pháp mà mọi học sinh thi Tú tài Pháp nào cũng phải học”. Người ta thường nói “giấu đầu hở đuôi”. Đọc của bài viết của PU thật ra cũng chẳng có gì là “giấu đầu” cả mà ý đồ của tác giả đã bộc lộ ngay từ “tít” bài. Còn “hở đuôi” thì chính PU nói rõ ý đồ của mình: “Sở dĩ tôi viết lại bài này là có ý muốn các bạn học sinh, sinh viên trong nước tự đặt câu hỏi tại sao cũng cùng một hệ tư tưởng Marx-Engels mà chế độ Dân chủ-XH biết biến đổi nó để đưa tới dân chủ, thịnh vượng, bình đẳng XH, không còn cảnh người bóc lột người, mà chế độ cộng sản lại đưa đến độc tài, nghèo đói, chết chóc, chênh lệch giầu nghèo quá lớn như trong một vài nước cộng sản còn sót lại ngày nay?”. Như vậy là quá rõ ý đồ của người viết. Chí có điều nếu nói chênh lệch giàu nghèo thì trướn hết phải nói đến nước Mỹ.
    Bài viết của PU sẽ được các bạn học sinh, sinh viên đón nhận nếu viết như một bài nghiên cứu khách quan, để rồi người đọc tự đánh giá đúng, sai, hay, giở, thật, giả… Đằng này, tự PU đã bộc lộ thiếu khách quan, áp đặt trong bài viết của mình.
    Rõ ràng là không ai chấp nhận quan điểm của PU về cái gọi là Mác giả (là Mác-Lênin) và Mác thật (là Mác-Ăngghen). PU đã rất chủ quan khi viết như vậy, bởi ngay cả khi PU muốn đạt được mục đích phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin bằng cách ca ngợi chủ nghĩa Mác hay Mác-Ăngghen một chiều là một cách tiếp cận sai về phương pháp luận. Không thể có Mác đúng mà chủ nghĩa Mác-Lênin sai. Cũng không thể có Mác-Ăngghen đúng mà Mác-Lênin sai. Khi nghiên cứu Mác, Ăng ghen, Lênin cần nhận thức rằng Leenin vừa kế thừa Mác, phát triển Mác, đồng thời không phải tư tưởng nào của Lênin cũng có quan hệ trực tiếp hoặc tất yếu với chủ nghĩa Mác cũng như với những tư tưởng của bản thân Mác.
    Không phải chỉ một mình PU viết về Mác, Ăngghen, Lênin. Thế giới những năm gần đây đã có rất nhiều cuộc hội thảo về Mác, về chủ nghĩa Mác-Lênin, bàn về các trường phái mácxít phương Tây đương đại. Học sinh, sinh viên đọc bài viết chủ quan của PU và người ta so sánh với hàng trăm bài viết khách quan khác, tự bản thân họ sẽ rút ra cho mình kết luận.
    Trên http://www.expert.ru, 01/2011, tác giả Immanuil Vallerstain có bài Lênin và chủ nghĩa Lênin-hôm nay và ngày mai. Trong đoạn mở đầu, tác giả viết: “Chủ nghĩa Mác-Lênin không bao giờ có một công thức cố định và công thức cứng nhắc. Việc bám chặt lấy những kiến giải cũ và đã bị loại bỏ của chủ nghĩa Mác-Lênin được coi là điều nhảm nhí không kém gì việc tranh luận một cách lôgic nghiêm túc những kiến giải chính thức mới nhất”. Tác giả đã đưa ra 6 đặc trưng của chủ nghĩa Lênin: (1) Hoạt động của đảng phải kiên quyết giành lấy chính quyền nhà nước, kiên quyết giữ vững chính quyền. (2) Tăng cường bộ máy nhà nước sau khi có chính quyền (3) Đảng phải có tổ chức nghiêm ngặt và sự tuân thủ vô điều kiện (4) Mục tiêu chính trị chủ yếu không phải là nắm giữ chính quyền mà là sự tăng trưởng, đuổi kịp của nền kinh tế theo thước đo do biến đổi của thế giới (5) Đảng , xét về hệ tư tưởng, coi mình là thành trì của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc (6) Đảng nhanh chóng đáp ứng tình hình biến đổi và thay đổi đường lối của mình một cách phù hợp, nếu như điều đó là cần thiết để giữ vững chính quyền.
    Sau khi khái quát sáu đặc trưng của chủ nghĩa Lênin, tác giả viết phần hai với tựa đề “Lênin vẫn sống”. Mở đầu phần này tác giả viết: “Nhìn ra thế giới ngày nay, vẫn như trước, bạn sẽ tìm được không ít các quốc gia nơi nhóm cầm quyền đi theo các quy tắc này và phô trương cả sáu đặc trưng của chủ nghĩa Lênin”. Viết điều này tác giả muốn nói đến tính phổ quát của chủ nghĩa Lênin, mặc dầu “phần lớn trong số đó không tự coi mình là những người theo chủ nghĩa Lênin”. Tác giả, bằng sự quan sát tinh tế của mình, đã đưa ra nhận định: “Khi Liên Xô tan rã và cùng với nó là ĐCS LX, chế độ mới của Liên bang Nga tiếp cận với những vấn đề của Lênin với tư cách là một con người, một biểu tượng chính trị và nhân cách hóa ký ức lịch sử”. Tác giả quan sát cả đoàn người xếp hàng vào lăng Lênin, mặc dù người ta dọn đi phần lớn các bức chân dung và tượng đài Lênin. Tác giả viết “tôi có cảm giác rằng, thanh niên Nga không phản đối cái gì thuộc về Lênin, cho dù ở đó có chút gì đó hoài cổ”. Tất cả những cái đó nói lên điều gì? Tác giả viết: “Hiện nay, ở nước Nga, Lênin là nhân vật chính trị có sự đánh giá không thống nhất ở mức độ ít nhất. Có thể khẳng định rằng, ở nước Nga, Lênin có ít đối thủ cạnh tranh”.
    Cuối bài báo là phần viết về “Lênin sẽ sống”. Tác giả đưa ra 5 lý do: (1) Chủ nghĩa dân tộc, Lênin sẽ là nhà hoạt động dân tộc và người yêu nước vĩ đại, người đã cứu nước Nga khỏi sự tan vỡ hoàn toàn bởi sự không am hiểu kinh niên của chế độ cũ về tất cả các mặt- sự không hiểu biết về quân sự, XH, chính trị (2) Người ta sẽ tôn kính Lênin như là người kế tục những cải cách của bá tước S. Ju. Vitte, mà ông không hoàn thành do những cản trở về chính trị. Tôi nhắc lại một trong những khẩu hiệu của Lênin: “CNCS là chính quyền xô viết cộng với điện khí hóa toàn quốc!”. (3) Người ta sẽ coi Lênin không chỉ là một nhà hiện đại hóa và người theo phương Tây (do những ước mơ điện khí hóa và những lời kêu gọi “đuổikịp và vượt”), mà còn là người chuẩn bị cho cuộc đánh thức châu Á và thế giới thứ ba. (4) Những nhà quan sát sắc sảo có thể cũng nhận xét rằng, Lênin là nhà hoạt động đầu tiên trong lịch sử nước Nga, trên thực tiễn, đã giải quyết vấn đề cuộc tranh cãi kéo dài giữa những người theo phương Tây và những người chống phương Tây. (5) Người ta nhận thấy Lênin là một lãnh tụ cứng rắn và biết nhìn xa. Chính sách kinh tế mới (NEP) là một trong những bằng chứng về tính cương quyết và tầm nhìn xa của ông. Lênin biết khi nào cần phải chuyển hướng mạnh và đưa đất nước theo hướng khác.
    Những đoạn tôi dẫn trên đây là hết sức khái lược nhưng cũng đủ cho PU giật mình khi đọc lại bài viết của mình. Hóa ra chủ nghĩa Mác-Lênin đã sống, đang sống và mãi trường tồn cùng nhân loại. Không có Mác-Lênin giả mà chỉ có một PU giả.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s