Minh Vân – Những Sai Lầm Nghiêm Trọng Của Bộ Giáo Dục Đào Tạo.

 

Blog GLQHVN chúng tôi nhận được bài nghiên cứu của tác giả Minh Vân. Xin được đăng để rộng đường dư luận và cũng cám ơn tác giả đã gởi cho bài nghiên cứu này

*****************************************

MINH-VÂN

 

“Cùng Cộng Đồng Người Việt Trong Nước Và Hải Ngoại”

          Bài nầy, chúng tôi viết gởi trực tiếp đến “Bộ Giáo Dục và Đào Tạo”, thông qua Nhà Nước, Chính Phủ và các Cơ quan Trung Ương thuộc ngành Văn Hóa – Giáo Dục Nhà Nước CHXHCNVN. Xin trình gởi Hàn Lâm Viện Khoa Học, Viện Sử Học Quốc Gia, các Nhà Văn Hóa chúng tôi may mắn được biết Đ/chỉ riêng. Cùng xin được gởi đến một số Trang Mạng và Báo chí có uy tín tại Quốc Nội và Quốc tế, nếu được quý Ban Biên Tập đồng cảm quan tâm đón nhận cách nhiệt tình, hy vọng sẽ được chuyển tải đến Cộng Đồng Người Việt ở bốn phương trời Thế giới, để rộng đường dư luận với nhiều  sự nhận định của mọi người. Đồng thời chúng tôi cũng mạo muội xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng trong sự góp ý, sửa chữa, thay đổi, bổ sung, không phân biệt Tôn Giáo, Đảng phái, Sắc Tộc, Tuổi tác, Giới tính và Địa vị Xã Hội, dù được sự đồng tình chấp nhận hay phản bác, đều rất đáng trân trọng đối với chúng tôi. Đặc biệt, chúng tôi xin phép được gởi đến Lm. Bề Trên Giám Tinh Dòng Tên Việt-Nam và Thông trình lên Hội Đồng Giám Mục Việt-Nam, xin vì ý thức Trách nhiệm và Tinh thần Dân tộc, thỉnh cầu Quý Ngài lên tiếng can thiệp bảo vệ nền Văn Học Nước Nhà, chặn đứng mọi hình thức lộng hành Văn học đến điên loạn như hiện nay. Kính xin các Đấng và Cộng Đồng Dân Tộc cảm thông cho nhiều thiếu sót.                                

 

MỤC LỤC

Kính cáo.

I. CHỦ TRƯƠNG “CẢI TỔ” CHỮ TÂN-QUỐC-NGỮ.

II. MIÊU-DUỆ NGUIỄN-NGU-Í.

A. Các biểu hiện nặng nề.

B. Những phản ứng động trời.

C. Văn học Việt-Nam đã trở thành Quái thai.

D. Chữ Tân-Quốc-Ngữ có một Cấu trúc ghép Vần tinh vi đến tuyệt đối.

III. VẦN TÂN-QUỐC-NGỮ, MỘT CẤU TRÚC CHỮ VIẾT CÓ ĐẦY ĐỦ BẢN SẮC     DÂN TỘC.

A.  Chữ Tân-Quốc-Ngữ là một Mô hình “Việt-Hóa Mẫu-Tự La-Tinh”.

B. Cách cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ.

C. Một cấu trúc ghép vần độc đáo.

IV. CHỮ TÂN QUỐC NGỮ, RẤT XA LẠ VỚI THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI.

A. Một dạng cấu trúc mới “Chữ Tượng Thanh”.

B. Ứng Dụng Được Trong Mọi Lãnh Vực Đào Tạo Khoa Học.

C. Hướng bổ sung.

V. TÍNH ƯU VIỆT CỦA VĂN PHẠM TÂN-QUỐC-NGỮ.

A.  Cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ của G/sĩ ĐẮC-LỘ hiếm có “Phụ âm thừa”.

B. Là một trong những loại Văn phạm ít Luật trừ và đơn giản nhất Thế giới.

C. Đơn âm của tiếng Việt, là nét đẹp đặc thù của một số nước Châu-Á.

VI.  NHỮNG ĐAO PHỦ THỦ TINH THẦN.

VII. NHỮNG HÌNH THỨC CẢI TỔ.

A.  Những biểu hiện đối nghịch

B. Gạch nối hầu như bị hủy bỏ hoàn toàn lại biến thành nhiều lẫn lộn

VIII. TRÁCH NHIỆM VỀ AI ?

IX. NHÀ TOÀN-CẦU BÁC-HỌC DANH-GIA

X. CẦN CHẤN CHỈNH NHỮNG HÌNH THỨC LAI CĂNG MẤT GỐC

A. Danh-từ-kép trong hệ đơn ngữ Chữ Việt

B. Từ Điển Việt-Nam hay Từ Điển Tổng Hợp Toàn Cầu

C. Các từ vựng Danh xưng

XI. VĂN HỌC DÂN TỘC LÀ LINH HỒN CỦA TỔ QUỐC

XII. THẤT-TINH-HỘI

XIII. SỰ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC THỪA SAI HẢI NGOẠI VÀ NHIỀU HỌC GIẢ CÔNG            GIÁO PHÁP CHO NỀN VĂN HỌC VIỆT-NAM

XIV. NHỮNG VẤN NẠN

XV. CÔNG-TỘI VỀ AI ?

XVI. TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN HẠN CỦA BỘ GD&ĐT

XVII. MỘT BỨC TƯỜNG SIÊU THÉP, BẤT KHẢ XÂM PHẠM

XVIII. THẾ HỆ DỤNG NGỮ

A. Các cách dụng từ không chuẩn xác thời nay

B. Những cân não vọng ngoại hãnh tiến

C. Khi sử dụng Ngôn ngữ chuyên biệt, cần phân định rõ thế nào là Dân chủ, là Quân      chủ

XIX. NGUYỆN VỌNG

XX. KẾT LUẬN

TRANG PHỤ LỤC (đính kèm).

I. CHỦ TRƯƠNG “CẢI TỔ” CHỮ TÂN-QUỐC-NGỮ.

Vào Hạ bán Thế kXX đã xuất hiện một Nhà Văn Yêu Nước muốn Cải tổ toàn diện mọi cấu trúc “ghép Vần” Chữ Tân-Quốc-Ngữ,cho thật đơn giản, gọn nhẹ, phù hợp với tiến độ phát triển từng thời. Vị Cha đẻ Vĩ đại đó là Nhà Văn NGUYỄN-HỮU-NGƯ (1921–1979). Ông nguyên là một Nhà Giáo, Nhà Thơ, Nhà Báo Việt-Nam khá nổi tiếng trên nhiều mặt.

Sở dĩ chúng tôi gọi là Chữ Tân-Quốc-Ngữ thay vì Chữ Quốc Ngữ đã quen gọi xưa nay, vì muốn xác định rằng trước khi Cộng Đoàn Dòng Tên và G/sĩ ĐẮC-LỘ phát kiến tạo tạo lập một loại chữ viết bản địa, làm phương tiện giảng dạy Giáo Lý cho Cộng Đồng Công Giáo người Việt, đó là phương pháp “Việt-Nam-Hóa Mẫu Tự La-Tinh” thành chữ Việt. Sau đó hệ thống cách viết nầy đã được dân ta gọi là Chữ Quốc Ngữ. Xét ra trước đó đã có một loại “Chữ Tượng Âm” của người Giao-Chỉ, Tổ Tiên ta đã sử dụng từ lâu đời, tức loại “Chữ Quốc Ngữ” đầu tiên của tộc ta, đó là “Chữ Quốc Ngữ Cổ” của người Việt.

Tiếp đến Học Giả HÀN-THUYÊN đã nối bước hàng trăm Nhà Ngữ Học Tiền bối, cũng đã vay mượn mẫu chữ Nho, hoàn chỉnh được một hệ thống chữ viết Tượng hình. Tuy còn rất hạn chế, nhưng Nhà Chúa NGUYỄN-PHÚC-ÁNH đã một thời sử dụng nó như loại Chữ Viết tiếng Việt theo gợi ý của Giám Mục (Gm) người Pháp PIGNEAU DE BÉHAINE (BÁ-ĐA-LỘC) thuộc Hội Thừa Sai Hải Ngoại Ba-Lê (Missions Etrangères De Paris, MEP), để xóa dần đi ảnh hưởng sâu đậm Văn Hóa Tàu. Đó là Vị Giám Mục được NGUYỄN-ÁNH xin chọn làm Dưỡng Phụ ngay khi Nhà Chúa chạy lưu lạc tại miền Nam và đã được cứu sống.

Lúc bấy giờ NGUYỄN-ÁNH vừa 14 tuổi, cùng chạy trốn Quân TRỊNH đi chung thuyền với Định-Vương 1775. Đoàn thuyền di tản gồm 30 chiếc, bị bảo nhận chìm chỉ trừ Định Vương và NGUYỄN-ÁNH được sóng nước tấp vào bờ thoát chết. Vừa may gặp lại được G/sĩ DIÉGO JUMILLA, đã từng biết Định Vương tại Quy-Nhơn và can thiệp Định Vương huỷ bỏ Chỉ Dụ Cấm Đạo của Võ-Vương. Nên G/sĩ JUMILLA đón Định-Vương và NGUYỄN-ÁNH vào ngụ tạm trong nhà mình đẻ tìm cách đưa về Trấn Biên-Hoà, nhưng chưa thoát nạn.

Tiếp tục bị quân Tây-Sơn săn đuổi tấn đánh Sài-Gòn 1776, Định-Vương bị bắt và bị giết. Còn mỗi NGUYỄN-ÁNH trốn thoát được, một mình lần hồi chạy trốn tới tới Đảo Thổ-Châu gần mũi Cà-Mau. Tại đây lại may nhờ gặp được Lm. PHAO-LÔ HUỲNH-VĂN-NGHI cũng đang chạy giặc. Không rõ vì sao NGUYỄN-ÁNH lại nhận diện được Ông nầy là Lm. Công Giáo, và lân la đến tự giới thiệu mình và xin Linh Mục cứu thoát. Lm PHAO-LÔ HUỲNH-VĂN-NGHI nhận lời, liền đem giấu trong thuyền mình và đưa thẳng về Hà-Tiên để găp Đgm. BÁ-ĐA-LỘC và xin cho NGUYỄN-ÁNH được lánh nạn tại Toà Giám Mục, nếu được sự che chở của Đức Cha, NGUYỄN-PHÚC-ÁNH sẽ được an toàn hơn (đón xem MV. Khai-Hóa Nhân-Sinh, KHNS, trọn bộ 3 quyển).

Vì thế, Chữ Nôm chính thức được Chúa NGUYỄN-ÁNH sử dụng và khuyến khích Triều Thần Quan Lại sử dụng nó như một loại Chữ Pháp Lý lúc bấy giờ. Sau khi phục quốc, thống nhất Đất nước, Vua GIA-LONG đã bị Hán Triều khống chế, buộc phải lấy Chữ Nho làm chữ Pháp lý thông dụng toàn quốc. Tuy thế, Triều thần nhà Nguyễn cũng vẫn tiếp tục sử dụng Chữ Nôm trong giao dịch nội bộ nhiều hơn. Nó đã gây khó khăn phần lớn cho Thiên Triều trong việc theo dõi, kiểm soát tư tưởng Dân Việt. Vì thế, tuy chưa được phổ biến và không được người Tàu chấp nhận, không hề sử dụng hợp pháp, nhưng Triều Đình Nhà NGUYỄN cũng đã gọi đó là “Chữ Quốc Ngữ”. Cố Đại Thần PHAN-THANH-GIẢN khi chia sẻ với Nhà Đại Văn Hóa TRƯƠNG-VĨNH-KÝ, Nhân vật độc nhất trên Thế giới được Âu-Châu phong tặng Danh hiệu “Toàn-Cầu Bác-Học Danh-Gia” của toàn Nhân loại. Đại thần PHAN-THANH-GIẢN đã không phản bác chữ viết tiếng Việt bằng Mẫu tự La-Tinh, nhưng đã tỏ ý không đồng tình xem nó là Chữ Quốc Ngữ. Vì theo Cụ cũng như Triều đình Huế thì chỉ có Chữ Nôm mới chính thức được xem là Chữ Quốc Ngữ mà thôi.

Vậy Chữ viết theo Mẫu Tự hiện hành, là “Chữ Quốc Ngữ thứ 3”, vì thế chúng tôi nghĩ rằng chữ ta đang dùng hiện nay nen gọi là  “CHỮ TÂN QUỐC NGỮ” để con cháu nhớ rằng Dân Tộc Ta ngày xưa cũng đã có một hệ thống Chữ viết riêng biệt, cũng từng là một Dân tộc văn minh không kém Trung-Hoa và phải ghi ơn Tiên tổ đã dày công tim tòi sáng tạo. Như thế Dân tộc đã kinh qua 3 hệ thống chữ viết khác nhau, hơn nữa Chữ Việt hiện nay là một loại chữ mới nhất thế giới trong hệ thống Mẫu tự La-Tinh, vì đây là một Mẫu “Chữ Tượng-Thanh”. Nếu xét về phương diện nào đó, thì chữ Việt đã vượt ra khỏi hệ La-Tinh truyền thống, vì đây là một loại Chữ Tượng thanh đúng nghĩa, xưa nay chưa từng có.

Chữ Tân-Quốc-Ngữ nầy “có lẽ” là mẫu chữ cuối cùng và vĩnh viễn của Dân Tộc Việt-Nam, nếu chúng ta không phải là A-Nam Đô-Hộ Phủ vĩnh viễn của quân Tàu, cũng không còn bị lệ thuộc Bắc Triều nghìn năm nô lệ lần thứ hai. Nếu ta không để nền Văn Học nước nhà bị biến hóa hổn độn lai căng mất gốc một lần nữa như thời SĨ-NHIẾP. Ta đã trãi qua bao Thế hệ lầm thang khắc nghiệt, là một kinh nghiệm xướng máu, còn gấp vạn lần nô lệ Pháp! Đời đời khiến Dân ta hãi sợ quá rồi!

Trong thời Phong kiến Triều thần và nhân dân đều không gọi các trường dạy tiếng Việt theo Mẫu tự La-Tinh là Trường Quốc-Ngữ. Học sinh học Việt văn theo Mẵu tự Tân-Quốc-Ngữ, đều được mọi người gọi là “Học trò Tân Học”, để phân biệt với việc Học Quốc ngữ là Chữ Nôm. Học Hán Văn là Nho Học và Pháp ngữ  là Tây Học. Chưa nói “Mẫu Tự” Chữ Tân-Quốc-Ngữ hôm nay là thuộc dạng Chữ Tượng Thanh như chúng tôi vừa đề cập đến. Nó không hoàn toàn là Chữ Tượng Âm thuần La-Tinh như các nước Âu-Châu đã sử dụng. Chữ Tượng Thanh có một cách “Đánh vần” có âm điệu như một “Bài Ca”, khác với các loại chữ Tượng Âm khác trên thế giới. Ta thử đánh vần chữ “Thuyết” theo giọng Việt như từng học vần từ xa xưa và còn tồn tại ở Miền Nam cho đến ngày Giải phóng: (t)hát (h)u (u)thu, u (u)i-cà-rết(y)ê(ê)(t) uyêt,thuyêt,sắc(dấu săc)thuyết, nghe rõ ràng từng chữ và có âm điệu nặng nhẹ, lên xuống, êm ái khoang thai. Sau ngày Giải phóng được sửa cách đánh vần có khác hơn, như: U(u)i(y)ê(ê) tờ(t) uyêt, rồi mới nối ngược với “thờ” (phụ âm th) đứng trước, để lặp tiếp: thờ(th) uyêt,sắc (dấu sắc)thuyết“. Ta nghe ngắn hơn, nhưng phải đảo vần qua lại mới thành “Ngữ Âm”, có khó hơn và có phần phức tạp hơn. Vả lại, nếu Thầy cô cho các em đổi vở nhau chấm chính tả, theo lối đánh vần nầy, các em không thể phân biệt được chữ i sau u và trước ê là i ngắn hay y-cà-rết (y dài). Nhưng dẫu đánh vần thế nào cũng vẫn khác với Âu-Mỹ. Tây phương không có cách đánh vần, mà chỉ là cách đọc lắp chữ từng Nguyên âm và Phụ âm theo thứ tự của nó. Chỉ đọc theo kiều “ghép chữ” mà thôi. Ví dụ ALEXANDRE, người ta chỉ đọc từng mẫu tự (xin đọc theo Việt-Âm) như sau: A (a), ênhlờ (L) ơ (E) íts (x) a (A), ênhnờ (N) đê (D) erờ (R) ơ (E). Ta chỉ đọc từng “Chữ cái” cho người nghe chép lại thành ALEXANDRE mà thôi. Người Pháp gọi là “Épeler lettre par lettre pour former des syllabes”, không đồng nghĩa với “Đánh vần” trong tiếng Việt có âm điệu và có ngữ vận, có âm hưỡng như một bài được phổ nhạc.

Như thế chỉ có mỗi chữ Việt mới có âm hưỡng trong cách đánh vần mà thôi. Không rõ nhận định của chúng tôi có gì lệch lạc, phiến diện hay quá chủ quan, chúng tôi mong sự đóng góp bổ sung của Quý vị.

Ngay từ lúc nhỏ NGUYỄN-HỮU-NGƯ đã thâm thù với Quy tắc Chính tả tiếng Việt. Ông cho là quá nhiêu khê và phức tạp, đã gây cho Ông nhiều áp lực, luôn bị căng thẳng vì chưa bao giờ viết được bài văn không bị sai chính tả. Bị Thầy cô trách phạt, bạn học mĩa mai. Khi đã là nhà Văn, nhà Báo, các tác phẩm Ông viết đều lỗi chính tả đến độ khó chấp nhận. Thường bị sự chỉ trích của giới Văn học và các đồng nghiệp.

Do đó sự thâm thù về Chính tả, cộng với nhiều lời chỉ trích khách quan, đã khiến Nhà Văn NGUYỄN-HỮU-NGƯ thêm uất hận bất bình. Ông đã khơi dậy một cuộc Cách mạng Văn học, cải cách với một lối viết mới, đơn giản, không hề bị gò bó bởi một quy tắc nào, nó phải tự do và thông thoáng hơn.

Ông đả kích những nguyên tắc chính tả lạc hậu mà người ta đã phê phán Ông vì óc bảo thủ, nhưng xét ra nó đã quá lỗi thời. Ông kiên quyết phá vỡ bằng được loại võ ốc bao bọc tâm hồn Ông cách vô vị đó. Do vậy đầu tiên, ông đã công khai thổ lộ tư tưởng mình với Bút Danh “NGUIỄN-NGU-Í”, muốn mọi người biết rõ quan điểm Cách Mạng Văn Học của mình, để đừng ai đánh giá ông dốt chính tả, đừng bám theo phê phán, góp ý sửa sai kể cả chỉ trich. Ông đã manh nha mở màn cho một cuộc “Cải Tổ Nền Văn Học Việt-Nam”.

Ông trình làng rằng trước nhất cần đơn giản hóa khi viết chữ “i”, chỉ nên viết mỗi một chữ “i” (i ngắn) và bỏ hẵn chữ “y Gờ-réc” (y Grèce, đánh vần thường đọc Y Cà-rết, và hay nói là y dài). Ông còn đưa ra nhiều hình thức cải cách khác nữa. Theo Ông, phụ âm kép gi nên đổi thành j và không còn cần phải sử dụng  phụ âm “d” nữa, vì gi hay d vẫn được đọc như nhau. Phụ âm kép qu cần bỏ bớt chữ u chỉ viết một chữ q xét ra đã đủ, bỏ bớt chữ u thừa. Chữ k đứng trước nguyên âm thay c vẫn đọc không khác. Không cần phân biệt c t, n hay ng sau nguyên âm, nó không thể hiện được cái gì. Đại loại nghe như nhau, nên viết thế nào đọc lên vẫn không thấy khác. Vì vậy, Ông thấy không nhất thiết phải viết thế nầy mới đúng và thế kia là sai.

Ông còn lấy chữ “f” thay phụ âm kép ph. Thậm chí đã lấy chữ “b” thay p khi đứng sau một nguyên âm. Để thể hiện điều đó, ngoài Bút danh NGUIỄN-NGU-Í, ông còn lấy nhiều Bút danh khác viết theo quan điểm của Ông như NGUIỄN-HỮU-NGƯ, NGƯ-FI-LÔ-CỐ, TRỊNH-NGUIÊN, TÂN-FONG-HIỆB, PHẠM-HOÀN-MĨ, LƯU-NGUIỄN, NGHÊ-BÁ-LÍ.

Nói chung Ông chủ trương viết sao cũng được, miễn khi đọc, người nghe rõ và hiểu nghĩa là đủ. Có thể đơn giản hóa cách viết chữ Quốc ngữ, mà không còn cần phải bận tâm mệt trí về những quy định linh tinh, phức tạp từ thời xa xưa. Có nghĩa rằng, ông chủ trương loại bỏ hoàn toàn mọi Nguyên tắc Chính tả phải tuân thủ xưa nay. Sáng kiến đó đúng sai, hợp lý hay không đó là quan điểm của một cá nhân, nhất là một cá nhân “phi phàm đặc biệt”.

Đã nói là quan điểm, đúng sai không là tội cũng chẳng là công. Đối với một phát kiến cá nhân, Ông đòi hỏi ai phải tuân hành thế nầy và áp đặt ai phải chối bỏ thế khác, nên chúng tôi không dám có ý kiến. Chỉ biết cảm thông và đau buồn vì cuộc đời của ông không bình thường, kém may mắn hơn mọi người. Mơ tưởng của Ông đã không thành hiện thực. Ông đã vĩnh biệt cỏi đời tại “Dưỡng Trí Viện Biên-Hòa”! Từ đó tư tưởng Cách Mạng Cải Cách Văn Học của Ông đã thực sự bị trôi vào quên lãng.

Một hoàn cảnh bi đát đã đến với Ông. Năm 1928, NGUYỄN-HỮU-NGƯ phải xa gia đình từ lúc bảy tuổi, vào Sài-Gòn học tiểu học ở trường Phú-Lâm (Chợ-Lớn), tiếp đến là trường trung học PETRUS KÝ. Đến khi theo học Trường Sư phạm thì bệnh tâm thần phát xuất lần đầu, phải vào chữa trị tại nhà thương Chợ-Quán (Sài-Gòn). Khỏi bệnh, Ông bỏ học và bắt đầu bước chân vào nghề văn, nghề báo.

Quả thật Ông đã bị bệnh tâm thần phân liệt từ tuổi nhỏ, nhưng chưa hề được phát hiện. Trong hồ sơ Bệnh lý NGUYỄN-HỮU-NGƯ khi nhập viện năm 1964 có ghi khá chi tiết: “Bệnh khởi phát từ năm 1940 với triệu-chứng nói nhiều, chửi bới, lui tới lăng xăng. Đã điều-trị ở Bệnh-viện Chợ-Quán một đợt sáu tháng, được choáng điện nhiều lần, khi về, đi dạy học được. Đến năm 1947, bệnh tái lại, điều-trị ở Trại an-trí Quảng-Ngãi sáu tháng, bệnh giảm, vài tháng bệnh trở lại, đến Biên-Hoà, ra vào 12 lần, mỗi lần hai ba tháng…”

Trong một bút tích năm 1976, ông viết: “Tôi mắc bệnh cuồng-não tuần-hoàn từ năm 18 tuổi. Lúc trẻ, năm bảy năm bệnh tái phát một lần, càng có tuổi chu-kỳ càng hẹp. Biến-cố lịch-sử tết Mậu-Thân xúc-động tôi quá mạnh, tôi lên cơn dữ dội. Nay chu-kỳ bệnh lại công-phạt, cứ vài tháng là bệnh cũ tái-phát trở lại…”

Theo Nhà văn SƠN-NAM thì NGUIỄN-NGU-Í là một nhà văn nổi tiếng yêu nghề và yêu nước, luôn xót xa vì chuyện đất nước chia đôi. Dường như cả một đời dạy học và hoạt động báo chí ở Sài-Gòn, ông lúc nào cũng trong trạng thái nửa tĩnh nửa điên. Người ta còn tìm thấy được những câu thơ ông viết trong những ngày tâm thần bất ổn:

“Má ơi! Con muốn điên rồi,

“Má còn trông đứng đợi ngồi mà chi…

“Ầu ơ…

“Ví dầu con má có sao

“Có điên, có dại má nào bớt thương!”

Dường như cả một đời dạy học và hoạt động báo chí ở Sài-Gòn, lúc nào Ông cũng trong trạng thái nửa tỉnh nửa điên, nhưng bao giờ cũng bộc lộ tinh thần yêu nước đến quá khích. Có lần, chính quyền Sài-Gòn tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch bình định vùng Đồng bằng sông Cửu-Long tại căn cứ Đồng-Tâm, NGUIỄN-NGU-Í cũng tới dự với tư cách Nhà Báo. Ông mặc áo sơ mi trắng, thắt cà-vạt nhưng lại “mang guốc vông”. Chính điều đó đã biểu hiện một trạng thái bất thường. Sau một vài ý kiến đóng góp của Cử toạ, ông cũng xin phát biểu cảm tưởng với tư cách một nhà báo. Ông nghiêm sắc mặt nói: “Làm công việc bình định đồng bằng sông Cửu-Long nhưng vị quận-trưởng có mặt tại đây là một người đạo-đức giả, là kẻ gian-phu! Ông ta thông-dâm với tất cả những nữ giáo-viên xinh đẹp trong vùng. Trong số gái mất nết ấy, vài người hiện có mặt tại đây…”

Ông vừa nói vừa chỉ vào mặt viên Quận trưởng, vừa lia lia ngón tay về phía các Cô giáo. Trước tình thế quá căng thẳng, một viên chức chính quyền phải đứng lên phân trần rằng đó là một nhà báo mắc bệnh thần kinh đang lên cơn. Có lẽ vì nhờ Ông thắt cà vạt, nhưng lại mang đôi guốc vôngkhông giống ai.Đôi guốc vông đã cứu NGUIỄN-NGU-Í thoát nạn!

Đã từng là bạn thân với nhà văn BÌNH-NGUYÊN-LỘC, thân sinh của Bs. TÔ-DƯƠNG-HIỆP là giám đốc Dưỡng trí viện Biên-Hoà lúc đó, chính vì mối quan hệ này mà Bs. HIỆP trực tiếp chăm sóc Ông như một người thân.

Những lúc tỉnh táo, NGUIỄN-NGU-Í thường bắt bác sĩ HIỆP ngồi đánh cờ tướng với Ông suốt buổi. Thắng thì vui vẻ, thua thì nổi cơn điên. Có lần Ông cầm bàn cờ đập lên đầu Bs. HIỆP thủng cả bàn cờ, tròng xuống cổ, mặt đầy máu nhưng Bs. HIỆP vẫn vui vẻ, vì đó không chỉ là một bệnh nhân mà còn là bạn chí cốt của cha mình. Là Bác sĩ Tâm thần đôi khi cũng lãnh đủ với Bệnh nhân những hành động tương tự như thế là thường.

II. MIÊU-DUỆ NGUIỄN-NGU-Í

Quan điểm NGUIỄN-NGU-Í đúng sai, hay dở, tốt xấu thế nào, chưa một lời bình luận, nó đã được chôn chặt vào lòng đất Biên-Hòa từ lâu, không một người tỉnh táo nào còn muốn khơi dậy những bức xúc đáng thương của thời xa xưa ấy! Dẫu sau này, tư tưởng Cách Mạng Văn Học  NGU-Í được một Cá nhân, một Tổ chức Xã hội, một Tập thể, một Tôn giáo nào xem là “Đúng”“Hay” đi nữa, nhưng chưa được hàng Trí giả trong Cộng đồng Dân tộc, gồm các Học giả, Nhà Mô phạm, Nhà Văn Hóa, Ngôn ngữ học, Văn nhân, Thi sĩ, Nhà báo, Ký giả… nghiên cứu sâu sắc, thảo luận rộng rãi trong nhiều Buổi Hội Thảo có quy mô Quốc gia, cùng đồng tình chấp nhận, thì đó cũng chỉ là một nhận định cá nhân, cục bộ, dù có tư cách gì chăng nữa. Vì Chữ Tân Quốc ngữ ngày nay đã trở thành một Định Chế Pháp Lý của một Dân Tộc, một Quốc Gia.

Nhưng không ngờ Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (GD&ĐT) đã ban hành Quy định lấy “i” thay “y” do Bà Bộ Trưởng NGUYỄN-THI-BÌNH ấn ký ngày 30.11.1980, đã khiến các nhà Văn Hóa tầm cỡ có nhiều phản ứng khác nhau. Nói chung là đối nghịch với Quy định thiếu khôn ngoan và thận trọng của một cấp Bộ, vô nguyên tắc, vượt quyền hạn một Bộ Trưởng Giáo dục.

Khi thay đổi toàn bộ hay một phần trong trong hệ Văn Học Đất nước, phải có sự đồng tình của hàng Trí Giả Dân tộc qua những cuộc Hội thảo có quy mô Quốc gia, được sự đồng tình toàn thể, có Biên bản chuẩn nhận hợp pháp trước khi ban hành Quy định sửa đổi, dù chỉ một phần!

Ký một Quy định sửa đổi cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ do một cá nhân hay phe nhóm chỉ là hành động đơn phương có tính tùy tiện. Trên nguyên là xâm phạm Văn Hóa không thể chấp nhận được. Quy định thay đổi cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ của Bộ GD&ĐT ngày nay là một hành động đơn phương, hoàn toàn sai trái. Để ổn định lại được căn bản một nền Giáo Khoa thống nhất, đào tạo và in ấn lại hàng nghìn Tác phẩm giáo dục, cách riêng là nguyên tắc soạn thảo in ấn Từ điển cho được thống nhất từ trong cũng như ngoài nước hiện nay là điều hoàn toàn không thể. Muốn hồi phục lại tính Giáo Khoa và bảo tồn nguyên tắc Từ Điển như thế, rõ ràng phải tiêu tốn nhiều Thập kỷ, thậm chí nhiều Thế kỷ! Quy định nầy đã tạo cho nhiều nhà Văn hóa phải trăn trở!

Sự sai lầm từ Quy định i và y, do một ý thức thiển cận quá Độc đoán, đã gây ra hàng loạt hậu quả tai hại và vô cùng ngnhiêm trọng, với những hậu quả nối tiếp sau nầy.

A. Các biểu hin nng nề :

Ngay sau khi Quy định iy (ngày 30.11.1980) ra đời, các nhà Trí thức đã có nhiều phản ứng khác nhau về việc lấy “i” thaycho “y” như Bộ GD&ĐT đã thấy rõ. Nhưng không vì đó mà Quy định ngớ ngẫn nầy đã được xem xét, sửa đồi, bổ sung hay hủy bỏ sự sai lầm quá sơ đẳng của mình. Bộ đã bảo thủ một vấn đề sai lầm và rất sai lầm, tưởng chừng bé nhỏ, nhưng đã gây ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng trong Cộng-đồng Dân Tộc, tạo ra một sự đổ nát quá lớn cho nền Văn học, Văn hóa Nước nhà hiện nay. Chúng ta sẽ thấy rõ sau nầy.

B. Những phản ứng động trời :

Trước sự im lặng của Bộ GD&ĐT, đã có những phản ứng tiếp theo còn phức tạp hơn. Thay vì phản đối theo tinh thần xây dựng qua văn bản, đã không thiếu người từng tỏ ra nhiều lối “chơi chữ” có hiện tượng đánh phá, đối đầu với Bộ GD&ĐT. Họ chống lại QĐ của Bộ GD&ĐT thích ăn có theo Nhà Cải Cách NGUIỄN-NGU-Í mà không đủ trình độ nghiên cứu. Người ta đã không thèm viết Địa Lí, Sử Kí, Lí Lịch như Bộ quy định. Họ lại viết là Họa S, Nhạc S, Ca S, hoàn toàn đảo ngược NGUYÊN-THỊ-BÌNH! Đã chưa là những bằng chứng cụ thế để Bộ thấy rõ đó là “Một Bài Học” đáng nhớ muôn đời hay sao?

Bà BÌNH cũng đã đủ bén nhạy và cảm thấy hãi sợ trước những cái tát dồn dập và đau điếng đó! Nhưng vì sĩ diện, Bà Bộ Trưởng đã không tuyên bố hủy bỏ Quy định sai lầm của mình, càng không dám tỏ ra cứng rắn nghiêm cấm lối viết tùy tiện của đối phương, Bà buộc phải âm thầm nhượng bộ, để khỏi bị lộ những hình thức tấn công tinh tế nầy, Bà đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”, đã phải chấp nhận các kiểu viết đối nghịch Quy định của mình, để rồi cho rằng viết thế nào cũng đều đúng cả! Có nghĩa ngành Giáo Khoa không được bắt lỗi Chính tả giữa iy nữa!

Đã không dám bắt lỗi Chính tả họ, có nghĩa rằng Bộ GD&ĐT đã “tự tay” xé bỏ Quy định của mình, vứt vào sột rác ngay từ thuở ban đầu mà không thương tiếc, cũng không thấy mặc cảm. Từ đó đã mở đường cho một lối viết phá hoại, vô nguyên tắc, đưa Chữ Tân-Quốc-Ngữ đi đến chỗ rách nát và ghê tởm, vì Bộ GD&ĐT đã đầu hàng, đã trở thành “Ba Phải”, xem cách viết nào cũng đều đúng “tuốt tuồn tuột” như nhau!

C. Văn hc Vit-Nam đã trở thành Quái thai :

Chữ Tân-Quốc-Ngữ đã đi vào một “Kỷ-Nguyên-Mới”! Đã đến lúc tự do, người ta đã manh nha cải cách rõ mặt hơn nữa. Nhiều nhà “Trí thức” đã “phát minh” một lối “chơi ngông” tiếp theo. Đã xuất hiện nhiều Văn bản viết theo kiểu phá hoại, không còn cần phân biệt k, c trước nguyên âm và c, t, n, ng sau nguyên âm… là điều Bộ GD&ĐT không đề cập đến trong Quy định, nghĩa là chưa tuyên bố hủy bỏ Quy tắc Chính tả của Chữ Tân-Quốc-Ngữ.

Có nghĩa rằng Bộ GD&ĐT còn manh nha tiến thêm bước nữa, sẽ hủy bỏ mọi lề lối chính tả, cho phép Học sinh được tùy nghi viết í kyến, lí lch, kải kách, kanh tâng, t học, ka hác… bất chấp mọi nguyên tắc chính tả như phát kiến của Tiên sinh NGUIỄN-NGU-Í mà Bộ đã có biểu hiện cho là hợp lý. như lần lược sẽ ta thấy rất cụ thể sau nầy. Như thế có lẽ “Văn Minh” hơn, Dân chủ hơn và “Bình” dân hơn, đã thể hiện đúng tên của Bà Bộ Trưởng trong trình độ Văn hóa của mình. Người ta đã từng ghép các Nguyên tắc cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ của G/sĩ ĐẮC-LỘ là Âu-hóa, trở thành cổ hủ, lạc hậu, lỗi thời, ngăn chặn bước tiến Văn minh, cần phải loại bỏ tức khắc là thể hiện đầy đủ Bộ mặt Văn hóa Dân Tộc!

Có nghĩa rằng, để được thoải mái hơn, ta nên bỏ tất cả mọi nguyên tắc chính tả, viết thế nào cũng được, không cần phân biệt c-t (chú bát và chén bác), gi-d (Cô gì, cái dì), dấu hỏingã (ngũ gục, hàng ng), c-k (kanh kải), b-p (Fáb luật)… khi đọc miễn sao mọi người đều nghe được và vẫn hiểu được là đủ. Nói và Viết theo kiều mà người Tây phương gọi là “Tiếng Bồi”, đó là biểu hiện nên văn minh của Dân tộc ta, bất chấp Văn phạm và mọi cấu trúc ghép Vần. Như thế, nó sẽ có ý nghĩa hơn cách thay đổi cái nầy và bảo thủ cái khác. Khỏi cần hướng dẫn tỉ mỉ các nguyên tắc phức tạp xa xưa!

Người ta có quyền bỏ “d” và “gi” thay “j” (trang jấy thay trang giấy, jồi jào thay dồi dào), viết “q” thay “qu”, qần chúng thay quần chúng, viết “i” thay “y” nhân quiền, thay nhân quyền, tất cả vẫn như nhau. Cứ lấy “f” thay “ph”, fương fáp thay phương pháp, lấy “b” thay cho “p”, hiệb nhất thay hiệp nhất. Như thế là thể hiện được sự tiến bộ Văn Học Dân Tộc. Còn biểu hiện được nét Văn minh Thập cẫm, lai căng Tàu Mỹ rất ư là hiện đại. Đáng báo động là ngay trong Từ điển tiếng Việt ngày nay cũng đã nở rộ Nét Đẹp Văn Hóa Thập Cẫm Quốc Tế như vậy! (xin đơn cử sau).

Chúng tôi cũng còn nhớ ALAIN GUILLEMIN, một Tác giả người Pháp, đã phê bình lối cấu trúc chữ An-Nam của Giáo Sĩ ALEXANDRE DE RHODES (A-LỊCH-SƠN ĐẮC-LỘ, G/sĩ ĐẮC-LỘ) là quá khắt khe (dur) và cứng ngắc (rigide). Đã dựa vào nhận định nầy, không thiếu người Việt tưởng rằng cách ghép vần trong hệ thống Chữ Tân-Quốc-Ngữ là quá khắt khe, là không cần thiết. Chỉ việc phân biệt giữa các chữ ct, n ng sau nguyên âm, của mỗi từ vựng (sắc màu và sắt thép, nhân đức và nhâng nháo), theo họ, trong phát âm: “sắc” và “sắt”,  “nhân” và “nhâng”, nghe nói và nghe đọc như không có gì khác nhau, chỉ tạo thêm sự nhiêu khê và rắc rối. Càng không cần phải phân biệt i y (iết kiến và yết kiến), phát âm như nhau, phân i và y ra tách biệt, cũng chỉ thêm phức tạp. Phát âm d gi (cô và cái ) cũng như nhau. Càng không cần phải tách biệt dấu hỏi và dấu ngã (nhẩn nha và nhẫn cưới), thêm nhiều luât lệ quá chi li, chỉ tạo thêm nhiều phức tạp. Họ đã “Lầm”!

Năm 1969, Tiên sinh NGUIỄN-NGU-Í đã ấn hành một Tác phẩm có Nhan đề “Qê Hương” (Quê Hương). Nó pha trộn đủ thể loại Văn chương: Thơ, Truyện, Tùy bút, Kịch, Nhạc, Hồi ký… Tác phẩm này được Cụ CHÂU-HẨI-KỲ phải khóc thét, Cụ cho là một “kỳ thư” chưa hề thấy trong văn học Việt-Nam! Người ta còn đọc thấy những vần thơ theo thể loại Cách Mạng của Ông, xem ra rất phù hợp với Bà Bộ Trưởng NGUYỄN-THỊ-BÌNH, Miêu duệ NGUIỄN-NGU-Í:

“Ngày mai vạn cánh vời bay,

Thuiền tung buồm cuốn, ngàn mây ánh hường”.

Ta đã thấy i ngắn thay y dài xuất hiện trong chữ “Thuiền”, Độc giả rất dễ đọc nhầm “thiền” hơn là thuyền.

Xin đừng vì “Cái Tôi” của mình quá lớn, để tỏ ra là một kẻ thức thời, biết đi trước mọi người như NGU-Í và phải đứng trên mọi người là Bà Bộ Trưởng! Đó là sự phá hoại nét đặc thù âm vận chữ Việt do Cộng Đoàn Dòng Tên phát kiến và G/sĩ ĐẮC-LỘ hoàn chỉnh. G/sĩ đã hiến trọn đời mình để nghiên cứu cấu trúc ghép vần hệ thống Chữ Việt-Nam-Hóa Mẫu-Tự La-Tinh qua hàng chục năm công sức, cộng với hàng trăm Học giả Quốc tế (Tây, Bồ, Pháp, Việt, Ý…) đã dày công nắn nót, dũa mài nối tiếp. Thì mỗi “Học giả” NGUYỄN THI-BÌNH, không đủ trình độ để đơn phương bổ sung, chính dổi cho hoàn hảo hơn. Nói thế, liệu chúng tôi có phiến diện, có ngây thơ, có chủ quan, có thiên kiến và có cường điệu lắm không? Bộ GD&ĐT có quyền đánh giá và phê phán và nghi ngờ. Chúng tôi xin lắng nghe và giải trình mọi phản biện của Quý Bộ và Bạn đọc khắp nơi.

D. Chữ Tân-Quốc-Ngữ có một Cấu trúc ghép Vần tinh vi đến tuyệt đối :

Những nhận định ở trên, chỉ mới xét về suy luận theo cái nhìn thường tình đơn giản, thiếu chuyên môn. Nhưng thực tế, nếu nghiên cứu kỹ, xét cho sâu, cho sát về cả chiều sâu lẫn bề dày Âm sắc ngôn ngữ tiếng Việt, thì Cấu trúc ghép Vần Chữ Tân-Quốc-Ngữ của G/sĩ ĐẮC-LỘ đã là chi li, tỉ mỉ đến mức độ tinh vi tuyệt đối. Các Nhà Văn Hóa, Nhà Ngữ Học Dân tộc có tầm cỡ từ cổ chí kim đều xác định rằng không một ai có khả năng cải biến Chữ Tân-Quốc-Ngữ, để tìm được độ chuẩn xác, gọn nhẹ, thâm thúy và hợp lý hơn, trong đó có Gs. TRẦN-TRÍ-DÕI, khoa Ngôn ngữ học thuộc Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà-Nội đã trao đổi với vietmamnet. Đây là trọng tâm mà chúng tôi muốn chứng minh cụ thể và nhấn mạnh trong bài viết nầy.

Nếu phải phân tách về “Cấu trúc ghép Vần Chữ Tân-Quốc-Ngữ” cho cặn kẽ, chi li, chính xác, thì dù là một Nhà Trí thức tầm cỡ, có đủ trình độ uyên bác đi nữa, cũng đỏi hỏi phải soạn thảo nguyên một Pho sách đồ sộ, may ra mới có thể tạm chứng minh, có đủ tính thuyết phục mọi người. Nhưng với một trình độ hạn chế của mình, chúng tôi cũng chỉ được phép gói gọn trong vài chục trang giấy bằng đôi nét chấm phá bất dắc dĩ, để nói lên nhứng điểm nổi bật mà thôi. Sự thiếu sót kể cả sự lầm lẫn cá nhân sẽ không thể nào tránh khỏi, còn mong chờ Bạn đọc góp ý chỉnh sửa và bổ sung với tất cả Dân tộc trong tinh thần Xây dựng chung.

III. VẦN TÂN-QUỐC-NGỮ, MỘT CẤU TRÚC CHỮ VIẾT                                                                                                CÓ ĐẦY ĐỦ BẢN SẮC DÂN  TỘC

Chữ Tân-Quốc-Ngữ ta đang sử dụng ngày nay cũng vay mượn từ Mẫu tự La-Tinh như đa số Chữ tượng âm trên thế giới, nhưng đã có những đặc điễm Độc đáo, thoát ra ngoài hệ thống cấu trúc của Mẫu tự La-Tinh như nhiều Mẫu chữ nước ngoài:

A.  Chữ Tân-Quốc-Ngữ là một Mô hình “Việt-Hóa Mẫu-Tự La-Tinh :

Có nghĩa rằng Dòng Tên đã lấy Mẫu Tự La-Tinh biến thành chữ viết của người Việt như nhiều nước Âu, Mỹ, Úc, Á, nhưng không ai gọi đó là La-Tinh-Hóa hay La-Mã-Hóa Âu-Châu, kể cả chữ Trung-Quốc trong hệ Chữ Quan-Thoại hiện tại, cũng viết theo Mẫu Tự La-Tinh như ta, đó không phải là một hình thức La-Tinh-Hóa Trung-Quốc. Đúng nghĩa là “Hoa-Hóa Mẫu Tự La-Tinh” như Việt-Nam và các nước Tây-Âu mà thôi.

Cụm từ “La-Tinh-Hóa Việt-Nam” như giới Hũ Nho Triều đình Nhà Nguyễn thường dùng với ác ý xuyên tạc Giáo Hội Công Giáo sử dụng chữ La-Tinh là La-Mã-Hóa Việt-Nam, cố tình kích động quần chúng thiển cận, ít học, phát động phong trào Thù địch Công Giáo, hầu tiến đến việc tàn sát đến độ làm cỏ sục bùn có tính truyệt đối và rộng khắp qua 3 đời vua, đặc biệt là dưới Triều Vua TỰ-ĐỨC.

Từ Romanisation mà các Nhà Truyền Giáo sử dụng đã có một ý nghĩa khác. Mỗi Tín Hữu Công Giáo mặc nhiên là một Công Dân Công-Giáo La-Mã. Công Dân một Cộng Đồng Thế Giới Công Giáo Toàn Cầu. Ngoài trách nhiệm Công Dân xây dưng Đất nước trần thế của Dân tộc mình, Tín hữu Công Giáo cũng còn trách nhiệm là một Công Dân xây dựng Nước Trời, một Xã Hội Siêu hình muôn thuở. Romanisation không có nghĩa La-Mã-Hoá tiếng Việt, càng không có nghĩa là La-Mã hóa Việt-Nam như nhiều người ta xuyên tạc và ngộ tưởng, lại càng không thể dịch là La-Tinh-Hóa.

“La-Tinh-Hóa Việt-Nam” như xưa nay người ta thường hàm súc một ác ý lại hoàn toàn vô nghĩa.

a) Các nhà Truyền Giáo không hề cố tâm dạy tiếng La-Tinh cho Giáo dân Việt-Nam để thay thế tiếng Mẹ đẻ mình như Nhà Nước Pháp và người Tàu đã dạy tiếng Pháp và Chữ Nho cho dân Việt với chủ trương Pháp hóa và Hán hóa dân ta. Hai Nhà nước đô hộ Pháp Tàu, đã chỉ chuyên dạy người Việt học Nói và Viết Tiếng Hán, chữ Hán và tiếng Tây chữ Tây mà thôi. Người Việt luyện văn, học chữ trong các trường lớp lúc bấy giờ, không phải bằng tiếng Việt và chữ Việt.

Muốn viết thư từ, làm đơn trương, giao dịch phải viết bằng chữ Nho (Miền Trung) hay tiếng Pháp. Họ quyết loại bỏ bỏ hẵn tiếng việt. Phải lệ thuộc vào Văn hóa Chủ Nô. Ngày nay cũng đã từng có Quốc gia hoàn toàn lệ thuộc vào nền Văn hóa ngoại lai, đã bị Anh-Hóa, Hoa-Kỳ-Hóa. Chữ viết vốn có của đất nước họ không còn nữa, họ không còn biết viết chữ Bản địa của mình, như Dân An-Nam ta ngày xưa đã hoàn toàn mất gốc, phế bỏ luôn cả Chữ Tượng Âm Giao-Chỉ của Ông cha! Văn chương chữ nghĩa, phong tục tập quán chỉ còn là của Tàu!

Hiện nay cũng còn một vài Quốc gia Phát triển nếu muốn khôi phục lại chữ viết Bản địa mà ông cha họ đã để mất gốc, hầu trở lại được nền Văn học Dân tộc ngày nay, cũng phải trải qua một thời gian dài và rất dài. Người Do-Thái, thời hồi hương tái lập Quốc 1945, đã không ít khó khăn để quay về chữ viết nguồn cội đã gần 2000 năm mất gốc, nhưng chỉ với một thời gian kỹ lục, từ ngày xuống tàu đến khi bước chân lên lại Đất Nước mình, Do-Thái đã hoàn thành việc trở về lại nguồn cội Chữ viết Tổ tiên! Thực tuyệt diệu đối với một Dân Tộc “quá thông minh”! Các nước khác cũng phải qua nhiểu thập kỷ, chưa chừng có đến Thế kỷ.

b) Giả thuyết Việt-Nam không có hệ thống chữ viết ngày nay, liệu mấy ai theo học nổi chữ Nôm? Tất nhiên theo học Pháp dễ dàng và dơn giản hơn, thì Việt Nam ta ngày nay đã bị Pháp-Hóa hoàn toàn, còn chữ Nho rõ ràng phải lo đi chơi chỗ khác, vì chỉ có giới Quan trường, Đại gia, Quý tộc mới học nổi! Trung Quốc ngày nay đã định nghia Chữ Pháp Lý của Chế độ hiện hành là “Chữ Quan Thoại”, có nghĩa là chữ giao dịch, trao đổi của giới Quan Trường mà thôi. Dân dã không ai học nổi, nếu còn chủ trương dạy “Song tự” (Chữ Tượng Hình và Tượng Âm). Nếu Trung Quốc có chủ trương đào tạo toàn dân đi đến xóa nạn mù chữ, chỉ phải dạy riêng mỗi Chữ Hán Hóa Mẫu Tự La-Tinh mà thôi. Ấy thế mà Công Giáo đã từng bị buộc tội làm Bồi Tây, là bán nước, là La-Mã hóa Dân Tộc! Vậy Chữ Tân-Quốc-Ngữ là một hinh thức La-Tinh-Hóa hay Việt-Hóa?

B. Cách cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ :

Thực tế đã cho ta thấy G/sĩ ĐẮC-LỘ đã đạt đến trình độ ngôn ngữ học hoàn chỉnh, không chỉ rất Khoa học mà còn uyên bác cả về “Thanh sắc” (cao thấp) nhưng còn cả về “trường độ” (ngắn-dài) trong tiếng Việt. Ngoài các dấu Sắc, Huyền, Nặng, G/sĩ ĐẮC-LỘ còn có khả năng cảm nhận cách tinh tế, phân biệt được đến độ tỉ mỉ cả “Dấu Hỏi và Dấu Ngã” mà ngày nay Bộ GD&ĐT cũng đã cảm nhận được, vẫn chưa đủ can đảm gộp hai dấu nầy thành một như i và y. Học trò còn bị bắt lỗi chính tả cách nghiêm ngặt giưa 2 dấu nầy, đó là một bằng chứng.

G/sĩ đã phân giọng đúng theo những thanh âm riêng từng mỗi từ, không phải là một sự bịa đặt vô căn cứ. Hầu hết Dân cư thất học các Tỉnh lẻ và các Đô thị khác ngoài Hà-Nội đều hiểu như vậy. Nếu ai chưa có ý thức lắng nghe “Cư dân chính cống sinh trưởng tại Thủ đô Hà-Nội đọc và nói, đều chưa cảm nhận đầy đủ được âm giọng tiếng Việt có tiết tấu như một “Thanh nhạc nói” với đầy đủ 6 Âm sắc và âm độ tiếng Việt, nó tuyệt diệu đến độ không tưởng.

Giọng đọc và tiếng nói của “Cư dân chính cống gốc Nội thành Hà-Nội và được sanh trưởng tại Hà-Nội” (không xét ở ngoại ô) đã được ghi nhận chính xác trong mọi kết cấu của Chữ Tân-Quốc-Ngữ hiện đại nầy. Xin đừng nghĩ rằng chúng tôi nói quá hoặc đề cao Dân Hà-Nội cách vô ý thức. Vốn dĩ chúng tôi cũng không phải người Hà-Nội, cũng hiếm khi đến “Thủ đô Nghìn Năm Văn Vật”, chỉ may mắn nhờ có nhiều dịp được hầu chuyện với một vài Nhà Văn Hóa, các nhà Sư phạm gốc Hà-Nội trong nhóm Di-Cư 54, mới được học hỏi thêm đôi điều chưa nắm vững!

Chúng tôi xin nhấn mạnh thêm rằng, chỉ có các Nhà Giáo, nhà Văn Hóa, Nhà Ngôn ngữ người Việt thuộc dạng tầm cỡ và Cư dân “Gốc Nội Thành Hà-Nội” chưa bị pha trộn lai tạp thì mới phát chuẩn xác “Âm sắc” và “Âm độ” tiếng Việt, cái mà chỉ có mỗi G/sĩ ĐẮC-LỘ đã tìm ra được, mặc dù Ngài chỉ bị quản thúc một thời gian ngắn tại Hà-Nội vào tháng Giêng 1630 để chờ trục xuất khi có tàu buôn Âu-Châu đến. Tuy G/sĩ ĐẮC-LỘ chỉ tiếp cận với cư Dân nội thành Hà-Nội thời gian rất ngắn, cũng đã nắm vững được âm ngữ, phân định cách chính xác âm giọng cư dân Thủ đô đến độ hoàn chỉnh, đã đủ cho thấy một trình độ nghiên cứu Ngôn ngữ học uyên bác đến độ nào, Đó chính là một Nhân vật kỳ tài, dày kinh nghiệm, mới loại bỏ âm giọng bản địa ở nhiều nơi Giáo sĩ từng cư ngụ, đặc biệt là giọng nói đất Quảng-Nam vì phần lớn Ngài sanh sống và lui tới Hội-An là chính. Ngay cả Đại Học Giả TRƯƠNG-VĨNH-KÝ cũng đã phải nghiên mình bái phục G/sĩ ĐẮC-LỘ về điểm tinh tế nầy.

Đàm thoại trong giao tế hàng ngày, hầu hết người dân gốc Hà-Nội – xin đừng hiểu người dân ở Hà-Nội (dạng Bà Bộ Trưởng NGUYỄN-THỊ-BÌNH) – đều phát âm trầm bổng rạch ròi 6 “Thanh Nhạc Nói” trong ngôn ngữ người Việt. G/sĩ ĐẮC-LỘ đã phân định 2 hệ âm chính Trắc và Bình trong âm ngữ. Giọng Trắc có bốn âm bậc gồm “Thượng Thanh Trắc” là thanh giọng dấu “Sắc” được phát cao nhất. Đến “Hạ Thanh Trắc”, thanh âm dấu “Nặng”, thấp nhất. Đến “Khứ Thanh Trắc” thanh âm dẩu “Hỏi”, được phát giọng bổng đưa hơi vút lên. Rồi đến “Hồi Thanh Trắc” dấu “Ngã”, thanh trầm nặng và hồi lại. Bình có “Thượng Bình Thanh” tức từ vựng không dấu phát hơi cao và “Hạ Bình Thanh”, âm từ có dấu “Huyền”, phát thấp hơn.

Ngoài Thanh nhạc trầm bổng nói trên, Giáo Sĩ còn phân định được cả “Âm Lượng” tương ứng như Nhạc lý, có cả “Trường Âm” và “Đoản Âm”. Nguyên âm “y” phát dài ra như Sử “ký”, Nguyên âm “i” phát ngắn lại như Họa “sĩ”. Xin lưu ý, “ký”“sĩ” độ trường, đoản rất rành mạch và khác nhau không thể nào lầm lẫn được đối với Cư Dân Thủ Đô Hà-Nội.

Cũng thế, các Phụ âm “c” hay “t”, “n” hay “ng” đi liền sau các nguyên âm, đều được phát khác nhau. Phụ âm “C” theo sau Nguyên âm, có độ cắt dứt khoát, như tức khắc, vừa phát thành âm là cắt ngay. Phụ Âm “T” theo sau, có độ lỏng, như vật chất được thả ra. Phụ âm kép “ng” đứng sau nguyên âm, có độ trường như quang đãng phát dài ra, còn Phụ âm “n” đứng sau Nguyên âm thì phát theo độ đoàn như can gián đoạn phát ngắn.

Quý vị nghi ngờ, có quyền kiểm chứng, xác minh thực tế với Giới Trí thức Hà-Nội. Có thể nói được rằng, bất cứ ngôn ngữ nào, hầu hết chỉ có người dân Thủ đô mới phá âm chuẩn hơn cư dân các tỉnh lẽ và đô thị khác. Vì thế, các nhà Từ điển Tiền bối và ngành Sử Học Việt-Nam đã nghiên cứu cách thận trọng, đã xác định những nguyên tắc ghép vần của G/.sĩ ĐẮC-LỘ không thể nào chuyển đổi được dù chỉ một nét nhỏ. Nó đã trở thành máu huyết của một Dân Tộc “Bốn Nghìn Năm Văn Hiến”. Cấu trúc ghép vần Tân-Quốc-Ngữ đã trở thành một “Quy Luật Cố Dịnh” trong Văn học Việt, hầu như bất di bất dịch cho đến muôn đời!

Không giống cách viết của tuyệt đại đa số các địa phương, cứ nói sao viết vậy. Cụ thể người chỉ “Tốt-Nghiệp” Bình Dân Học Vụ, là cư dân Quảng-Nam họ chỉ biết viết Trái xòi thay vì xoài, năm ngói thay vì ngoái (bỏ a), mái nhoà thay vì nhà (thêm o), chó kén (thay cắn), nhen reng thay nhăn răng (đọc ă thành e). Nếu cư dân Nha-Trang, họ sẽ viết hu thay qu, như Ông huan (thay quan), cái huần (quần), vải huyến (quyến). Còn nhiều địa phương viết sai bậy hơn thế nữa, như ch thay tr, con châu thay cho trâu, nh thay l, như nhũy che thay cho lũy tre… cái không hề có ở cư dân nội thành Thủ Đô. Ngoài Hà-Nội, tại miền Bắc, ngay trên nhiều “Tác phẩm”, ta vẫn gặp cách viết đúng như âm giọng bản địa của Tác giả, không khá hơn “Học chò chường nhàng”, trân châu“chân trâu” rồi độc giả cứ “đọc thư phải ráng cầu lý”. Có ai hiểu các Mệnh phụ Phu nhân đã xỏ dây mang trên ngực một bộ phận của con vật để chưng diện, làm duyên, khoe của? Cũng từng có Tác phẩm của một vài Văn sĩ nhà vườn đã “cẩn thận” viết Con Châu (trâu)! Nếu học trò được sống trong tình trạng Mở của Bộ GD&ĐT ngày nay, thì thời gian không lâu nữa, cách viết Bản địa sẽ tràn lan trên sách vở, kể cả sách Giáo Khoa và Từ điển! Văn minh là đó, Văn hóa là đó và Đổi mới cũng là đó!

C. Mt cấu trúc ghép vần đc đáo :

Tìm thấy giá trị cách ghép Vần Chữ Việt của G/sĩ ĐẮC-LỘ ta sẽ nhận thấy độc đáo nhất, có thể nói là vô tiền khoáng hậu trên mọi loại Chữ viết xưa nay trên thế giới (sẽ đề cập sau), nên Nhà Toàn Cầu Bác Học Danh Gia TRƯƠNG-VĨNH-KÝ mới chịu “ngậm nghe” và chịu nghiêng mình tùng phục. Có thế Tiên sinh mới có đủ can đảm để dương đầu với Nhà nước Thuộc Địa Pháp quyết “khai hóa” Dân việt bằng Chữ Pháp và Triều đinh Phong kiến Huế đã quá bị nhiễm độc Nho học, để “Khai Sinh” cho bằng được Chữ Tân-Quốc-Ngữ cho đất nước mình, mà chính Tiên sinh cũng đã trãi qua nhiều ức chế.

Riêng các Giáo Sĩ Truyền giáo lúc bây giờ không hề có cao vọng biến mẫu tự La-Tinh thành Chữ Tân-Quốc-Ngữ cho dân Việt. Các Ngài chỉ quyết tâm đào tạo Chữ mới nầy cho bằng được trong hàng ngũ Giáo dân, như là điều kiện tiên quyết để truyền giáo tại Việt-Nam. Như phương tiện thuận lợi cho việc học hỏi Giáo Lý và nâng cao trí thức Văn hóa Âu-Châu để Giáo dân có đủ điều kiện xuất dương vào các Đại học nước ngoài hầu người Bản địa được thụ phong Linh Mục, Tu Sĩ hầu nối gót các Ngài để bảo tồn Giáo Hội.

JACQUES ROLAND cũng đã xác định: “Nó cho họ (các nhà Tr/giáo, MV chú thích) một phương tiện tiếp cận khá thuận tiện với ngôn ngữ nói; cũng cung cấp một phương tiện trao đổi trí tuệ và giao tiếp bằng văn bản với những giới lãnh đạo người Việt của cộng đồng Ki-tô-hữu, những người buộc phải học thứ chữ mới vì mục đích đó. Tình trạng phổ biến rất hạn chế của chữ Quốc ngữ thay đổi hết sức chậm cho đến giữa thế kỷ XVII. Khi đó, thứ chữ viết dùng chữ cái bắt đầu lan ra trong các cộng đồng Kitô giáo, có lẽ vì lý do an toàn đối lại với chính sách chống dị giáo và có lẽ cũng vì dễ sử dụng”.

Việt lấy chữ La-Tinh làm Chữ Tân-Quốc-Ngữ Việt-Nam, không là mục đích, cũng chẳng là giấc mơ của các Nhà Truyền Giáo Tây phương. Các vị Thừa Sai cũng không hề mở một trường nào có chủ trương dạy Pháp văn thuần túy cho Giáo Dân để Pháp Hoá Thuộc Địa theo chủ trương Bộ Giáo Dục Pháp, dù họ từng khuyến khích và sẽ được “tài trợ kinh phí đến tận răng”.

Hội Thừa Sai Ba-Lê chỉ quyết tâm khai hoá Giáo dân Việt-Nam bằng chính ngôn ngữ Việt và chữ viết bằng tiếng Việt, có được hợp pháp hóa hay không các Ngài cũng chẳng bận tâm. Dù không được phổ biến rộng khắp cho Dân Việt trên đất nước nầy, tối thiểu cũng phải thành hình được một Mẫu Chữ Viết riêng cho Tín Hữu Việt-Nam trong nội bộ Giáo Hội đang đứng trước quá nhiều áp lực giữa Hán Tự và Pháp Văn. Chữ Nho đã chính thức trở thành tiếng mẹ đẻ, đã ăn sâu vào tiềm thức hàng trí giả Việt-Nam, còn Nhà nước Thuộc địa đã quyết tâm thay thế Chữ Nho bằng tiếng Pháp và chữ Pháp. Tất nhiên họ không muốn thấy một loại chữ viết nào khác có mặt nữa, để xen vào ảnh hưỡng tinh thần cho quyền thống trị của họ.

Trong công cuộc đấu tranh phát triển Chữ Tân-Quốc-Ngữ không mệt mỏi, Tiên sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ đã nhiều lần gây bực mình khó chịu cho Vị Soái phủ Pháp tại Sài-Gòn. Vi Thống Soái PAUL VIAL đã một lần gay gắt ra mặt với PETRUS KÝ, mặc dù ông ta luôn dè dặt và tôn trọng PETRUS KÝ, một Nhân vật rất có uy thế trong Chính giới và Văn nhân Pháp. Ông gay gắt: “… hơn một lần tôi đã nhắc nhở Giáo Sư tinh thần Đại Pháp rằng lúc nầy sự thâm nhập ngôn ngữ Pháp, văn hoá Pháp là sự cần thiết để cắt đứt mối liên hệ ngôn ngữ Tàu…….” Tất nhiên muốn ám chỉ sự có mặt của Chữ Tân-Quốc-Ngữ mà Tiên Sinh đang phát động, vì PETRUS KÝ không hề mở trường dạy chữ Tàu cho ai cả. Vấn đề cấp thiết và duy nhất của Bộ Thuộc địa là phải đào tạo Pháp ngữ cho dân An-Nam mà thôi. Trước mắt là tại Sài-Gòn và các vùng Đô thị.

Tiên Sinh đáp lại: “SĨ-NHIẾP, Viên Thái Thú Tàu đã định đồng hoá Dân tộc chúng tôi. Trải qua 1.500 năm, điều đó đã không thành… mọi ép buộc, nhiều khi phản lại chính nó”.

VIAL hỏi ngược: “Vậy theo Giáo Sư, nước Pháp phải bắt đầu từ đâu?” .

Tiên Sinh trả lời dứt khoát không một chút ngần ngại:Hãy cho người An-Nam hôm nay thấy rõ Lang-Sa văn minh hơn sự thô bạo của người Tàu từ Thế Kỷ III (Lang-Sa, tên gọi nước Pháp thời đó. MV chú thích). Trước mắt hãy dùng chữ Việt-Hoá La-Tinh song hành với chữ Lang-Sa trong các trường học và những nơi người Pháp kiểm soát. Như vậy người An-Nam cảm thấy mình cũng được tôn trọng, cũng được có một thứ chữ riêng của mình… Tất nhiên khi đó 2 dân tộc sẽ sớm hiểu nhau và nhanh chóng hoà hợp nhau hơn. Điều nầy Thống Soái LAGRANDIÈRE đã thực hiện từ năm 1864”.

Bối cảnh Lịch sử xây dựng Văn Hoá Dân Tộc, đã chập chững từng bước một đi lên, lê thê kéo dài qua nhiều Thế Kỷ trước nhiều áp lực chống đối lẫn thanh toán của Chinh quyền, Quan lại. Lần hồi mới chính thức thay thế được chữ Nho. Còn Chữ Nôm chưa được thông dụng trong đại chúng và cả về pháp lý. Nhưng dẫu có được chính thức hơp pháp hóa, và đổ công của cũng không thể tạo cho mọi người học nổi.

Trước viễn ảnh mất còn của Chữ Nho lúc bấy giờ, Thi Sĩ TRẦN-TẾ-XƯƠNG (1870-1907) cũng từng khóc:

“Cái học nhà Nho đã hỏng rồi,

   “Mười người đi học, chín người thôi”.                                                                                                                                                                                                                              

Lịch sử phát triển Văn Hoá bị ảnh hưởng  quá nặng nề do cục bộ Chính Trị, bên nầy bị Pháp chèn ép, bên kia bị Triều Đình Huế với lớp Triều thần Quan lại Nho gia bảo thủ tẩy chay. Hàng Quan lại không thể chấp nhận loại chữ ngoằn ngoèo rồng rắn giun bò, kiểu chữ “Mên” chữ “Hời” mọi rợ. Nhất thiết chỉ có chữ Hán, loại chữ ô vuông tượng hình mới là Chữ Thánh Hiền văn minh nhất Thế giới mà thôi. Phương Tây, chỉ là bọn Bạch quỷ Man di! Các cô thanh nữ càng thối thúc người yêu:

“Khuyên chàng gắng học chữ Nho,                                     

“Chín năm thiếp đợi, mười năm thiếp chờ”.

Tưởng chừng tư tưởng NGUIỄN-NGU-Í đã qua đi, nhưng không ngờ nó vẫn còn ám ảnh trong tiềm thức nhiều người cầu danh lập dị, khoái tỏ ra mình là một Nhà Văn Hóa xuất chúng, một Siêu nhân Hiện đại. muốn loại bỏ ĐẮC-LỘ, để trở thành Cha Đẻ cuộc Cách Mạng Văn-Học Việt-Nam. nên Bà NGUYỄN-THI-BÌNH, Bộ Trưởng bộ GD& ĐT hãy còn lặp lại hình ảnh cải biến của NGUIỄN-NGU-Í, xem là một “Nhà Văn hóa Vĩ Đại” nhất của Dân tộc và Loài người! Bà chỉ biết hạn hẹp cách qua loa đại khái trong mỗi chữ “y”“i” mà thôi, không đủ trình độ nắm bắt được mô hình cải cách toàn diện của NGUIỄN-NGU-Í. Vì thế Bà Bộ Trưởng GD&ĐT chỉ quy định như sau: “… trường hợp các âm tiết có nguyên âm i ở cuối thì viết thống nhất bằng i, trừ uy, như duy, tuy, quy…; thí dụ: kì dị, lí trí, mĩ vị. Chú ý: i hoặc y đứng một mình hoặc đứng đầu âm tiết vẫn viết theo thói quen cũ, thí dụ: ý nghĩa, y tế, ỉ eo, ầm ĩ, im, yêu”.

Nếu như thế, xét ra chỉ thay đổi “chút chút” về chữ iy vẫn là điều chưa cần thiết cho ý thức đơn giản hóa toàn bộ cách ghép vần của hệ thống Chữ Tân-Quốc-Ngữ, các quy tắc cũ vẫn còn nguyên hình đến 99,999% là của ĐẮC-LỘ, điều đó cũng là chuyện thừa, không cần thiết, nó có quá khôi hài và lố bịch lắm không. Chưa ai có thể gọi đó là một Quy Định cải cách Văn Học. Cũng chỉ là trò chơi ngông cuồng (silly and extravagant) con trẻ không hơn kém.

IV. CHỮ TÂN QUỐC NGỮ,                                                                                               RẤT XA LẠ VỚI THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI

Hầu như trên thế giới, ngoài chữ tượng hình ra thì chưa một nơi nào xuất hiện loại mẫu tự có âm sắc như chữ Tân-Quốc-Ngữ.

A. Một dạng cấu trúc mới “Chữ Tượng Thanh” :

Chúng ta phải cám phục, và ghi ân G/sĩ ĐẮC-LỘ đã nghiên cứu hết sức tỉ mỉ, chi li và chính xác về Ngữ Âm tiếng Việt như chúng tôi đã trình bày. Bao gồm một cách ghép vần tỉ mỉ đến từng âm tiết, âm sắc và âm điệu nói như có tiết tấu nhạc lý. Chỉ cần đọc hay nói đúng âm sắc như nó vốn có, đã là một “Bản Nhạc Nói Dân Gian” rất đơn giản. Nó không thiếu âm điệu trầm bổng du dương, hầu như không một loại chữ nào có được. Âm tiết mà G/sĩ  ĐẮC-LỘ đã cảm nhận có “thanh nhạc ” như Người đã diễn tả với Đức Giáo Hoàng IN-NÔ-SÊN-TÊ X vào năm 1651 tại Tòa Thánh La-Mã: “…Con đã nghe được những âm thanh có nhạc điệu của giọng nói con người….

Cách đây hơn 2 Thế kỷ, “Hội Thừa Sai Hải-Ngoại Ba-Lê” (Misions Etrangères De Paris, MEP, Pháp), đã kiến thiết ngôi Thánh Đường Đầu tiên tại Sài-Gòn đồ sộ nhất nước. Không ai nghĩ rằng, đó là một Công trình Tôn Giáo đồ sộ đến thế, lại tiềm ẩn bên trong một nét độc đáo rất Việt-Nam đã không mấy người ngờ.

Một giàn Chuông vĩ đại với 6 Cỗ Chuông rất lớn. Mỗi trái chuông phát ra một nốt nhạc từ “sol đến Mí”. Nặng tổng cộng 28tấn 085, treo trong hai lòng Tháp Nhà thờ. Bộ chuông được chế tạo tại Pháp, đưa về Sài-Gòn năm 1879. Trên tháp bên phải treo 4 quả chuông phát ra 4 thanh nhạc Sol, Sí, Rế, Mí,  tháp bên trái treo 2 chuông phát ra  La, Đố.

Ba quả chuông to nhất là “Chuông Sí” nặng 3tấn 150, “Chuông Rế” nặng 2tấn 194 và đặc biệt “Cổ Chuông Sol” là một trong những quả chuông lớn nhất thế giới, nặng 8tấn 785, đường kính miệng chuông 2th25, cao 3th5 (tính đến núm treo, tương đối còn cao hơn nhiều  căn nhà cấp 4 hiện nay). Chuông này chỉ ngân lên mỗi năm một lần vào đêm Giáng Sinh mà thôi, tức vào đêm Đức Thánh Cha ban Phép Lành cho Thành Đô-La-Mã và Thế-Giới.

Các chuông đều được điều khiển bằng điện cơ. Riêng ba chiếc chuông lớn, trước khi cho đổ đều được con người khởi động bằng cách đạp cho lắc để lấy trớn, thì cơ điện vận hành mới nổi, vì quá nặng.

Vào ngày thường, Thánh đường chỉ cho đổ một “Chuông Mí” hoặc “Chuông Rế” vào lúc 5 giờ sáng và 17g30 tối. Ngày Chúa Nhật và Lễ Trọng thường cho đổ 3 Chuông. Mỗi đêm Giáng Sinh thì mới đổ cả 6 chuông. Tiếng chuông lớn ngân xa tới một bán kính 10 km, vào những đêm thanh gió thoảng.

Khoảng năm 1947-48, cách đây hơn 60 năm, đã một lần chúng tôi đã thắc mắc với một Vị Thừa Sai người Pháp, Cha Giáo sư chúng tôi JOSEPH CLAUSE, tại sao Tòa giám mục Sài-Gòn không đúc 7 trái chuông cho trọn bộ 7 Nốt nhạc hiện đại để đặt tại Nhà Thờ Chính Tòa mà chỉ có 6 Cổ với 6 Nốt nhạc là Sol, La, Sí, Đố, RẾ, Mí lại thiếu nốt Fa? Nếu vì thiếu ngân khoản, có thể giảm bớt trọng lượng của 6 trái chuông, vừa nhẹ công đúc, vận chuyển dễ dàng và Thanh nhạc được hoàn hảo?

Ngài giải thích, nếu cần trái chuông thứ  bãy, vẫn không thiếu người dâng cúng. Nhưng Hội Thừa Sai Ba-Lê chỉ muốn sử dụng 6 chiếc với 6 nốt nhạc mà thôi. Nó biểu tượng một hệ thống Vần Chữ Việt do Giáo Sĩ A-LỊCH-SƠN ĐẮC-LỘ đã cấu tạo thành 6 Thanh Nhạc của âm giọng tiếng Việt, để tặng Đất nước Việt-Nam. Trong đó có bao hàm nhiều ý nghĩa. Để ghi nhớ: a) Công trình muôn thuở của G/sĩ ĐẮC-LỘ đối với Chữ Viết tiếng Việt. b) Là Cha Đẻ Hội Thừa Sai Ba-Lê. c) Là Nhà Sáng Lập và Khai sinh Giáo Hội Việt-Nam. d) Việt-Nam là vùng Truyền Giáo đầu tiên của Hội Thừa Sai Ba-Lê, nên cũng là món quà đặc biệt Hội Thừa Sai muốn ưu ái cho đứa con đầu lòng là Giáo Hội Viêt-Nam.

Chúng tôi thắc mắc tại sao G/sĩ ĐẮC-LỘ là Cha đẻ Hội Thừa Sai Ba-Lê và là Nhà Sáng lập Giáo Hội Viêt-Nam? Ngài trả lời nhiều Hội Dòng trước đó đã đến truyền giáo tại Miền Bắc Việt-Nam từ năm 1530 dưới đời Nhà MẠC Thể kỷ XVI. Đến Thế kỷ XVII Dòng Tên mới đến truyền giáo tại miền Nam liên tục, có tổ chức quy cũ chặc chẽ hơn từ năm 1614, nhưng Giáo Hội Việt-Nam chưa được thành hình thành, vì thế chính G/sĩ ĐẮC-LỘ đã thỉnh cầu Tòa Thánh thành lập Hội Thừa Sai Ba-Lê và Hàng Giám Mục Việt-Nam theo Phương án của G/sĩ đệ trình và đã được y chuẩn, cũng chính G/sĩ ĐẮC-LỘ đã được Tòa Thánh ủy thác thực hiện và Ngài đã đặt nền móng ả 2 Cơ sở  Lịch Sử nầy. Do đó, hơn ai hết, G/sĩ ĐẮC-LỘ chính là Cha Đẻ cũng là Vị Khai sinh Hội Thừa Sai Ba-Lê và Giáo Hội Việt-Nam là điều không tranh cãi. .

Với 6 cổ chuông có thanh âm của 6 nốt nhạc, là tượng trưng 6 Âm sắc trong cấu trúc Chữ Việt “Sắc, Huyền, Nặng, Hỏi, Ngã, và Thượng bình thanh (không dấu). Có nghĩa rằng Nhà thờ Chính Tòa Sài-Gòn không hề có một biểu tượng vọng ngoại và vọng Pháp. Tự nó đã đủ chứng minh cho ta thấy rằng Hội Thừa Sai Ba-Lê đã tỏ rõ tình cảm và sự kính trọng đối với đất nước Việt-Nam các Ngài đã chọn làm Quê hương thứ hai, nơi các Ngài quyết hiến thân phục vụ đến hơi thở cuối cùng. Không vì Quê hương, Tổ quốc, nơi chôn nhau cắt rốn mà các Ngài đã đặt nặng tình cảm nước Pháp lên trên Đất nước Việt-Nam.

Trong mọi cơ sở Tôn Giáo trong nước kể đến ngày nay, từng là Đạo Dân tộc, Đạo Yêu Nước, đã có nơi nào tượng trưng Dân Tộc Tính người Việt-Nam chưa, hay cũng chỉ là tàn tích Thờ tự Cô Hồn Các Đẳng bọn xâm lăng cướp nước Nghìn năm? Bao Đình Chùa Miếu mạo các Tướng xâm lược và Anh hùng của Thiên Triều còn đầy dẫy trên khắp mọi miền Đất nước ta? Thành Cổ Hội-An có Chùa thờ LƯU-BỊ, QUAN-CÔNG, TRƯƠNG-PHI, thậm chí thờ cả MÃ-VIỆN (MǍ YUAN), vốn là một Danh tướng người Hán, đã dập tắt cuộc khởi nghĩa của hai Bà TRƯNG-TRẮC, TRƯNG NHỊ năm 43! Việc chinh phạt Giao-Chỉ là Chiến tích lớn nhất của ông ta đối với nước Tàu! Vì vậy, Chính Sử Việt-Nam đã xem Y là tên Xâm lược đáng nguyền rủa nhất. Thế mà Đình, Chùa, Miếu mạo LƯU, QUANG, TRƯƠNG… không ảnh hưởng gì đến Việt-Nam, đặc biệt của MÃ-VIỆN không thiếu Hương Đèn Hoa Nến lễ bái hàng năm vẫn tồn tại trên đất Việt, một đất nước vốn đã bị dày xéo cả nghìn năm nô lệ. Trong khi Đình Chùa, Nhà Thờ, Thánh Thất các Tôn Giáo đã từng bị soán đạt, san bằng, cướp bóc dưới bao nhiêu Chế độ do “Người Việt Một Nhà” cai trị!

Ngoài Hội-An, di sản bán nước ô nhục đó còn tồn tại ở các nơi khác nữa không? Hà-Nội, Hải-Phòng, Thừa-Thiên v.v…? Ai đã tìm được một nét đẹp Văn Hóa Việt-Nam và các cơ sở Văn hóa, Từ thiện nào của họ còn để lại cho Dân ta được hưỡng chút hương thừa? Bao nhiêu Nhà thương, Trường học, Cô nhi viện, nhà Dưỡng Lão, Trại lao, Cùi, Phế Tật còn tồn tại từ đâu? Tuy quân Tàu từng bị đánh gục nhiều phen, từng bị loại trừ  dưới nhiều Chế độ – ngoại trừ Di sản các Hiền nhân Quân tử như KHỔNG-MẠNH – còn lại các loại hình Tâm lý chiến của quân Tàu muôn đời vẫn chiếm ngự đất nước ta qua bao thế hệ, dưới mọi hình thức Lễ hội rập khuôn Văn hóa Vong nô mất gốc!

Liệu đã có mấy ai thấy được điều này, hay chỉ vì cố chấp, cục bộ, định kiến, quyết tận dụng cái gọi là “trí thức” để đả kích, xuyên tạc, bôi nhọ một cách cách kém cỏi và ngây ngô. Lịch sử từng gán ghép các Nhà Truyền Giáo là xâm lăng, tay sai Thực dân! Nước Pháp thực dân thật, nhưng còn đạo đức, tình người hơn bọn Tàu và tay sai của chúng gấp vạn lần, Riêng các Nhà Truyền giáo thì không! Lịch sử đã chứng minh điều đó và Thời gian là một đáp số chính xác và vô tư nhất.

Trong Chữ Tân-Quốc-Ngữ, đã có đến 6 nốt “nhạc nói” với đủ thanh giọng Bình, Trắc, Hồi, Khứ, Bổng, Trầm, Ngắt, Thả. Lại còn có cả “âm độ” trường, đoản khác nhau. Đặc biệt, G/sĩ ĐẮC-LỘ đã đơn giản hóa Văn Phạm tiếng Việt đến mức tối đa, không để biến thể Động từ, Tính từ, Danh từ. Ngữ vựng tiếng Việt Ngài vẫn giữ nguyên hình Đơn Âm tiếng Việt, không kết cấu theo kiểu Âu hóa Liên âm như chữ Hán viết bằng Mẫu tự “Hoa-Hóa La-Tinh” như Trung Quốc ngày nay. Mọi cấu trúc từ ngữ chữ Việt đều là nguyên ngữ bất biến (invariable), không khó khăn phức tạp như các cấu trúc chữ viết theo Mẫu tự La-Tinh ở các nước Âu-Châu.

B. Ứng Dụng Được Trong Mọi Lãnh Vực Đào Tạo Khoa Học :

Một hệ thống chữ viết còn trỗi vượt hơn cả nhiều loại chữ của nhiều nước Đàn anh Siêu cường từng có bề dày lịch sử lâu đời hơn ta, nhưng đến ngày nay họ vẫn chưa hội nhập được nền Văn minh Thế giới. Chữ viết của họ không thể ứng dụng được trong mọi lãnh vực Khoa Học đương đại, như Khoa học Thực nghiệm, Toán, Lý, Hóa… Đặc biệt nhất là ở nhiều quốc gia còn sử dụng các loại chữ tượng hình Ô vuông. Một khi họ muốn hội nhập nền Văn Minh Thế Giới hiện đại, điều tiên quyết là phải nhờ đỡ vay mượn chữ viết nước ngoài. Phải đầu tư cho Giới trẻ một trình độ Ngoại ngữ Tây phương cao, tương ứng cho trình độ ngoại ngữ mới hội nhập được trong Đào tạo Khoa học.

Trong khi VN chỉ cần sử dụng chữ viết nước mình do Dòng Tên phát minh, đồng thời G/sĩ ĐẮC-LỘ đã sáng lập một hệ thống Văn phạm hoàn chỉnh với đầy đủ cấu trúc căn bản như ngày nay là đủ. Quả không một thành quả của bất cứ Tổ chức, Tập thể nào cống hiến cho Dân Tộc ta, có thể so sánh được với một giá trị Văn hóa Dân tộc vô cùng lớn lao đó. Không một ai có thể và được phép phủ nhận rằng, nếu không nhờ có chữ Tân-Quốc-Ngữ, chắc chắn Dân mình đã không được “xóa nạn mù chữ” cách nhanh chóng và toàn diện, cũng đã không bị Pháp Hóa như đã bị Hán hóa ngày nào. Cái đó do đâu?

Chữ Pháp dễ học hơn chữ Hán gấp trăm lần, còn Chữ Nôm chỉ có “Dân xịn” chữ Nho mới mày mò học được. Không một ai chưa thông thạo Hán văn, đã sờ vào được mặt Chữ Nôm. Nếu còn sử dụng Chữ Nho và Chữ Nôm, dầu Nhà nước có đổ bao tiền bạc của cải và công sức đầu tư, cũng chỉ là công dã tràng xe cát, không thể khai hóa Nhân sinh toàn diện. Lẽ đương nhiên dân Việt đã bị đẩy đến tình trạng Pháp Hóa bằng Chữ viết và Văn chương Mẫu Quốc.

Một công trạng vô cùng lớn lao của Dòng Tên và các Nhà Truyền Giáo người Pháp sau nầy đã giữ được người Việt còn nguyên hình Dân Tộc, không để bị Pháp hóa, chính là nhờ Chữ Tân-Quốc Ngữ mà tinh thần Việt vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Chúng tôi tin chắc nhận định nầy sẽ không bị Bạn đọc chối bỏ.

Nếu Trung quốc ngày nay không ứng dụng chuyên biệt Chữ “Hán Hóa Mẫu Tự La-Tinh” để đưa vào hệ thống tiếng Quan Thoại cách triệt để, thì “đời đời” dân Trung-Hoa sẽ không bao giờ xóa nổi nạn Mù chữ trầm kha của họ! Tuyệt dại đa số Dân chúng không đủ sức bỏ ra cả chục năm, để theo học nổi mỗi chữ Nho, nhưng văn chương thi phú cũng vẫn chưa là gì! Họ không dễ dàng giao lưu bằng chữ Quan thoại cách trôi chãy. Thay vì cũng chừng ấy năm theo học Anh, pháp…, văn chương cũng đã lưu loát, toán bút tinh thông, cùng tầm cỡ Tú tài! Chẳng mấy người nước ngoài bỏ công sức, tối thiểu hàng chục năm vẫn không thấm vào đâu với kiểu chữ tượng hình, như một Ngôn ngữ thứ hai.

Các Chứng chỉ Đại học Trung ngữ tại Việt-Nam và các nước khác ngày nay với 4, 5 năm đào tạo, nói chung cũng chỉ ngang tầm vở lòng của lớp khai tâm. Thời xưa, để được gọi là Khóa Sanh, cũng phải miệt mài “Học Chường” cả chục năm, mới nhồi nhét được một số Mặt Chữ thông dụng vào đầu! Có nghĩa là chưa có gì! Còn nói đến Thi Hương, khóa thi thấp nhất trong Nho học để chiếm được Giải nguyên, (Hương cống, Sinh đồ), đầu tóc cũng đã “hoa râm”! Sau đó mới tính đến chuyện “Thi Hội” chiếm Bảng Hội nguyên (Thái học sinh, Phó bảng) rồi “Thi Đình” để lấy Đình Nguyên (Trạng Nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp) thì ôi thôi, có Vị cũng đã đến tuổi “Chiều tà” (độ 50)! Ngoại trừ các Thần Đồng như NGUYỄN-HIỀN-CHÍNH (13 tuổi)! Nhưng nói chung cũng chỉ “Dồi mài Kinh sử” (To read up the [Chinese] classics and history) có tính Từ chương (Thi, Phú, Văn, Đối) mà thôi.

Riêng người Hoa, chỉ học tiếng Trung bằng chữ Tượng hình Ô vuông, cũng phải mất 10 năm đèn sách nhồi nhét hàng loạt kiểu chữ vẽ tranh, mới có thể đọc và viết được, nhưng đến trình độ đọc thông viết thạo, tưởng cũng còn dài. Nếu người ta chỉ chuyên học một hệ chữ Hoa-Hóa Mẫu Tự La-Tinh, thì với thời gian 12 năm, đã đạt đến trình độ Phổ thông (không chỉ mỗi môn Văn chương, Thi phú). Sĩ tử người Hoa cũng đã đứng trước ngưỡng cửa Bách khoa Đại học!

Hầu như người Âu-Tây học tiếng Quan thoại Trung-Quốc, có nơi chỉ học mỗi hệ Mẫu tự La-Tinh mà thôi. Dẫu có tối dạ lắm, cũng chỉ mất một tuần, họ đã học thuộc chưa đến 30  Chữ Cái. Từ đó họ có thể học ghép vần và đọc được dễ dàng bất cứ từ nào họ nghe. Chỉ học 5 năm đã đạt được trình độ Tiểu Học , rồi Trung học Phổ thông không mấy lúc, lần lên Đại học để lấy Chứng Chỉ Cử nhân, Tiến sĩ các Ngành Khoa học. Nếu phải nhồi nhét để nhớ hết từng bức tranh Chữ Ô Vuông của mỗi từ, tất nhiên không đơn giản và thời gian không ngắn chút nào. Thậm chí các Học giả người Hoa, cũng phải tiếp tục học thuộc từng mặt chữ một, những danh từ “mới ra lò”, cũng phải tìm mò học thêm từng mỗi “Bức tranh Chữ” như thế, họ không thể ghép vần cách đơn giản như ta. Có nghĩa họ phải học đọc chữ suốt đời, đến tóc bạc, răng long, đến ngày ôm sách xuống truyền đài, vẫn không đủ! Họ chưa đọc dược hết các Bức Tranh Chữ chưa từng gặp. Chữ Việt thì khác, chỉ cần học thuộc chưa đến 30 Chữ cái thuộc Mẫu tự La-Tinh, có tối trí lắm cũng chỉ một tuần lễ, học thêm cách ghép vần,  cộng chung không hơn một tháng là đủ. Lúc đó người học có thể đọc – dù có hiểu hay không – suốt Bộ Đại Bách Khoa Từ Điển Việt-Nam là điều bình thường, không cần phải chạy tìm người phát âm, đọc giúp bất cứ một chữ Việt nào còn gặp thấy trên đời, ngoại trừ những lối viết Phi Việt.

Vì thế chữ tượng hình không thể nào phổ biến đại trà trong toàn dân đại chúng, nếu Trung-Quốc không đơn giản hóa bằng cách đào tạo đơn thuần mỗi Mẫu tự La-Tinh. Nếu đào tạo theo lối song hành với chữ Tượng hình, thì quần chúng bình dân không thể nào theo học được. Nhật, Hàn… cũng phải mượn Văn học Âu-Mỹ để vào Đại học mới mong tiến thân và phát triển được đất nước mình!

Vì thế các Bậc Học Giả, Nhà Văn hóa, Ngôn ngữ học thời danh đều đã xác định và đánh giá cao Hệ thống Cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ là một “Viên Ngọc Toàn Bích Đến Vô Giá” đã xuất hiện trên Thế giới, mà Hội Dòng Tên nói riêng và Giáo Hội Công Giáo Việt-Nam nói chung đã áp dụng nguyên tắc sáng tạo của G/sĩ ĐẮC-LỘ, người đã dũa mài đến độ hoàn chỉnh và đã hiến tặng cho Dân tộc Việt-Nam như một món quà vô tiền khoáng hậu làm nền tảng Văn Hóa Việt-Nam. Nhờ đó đất nước Việt-Nam có một chỗ đứng trên Văn trường Âu Châu và Thế Giới, và đã tiến một bước dài đến hiện đại hóa ngày nay. Việt-Nam đã tự lập cảnh sinh, độc lập Văn học, không còn bị lệ thuộc Văn Hóa Ngoại Bang như trước.

C. Hướng bổ sung :

Nếu các nhà Văn Hóa lớn cần nghiên cứu bổ sung đưa thêm vào Chữ Tân-Quốc-Ngữ một vài Mẫu Tự, trong đó có sự đề nghị của Ts. QUÁCH-TUẤN-NGỌC – Cục trưởng Cục CNTT Bộ GD-ĐT. Nhà Từ điển LÊ-BÁ-KÔNG…. Xét ra phát kiên của các Ngài cũng có phần hợp lý. Tưởng các nhà Văn Hóa cũng cần xét lại. Về mặt nào đó ta có thể chấp nhận được phần nào.

Nói chung, nhiều người đã đề xuất việc thừa nhận những chữ cái vốn không có trong bảng chữ cái tiếng Việt là F, J, W, Z, nó không thể thiếu trong không ít văn bản tiếng Việt để viết cho các tên riêng nước ngoài. Nhằm xây dựng chuẩn tiếng Việt trong môi trường CNTT. Là hàng Trí giả, không hề có tư tưởng cải cách Vần Tân-Quôc-Ngữ một cách đại trà, vô nguyên tắc. Chưa một ai tùy tiện áp dụng những phát kiến của mình trên Văn bản giấy tờ, một khi chưa được Cộng đồng Dân tộc chấp nhận.

Nói chung những đề xuất đó cũng đã từng bị chống đối kịch liệt, như không quan tâm xem Ts. QUÁCH-TUẤN-NGỌC nói gì.  Theo báo Tuổi Trẻ 10/8/2011 có cho biết: “Về điều này, tôi cần khẳng định ngay là sẽ không có chuyện xáo trộn việc dạy tiếng Việt trong nhà trường, việc phát âm và chữ viết. Việc bổ sung nhóm ký tự trên là để quy định bằng chữ cái tiếng Việt đầy đủ sử dụng trong CNTT và hệ thống giáo dục…”

Rút ra bài học về sự chủ quan của mình cho những đề xuất này, Ts. QUÁCH-TUẤN-NGỌC cho biết, đại để,  để chữ Quốc ngữ hoàn toàn thay thế được chữ Nôm thì cũng phải trải qua mấy thế kỷ cùng sự hy sinh của học giả Nguyễn-Văn-Vĩnh. Vì thế, để F, J, W, Z được chấp thuận hiện diện chính thức trong tiếng Việt hiện đại cũng phải có quá trình và các nhà ngôn ngữ cũng phải nhìn vào sự phát triển của tiếng Việt trong thời đại CNTT chứ không thể lặp lại tư tưởng hủ nho, bảo thủ. Vâng, kinh nghiệm xương máu đã cho thấy sự hy sinh xương máu của học giả NGUYỄN-VĂN-VĨNH, cũng như hàng trăm nghìn sinh linh khác đã nằm xuống cho chữ Tân-Quốc-Ngữ được sinh tồn và phát triển, nên không một ai được phép dẵm đạp lên xương máu của Tiền nhân Tiên Tổ một cách vô ý thức.

Trước những đề xuất thêm, bớt nầy, chúng tôi không dám có ý kiến, vì xét cá nhân mình cũng chỉ là người Ngoại đạo, không đủ trình độ phân tích đúng, sai, không có thẫm quyền xác định một điều gì. Nhưng chúng tôi rất trân trọng ý kiến Ts. QUÁCH-TUẤN-NGỌC đã xác định được rằng nó cũng phải có quá trình và các nhà ngôn ngữ cũng phải nhìn vào sự phát triển của tiếng Việt trong thời đại CNTT. Điều đó có nghĩa rằng Ts. đang chờ đợi một sự quyết định của toàn thể Hàng Trí Giả Việt-Nam với một quá trình nghiên cứu, được thông qua nhiều buổi Hội thảo chuyên đề có quy mô Quốc Gia, chứ không thể một cá nhân nào có quyền nhân danh Tập thể, cũng không một cơ quan quyền lực nào có quyền ký lệnh thay đổi một chi tiết trong cấu trúc Chữ Việt. Không tự mình vung đao múa bút loại bỏ cái mà cá nhân mình tưởng chừng là lạc hậu, lỗi thời, như một tư tưởng hủ nho, bảo thủ, mà mình có trách nhiệm phải loại trừ! Nếu đã bộc lộ cảm nghĩ đó, dễ bị quần chúng đánh giá sai về mình.

Xét về phương diện Việt âm các Danh từ Khoa học và Danh từ riêng phù hợp âm giọng Âu-Mỹ hơn, tưởng cũng rất cấn những Chữ cái mà Mẫu tự Chữ Tân-Quốc-Ngữ chưa thể thay thế được, nhưng tư tưởng thay đổi có tính đại trà kiểu NGUIỄN-NGU-Í không cần phải đặt ra.

Đã từ lâu cũng từng có nhà văn hóa đề nghị, xem ra có phần rất hợp lý, như thêm vào Mẫu tự Tân-Quốc-Ngữ chữ “Z” đọc có “gió” như như chữ z Tây phương. Chữ S nằm giữa 2 Nguyên âm trong Anh-Pháp văn, họ cũng phát âm như z. Khi đó ta mới phiên âm được một số danh từ Khoa học và Danh từ riêng nước ngoài dựa theo phiên âm Âu-Mỹ. Đơn cử như JULIUS CÆSAR, xưa nay ta Việt Âm là GIU-LI-ÚT SÊ-DA. Chữ S giữa 2 nguyên âm “Æ” và “A” (Æ là “e kép La-Tinh”, ghép chung A và E = AE ae và phát âm theo tiếng Việt là ê, khác với “e kép Pháp”, ghép chung O và E = OE oe, phát âm theo tiếng Việt là ơ), thì “S” trong Cæsar, ta đã Việt âm là “D”, xét ra không chuẩn. Chữ S giữa 2 nguyên âm æa của Cæsar phải được phát âm lờ lợ giữa D và X tức “Z”, nhưng Z không có trong Mẫu tự Vần Tân-Quốc-Ngữ. Nếu đã có thêm được Z ta sẽ phiên âm là SÊ-ZA thay vì “SÊ-DA” như trước đây. SÊ-ZA nghe có phần nhẹ nhàng đúng âm giọng nguyên ngữ hơn, cảm thấy có phần văn vẻ, ít quê mùa và thô kệch hơn SÊ-DA. Cũng như “zéro” phiên là zê-rô. Khi làm toán phần nhiều hay đọc “Zê-rô” hơn đọc Không, nhưng nghe đọc “Dê-rô”, như cảm thấy chẳng gióng ai!.

Đồng thời cũng có thể dùng Z thay cho phụ âm D. Phụ âm D tiếng Việt người Hà-Nội vốn phát âm “có gió” như Z, “Dám nói, Dám làm, được phát là Zám nói, Zám làm. Khác với Gi vốn “không gió”, được phát âm như Y hay 2 L tiếng Pháp, trong “envoyer” (ân-voa-giê) và “travailler” (tra-vây-giê). Cụ thể Giám định, chữ giám phát âm “không gió” đồng dạng như “Y” và 2 L (LL) tiếng Pháp. Ngày nay nhiều nơi bắt chước phát “gió tất tần tật” cả dgi! Phụ âm kép gi người ta cũng đã tỏ ra rất hãnh diện khi đọc có gió, nhộm màu “trí thức” hơn: “Ông ta là Zám Đốc sở Ziáo Zục, đã zám nói và zám phản bác Chương trình đã được Hội đồng zám định Trung ương thông qua”! Trong khi đó người Hà-Nội thì dọc: “Ông ta là Giám Đốc sở Giáo Zục, đã zám nói và zám phản bác Chương trình đã được Hội đồng Giám định Trung ương thông qua”.  Đồng thời có nhà Văn hóa cũng đề nghị, nếu đã lấy Z thay D rồi, thì cũng nên lấy D thay “Đ” (bỏ gạch ngang trong chữ Đ), tránh ngộ nhận giữa 2 chữ “d” “đ” đôi khi dễ lẫn lộn, nhất là đối với người nước ngoài đọc tiếng Việt chưa rành.

Đàng khác, ngoài việc thêm chữ Z, cũng có thể thêm một mẫu tự “J”, phát âm như “j” tiếng Pháp (Jeanne, Jacques) hoặc “ge” tiếng Anh(như George, dʒɔ:dʒ), nghe “lai lai” giữa “gi” và “r”. Trong khi “J” tiếng Anh (JOHN) và La-tinh (JACOBUS) đều phát như “gi” tiếng Việt (GIÔN, GIA-CÔ-BÚT). Có như thế mới dễ phiên âm được những Danh từ riêng nước ngoài, JEAN tiếng Pháp, anh em Tin Lành đã Việt âm là “GIĂNG”, Nếu thêm được J ta phiên âm JEAN là “JÂN”, thay vì “GIĂNG” và  JACQUES âm là “JÁC” thay vì “GIẮC”, Cũng thế, HENRY GEORGE (tiếng Anh), phiên thành HÂN-RI JỐT, thay vì HÂN-RI GIỐT. Nhưng Mầu tự F không cần thiết, vì ta đã có Ph, không cần phải Âu hóa thêm, cũng như W, không mấy tương ứng trong âm giọng tiếng Việt, chỉ thêm rườm rà nhưng không thấy cần thiết.

Những đề nghị trên, xét ra có phần chính đáng, vì phiên ra tiếng Việt vẫn giữ được âm giọng “nguyên gốc” của Nhân vật nước ngoài, còn gọi là tên “Tao-Nôi”. Nghe ra không thô thiển và lai tạp, không khó nghe theo kiểu “trại láy”, không gây khó chịu cho người Âu-My khi nghe ta đọc sách tiếng Việt không giống tên họ. còn việc thay đổi, thêm bớt đại trà, thì không thể, vì ta chưa có một sự sáng tạo hệ thống Chữ Tân-Quốc-Ngữ nào khác có độ hoàn chỉnh hơn. Đã không có gì đặc sắc đến độ hoàn chỉnh hơn thì không cần thiết phải thay đổi cả một hệ thống Từ Điển truyền thống đã có quy củ. Nó sẽ tạo thêm nhiều sự hổn độn như đã xãy ra giữa i và y. Từ diển ngày nay phải “ghi chú đều đều” như Địa lý (xem Địa lí), Văn sĩ (xem Văn sĩ), và ngược lại… Cơ hồ một khi sự thay đổi đã trở thành đại trà, thì hệ thống chữ nghĩa tiếng Việt không biết sẽ đi về đâu?

Những đề nghị xem ra hợp lý trên đây, hãy còn là đề nghị. Dù nghe ra rất hợp lý, tuy nhiên cũng đã hơn ½ Thế kỷ qua, người ta còn ngần ngại chưa dám mở ra một hội nghị khoáng đại về Ngữ Học để thảo luận và lấy quyết định chung. Thực tế không dễ dàng để thay đổi khi chưa tổ chức được nhiều đợt hội Thảo Văn Học có quy mô Quốc gia, để lấy ý kiến các Học Giả, Từ điển Gia, Nhà mô phạm, Văn nhân, Thi sĩ, Ký giả…, nói chung là tuyệt đại đa số hàng Trí giả Dân Tộc, như một hình thức tạm thời thay thế Hàn Lâm Viện Văn Học ta chưa có, để quyết định mọi hình thức thay đổi trong Văn Học như nước Pháp. Nó không thuộc quyền hạn của Nhà Nước, của Quốc Hội, càng không thuộc phạm vi quyền hạn của Bộ Văn Hóa Thông Tin và Du Lịch cũng không thuộc quyền Bộ Giáo Dục và Đào Tạo như đã lạm quyền, dài tay phá hoại. Một hành động phá hoại Văn hóa Dân tộc khó tha thứ. Không một cơ quan nào có đủ tư cách quyết định cho phép được sử dụng i thay cho y, không thể cho phép ai viết bừa k thay c và ngược lại như hiện nay (đón x. Khai Hóa Nhân Sinh của Minh-Vân, MV KHNS, trọn bộ).

  V.  TÍNH ƯU VIỆT CỦA VĂN PHẠM TÂN-QUỐC-NGỮ

Nhìn sang các nước Văn Minh Âu-Mỹ, ta phải thừa nhận rằng Văn Phạm Việt-Nam đã được G/Sĩ ĐẮC-LỘ đơn giản hóa gấp nhiều lần.

A.  Cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ của G/sĩ ĐẮC-LỘ hiếm có “Phụ âm thừa” : 

Đặc biệt hơn nữa, các Nhà Văn Hóa lớn đều có một nhận xét chung rằng các phụ âm Chữ Tân-Quốc-Ngữ đều được phát thành âm đúng như chữ La-Tinh. Không một phụ âm nào đứng sau nguyên âm của một từ vựng đã trở thành dư thừa, không được phát thành âm trong giọng đọc và tiếng nói. Khác với các phụ âm nhiều nước Tây phương không hề nghe khi đọc cũng như trong đàm thoại. Mọi phụ âm đã được G/sĩ ĐẮC-LỘ nghiên cứu kỹ đến độ tinh vi trong cấu trúc phát âm đã đến độ thượng thừa.

Như chúng tôi đã trình bày trên, các Nhà Văn Hóa Việt-Nam đều nhận thấy nếu ta phát đúng âm giọng tiếng Việt truyền thống như người Hà-Nội, ta sẽ cảm nhận được chữ đứng sau các nguyên âm như “c” hay “t”, “n” hay “ng” đều được phát âm khác nhau. Nó có độ cắt (như tức khắc), độ lỏng (như chết ngất), độ trường (như quang đãng), độ đoản (như can gián). G/sĩ ĐẮC-LỘ đã phân định cách rất rất chi li, hầu như Bộ GD&ĐT Nước CHXHCNVN còn có Vị chưa cảm nhận được hết các đặc tính phát âm tiếng Việt!

Chữ ng sau nguyên âm của một từ ngữ như chữ Ngang, thì chữ g không bị bỏ sót, nó được phát dài hơn chữ Ngan (không g). Trong tiếng nói, nó có “độ dài hơn” những từ không có g. Đó là nét độc đáo nhất của tiếng Việt mà G/sĩ ĐẮC-LỘ đã phát hiện được và tìm ra cách viết đến độ chính xác của nó. Nhưng ngày nay người ta đã cố tình hủy hoại nó một cách hết sức thương tâm, vì không đủ trình độ nhận thức được cái tinh túy của ngôn ngữ Cha Ông mình là ở đó! Rõ ràng không thể có một nhà Văn hóa nào có được một trình độ nghiên cứu đến dày công và tinh tế như vậy. Chưa hề có ở các Học giả thời danh người Việt xưa nay, kể cả Nhà “Toàn Cầu Bác Học Danh Gia TRƯƠNG-VĨNH-KÝ”.

Nếu đem so sánh với các cấu trúc “Âm – Vận” các ngôn ngữ Âu-Tây, ta sẽ thấy có quá nhiều Phụ âm thừa không hề nghe đến. Còn có những Nguyên âm đọc không giống nhau. Nhưng họ vẫn bắt buộc phải viết đúng như thế trong từ vựng, không một quyền lực nào được cải biến!

Người ta đã đánh giá hệ thống cấu trúc chữ Tân-Quốc-Ngữ của G/sĩ ĐẮC-LỘ là quá khắt khe thì đúng, vì chính G/sĩ cũng không có cuộc sống tùy tiện, tự đơn giản hóa bản thân mình. Cũng chính sự khắt khe đó mới có một Hệ thống Cấu Trúc ghép Chữ Tân-Quốc-Ngữ tinh tế như ta đang thấy ngày nay. Nhưng đánh giá G/sĩ ĐẮC-LỘ là cứng ngắt thì không.

G/sĩ ĐẮC-LỘ rất khắt khe, Ngài không hề bỏ sót một tình tiết nào dù bé nhỏ nhất trong âm ngữ Việt. Chi li và tỉ mỉ đến mức phân định được dấu “Hỏi” và đấu “Ngã” đúng thanh sắc âm ngữ của người dân Thủ Đô (Hà-Nội). Ngay cả dân trí thức người Việt hiện nay vẫn chưa nhận ra âm và điệu của c-t, n-ng đi sau Nguyên âm, nó có âm độ khác nhau như thế nào. Cơ hồ sự tách biệt giữa đấu “Hỏi” và dấu “Ngã”. Nhưng Bộ GD&DDT, Đầu não (nerve-centre) một nền Văn Học Dân Tộc cũng đã không phân biệt nổi sự khác biệt giữa y i với âm độ “trường – đoản” của chúng!

Phê bình G/sĩ ĐẤC-LỘ quá cứng ngắt và lạc hậu quả là lệch lạc. Vì định kiến Ý Thức Hệ, người ta muốn “láy lận” để gây ấn tượng xấu cho Ngài, cố biến dạng Chữ Tân-Quốc-Ngữ trở thành tùy tiện vô nguyên tắc. Người ta vô tình đã đánh phá tất cả nét đẹp Văn hóa căn bản Dân tộc một cách tàn nhẫn, một nét đẹp phong phú và uyển chuyển. Quyển Văn phạm của G/sĩ không hề có một sự gán ghép nào theo kiểu Âu-Tây để gọi được là cứng ngắt. Ngài không cấu tạo cách viết vô thanh và theo dạng liên âm thẳng cứng theo Âu-Tây. Văn phạm Pháp, Bồ, La-Tinh, ảnh hưởng như đã thành thịt, da, xương, tủy và máu huyết của Ngài, nhưng tuyệt nhiên không hề có hiện tượng đó trong Văn phạm tiếng Việt! Sử dụng được “Thanh nhạc” trong chữ viết của ngôn ngữ đời thường tiếng Việt không hề đơn giản. Liệu đã có ai đủ trình độ làm được việc đó không? Rõ ràng G/sĩ ĐẮC-LỘ không hề cứng ngắt, không bảo thủ, không theo các nguyên tắc Âu-Tây.

Ngay trong Văn học Anh, Pháp… đã có những chữ thừa thãi, vô duyên như loại Mạo từ (article) “le, la, les, the” đều hoàn toàn không cần thiết, bỏ đi càng gọn nhẹ, không hề mất nghĩa. Nhưng người ta vẫn phải viết đi lặp lại cả trăm lần trong một văn bản không dài lắm.

Cách riêng, tiếng Pháp có rất nhiều Phụ Âm thừa cuối từ không bao giờ nghe phát, như các chữ “s”, “x”, “d”…. Các danh từ và tính từ số nhiều phài thêm “s” hay “x”, không bao giờ nghe phát thành âm gió giống như La-ngữ hoặc Anh-văn. Dù viết Poix (nhựa), Pois (đậu Hà-Lan), Poids (trọng lượng, sức nặng), đọc hay nói vẫn nghe là “Poi” (Boa) như nhau, không phát gió chữ s, không nghe âm x, cũng không xuất hiện âm “d lặng” nào cả. “X”, “S” “DS” sau  “Poi” như đi chơi chỗ khác! Đã xem ra là quá dư thừa, không nhất thiết phải có đối với kẻ nghe người nói hay đọc, thế nhưng nghười Pháp phải viết đúng như vậy. Những Quy tắc cấu trúc của một nền Văn học đã đi vào quy cũ như vậy, thì phài viết đúng như vậy, không được bớt một thêm hai, hay thay đổi một chữ nào. Nhưng đó lại là nét đẹp Văn hóa, đặc trưng một nền Văn Học Pháp.

B. Là mt trong những loi Văn phm ít Lut trừ và đơn giản nhất Thế giới :

So ra, hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới đều có nhiều Luật Trừ rườm rà (verbose) và nghiêm ngặt hầu như rất ít thấy trong cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ. Riêng Động từ (Verbes) được chia từng “Thì” quá phức tạp (complicate). Nói chung Văn phạm Âu-Mỹ phiền phức hơn văn phạm G/sĩ ĐẮC-LỘ soạn thảo cho Chữ Tân-Quốc-Ngữ gấp chục lần.

a) Chẳng hạn, Pháp văn, phụ âm kép “ch” phải phát âm như chữ “s” tiếng Việt, Cheval (con ngựa) đọc là “sơ-vanh”, cheveux (tóc) đọc “sơ-vơ”…, nhưng Choeur (Ca đoàn), Enfant de choeur (Lễ sinh Công-giáo) phải phát âm là “C”. Vì thế Choeur người Pháp phải phát âm là “Cơ” giống như Coeur là trái tim, thay vì Ch phải phát là S (Sơ)…. Cả hai từ Choeur và Coeur đều phát âm là “Cơ” như nhau, đồng âm nhưng “dị tự” và “dị nghĩa”. Đây chỉ là một luật trừ đơn giản nhất. Vẫn còn quá nhiều Luật trừ khác trong cách thay đổi số ít ra số nhiều của hàng loạt Danh từ (noms) và Tính từ (adjectifs) rất khác nhau, khi là “s” (enfant = enfants) khi là “x” (morceau = morceaux), có khi còn đổi cả chữ cuối và thêm “x” (animal = animaux). Đổi tính từ giống đực ra giống cái chỉ thêm “e” (petit = petite), nhưng còn nhiều luật trừ, chẳng hạn “beau” giống đực đối sang giống cái lại là “belle”….

b) Cách chia các Động từ quy tắc (Verbes réguliers) đã không kém rườm rà. Chỉ xét riêng về cách chia Động từ cho các Thì (temps) trong Anh văn, với Quá khứ, Hiện tại và Tương lai, đã thấy là đơn giản,  nhưng so với động từ tiếng Việt cũng đã quá rườm rà, nó đều ở dạng bất biến (invarable).

Nhưng so với cách chia Động từ trong tiếng Pháp còn phức tạp hơn nhiều lần.  Chia theo các Thì (Temps) có Quá khứ (Passé), Hiện tại (Présent) và Tương lai (Future) với 3 Hình thức (Formes): Chủ động (active), Bị động (passive) và Tự thân (pronominale) với 7 Modes: A- Indicatif có 10 Thì (temps):  1) Le présent, 2) Le passé simple, 3) Le passé composé, 4) Le passé antérieur, 5) L’imparfait, 6) Le plus-que-parfait, 7) Le future simple, 8) Le future antérieur, 9) Le future du passé, 10) Le future anté passé. B- Conditionnel có 3 Thì: 1) Présent, 2) Passé 1ère forme, 3) Passé 2ème forme, C- Subjonctif có 4 Thì: 1) Présent, 2) Imparfait, 3) Passé, 4) Plus-que-parfait. D- Impératif chỉ có Présent, (Passé không mấy khi dùng). E- participe có Présent (chủ động, bị động và tự thân), G- Gérondif có Présent (chủ động, bị động và tự thân). F- Infinitif có Présent (chủ động, bị động và tự thân), và Passé (chủ động và bị động).

Tiếng Pháp có 2 Động từ căn bản “Avoir” và “Être”, được gọi là “Trợ Động từ” (auxiliaire), làm nòng cốt cho các động từ khác trong nhiều Thì chủ động và bị động. Tương tự như “Have” và “Will” trong tiếng Anh, nhưng cách chia và sử dụng phức tạp hơn Anh văn rất nhiều. Phần lớn các Động từ đều dùng Trợ Động từ “AVOIR”. Tất cả các Động từ tự thân (có “Se”) đều dùng Trợ Động từ “ÊTRE” cộng với 13 Động từ có luật trừ chia theo Trợ Động từ “ÊTRE”, như Aller, Venir, Arriver v.v… Động từ thường được chia ra khoảng 21 Thì khác nhau, chưa tính còn phải chia theo thể Bị động.

Nếu ta còn tính đến luật trừ cho cách chia các Động từ phi nguyên tắc (Verbes irréguliers) thì còn phải thuộc lòng (know by heart) đến hàng trăm động từ như thế và cách chia còn nhiều phức tạp hơn nữa. Vì thế, chúng mới được gọi là “Đông từ vô nguyên tắc” với hàng loạt Quy tắc và Luật trừ cá biệt.

Thế mà người Pháp không cảm thấy phiền toái gì trong việc Hành văn cả, họ cho đó là một nét đẹp Văn Hóa Dân Tộc. Chỉ cần đọc qua một bài viết, đủ biểu hiện được trình độ văn hóa của Tác giả. Người bình dân, không đủ trình độ sử dụng hết các Thì (temps) của động từ, thay đổi danh từ, tính từ cách đầy đủ.

Người bình dân Pháp chỉ sử dụng cao lắm là các Thì Présent, Future simple, Passé simple, Passé composé, Imparfait. Còn các Thì Passé antérieur, Plus-que-parfait, Future antérieur, Future du passé, Future anté passé, chỉ giới có trình độ học vấn cao mới sử dụng đầy đủ. Vì thế người Pháp, nói chung là Âu-Mỹ, rất hãnh diện về những cấu trúc phức tạp trong văn phạm mình, biểu hiện rõ trình độ của người viết. Nếu nói hay viết sai Văn phạm, người nghe, người đọc vẫn hiểu, nhưng họ gọi đó là nói “Tiếng Bồi”, viết “Văn Bồi”. Cũng như một Văn bản tiếng Việt viết không phận mệnh đề, sai Chính tả, trừ vài sai sót vô tình, đều bị đánh giá là văn Nhà quê, có nghĩa Tác giả mới thuộc diện Xóa nạn mù chữ, cũng có thể đã “Tốt Nghiệp” Bình Dân Học Vụ. Đừng tưởn rằng chơi ngông như thế, sẽ được người ta đánh giá là con người đứng đắn, có trình độ học vấn cao, thuộc tầm cỡ mô phạm bậc thầy.

Đặc biệt La-Văn, việc chia Động từ “nguyên tắc” và “phi nguyên tắc” không kém phức tạp, nhưng còn nhiêu khê hơn trong cả thuật dụng ngữ cho Danh từ và Tính từ tùy theo vị thế của chúng trong mệnh để (proposition). Vì thế Danh từ còn phải chia như động từ, phải chia theo 12 thể cách (cas), 6 cho số ít (singulier) và 6 cho số nhiểu (pluriel) tùy từng vai trò của nó đối với động từ trong câu. Danh từ làm Chủ từ (sujet) có thể cách “Nominatif” ; là Tiếng reo, Tiếng than (exclamation) thuộc thể cách “Vocatif” ; đóng vai trò Túc từ Sở hữu (complément du nom) là “Génitif” ; ở vị trí Trực tiếp Túc từ (complément direct) có “Accusatif” ; là Gián tiếp Túc từ (complément indirect) đã có “Datif” và Định vị Túc từ (complément circonstenciel) là “Ablatif”. Còn phải chia theo số ít, số nhiều khác nhau, không phải thêm s hay x như nhiều ngôn ngữ Âu-Mỹ. Tính từ còn chia gấp 3 lần Danh từ, phải chuyển thể theo giống đực (masculin), giống cái (féminin) và trung tính (neutre), cũng theo số it, số nhiều, phụ thuộc theo danh từ, rất ư là phiền phức. Chưa nói đến nhiều cách chia các loại Danh từ và Tính từ phi nguyên tắc, nhiêu khê và và rất phức tạp không hề có trong Văn phạm tiếng Pháp. Nhiều từ ngữ La-Tinh còn  có những luật trừ về cách phát âm, chẳng hạn “Nihil” (Nihil novi sub Sole, dưới Mặt trời không có gì bí mật), thì không đọc “Ni-hin” nhưng phải đọc “ni-kin” (Ni-kin no-vi xúp Xô-lê) cũng thế “Fiat Mihi” (xin thể hiện nơi tôi, có nghĩa là Xin vâng) phải đọc “Phi-ách Mi-ki” không đọc Mi-hi… Có nghĩa rằng H ở đây phải theo luật trừ riêng của nó, là phát âm như “K”. Còn với bao nhiêu luật trừ rắc rối khác phải ghi bằng nhiều số không.

Nói chung, Văn Phạm Âu-Tây có quá nhiều rắc rối về Quy tắc và Luật trừ trong cấu trúc một Mệnh đề. La-ngữ và tiếng Pháp, chỉ ngoại trừ mỗi Giới từ (préposition), Liên từ (conjonction), Trạng từ (adverbe) là bất khả biến thể (invariable) mà thôi. Trong khi tiếng Việt, không một từ ngữ nào biến thể, cũng rất ít luật trừ, đó là một đặc điểm đã may mắn được G/sĩ ĐẮC-LỘ hạn chế đến mức tối đa. Văn phạm Việt-Nam không quá nhiêu khê như người ta ngộ nhận.

Trong phạm vi vài chục trang giấy, không cho phép chúng tôi đi sâu thêm nữa, cũng không đủ trình độ để phân tích tỉ mỉ hơn. Chúng tôi chỉ nêu ra một vài sự phức tạp trong Văn Học của đôi nước Văn minh được xem là hệ thống Văn học hàng đầu Thế giới, nhưng so sánh với Văn Phạm và cấu trúc ghép Vần chữ Việt, để thể hiện được một âm lượng, âm hưỡng chuẩn xác thanh giọng Việt, cần phải có một cấu trúc ghép vần chặt chẽ (close) nhưng lại được đơn giản hóa Văn phạm đến mức độ khó ngờ! Vì thế, Bộ GD&ĐT nên quan tâm nhiều hơn, đừng để nền Băn Học Việt biến thành Văn học Bộ lạc, Bảng làng của thời Tiền Sử. Nếu còn nhiều sai sót, mong Quý vị lượng tình góp ý sửa chữa và bổ sung.

Văn Phạm là Nét đẹp Văn hóa truyền thống của các Dân Tộc Văn Minh trên Thế giới là ở đó, ở những Luật trừ không riêng chỉ có ở Việt-Nam. Qua hàng nghìn năm Sử Học, không bao giờ được cải đổi, được đơn giản hóa một cách vô ý thức. Bộ GD&ĐT đã tự ý thay đổi i và y trong cấu trúc ghép vần Chữ Tân-Quốc-Ngữ ngày nay là vô nguyên tắc. Văn Phạm là một Phạm trù Pháp quy Văn học, còn được gọi là “Ngữ Pháp”, như một Định chế Pháp luật, không phải ai cũng có thể thọc tay vào sửa đổi được. Mọi Nguyên tắc Chữ viết trong Văn học, bắt buộc phải tuân hành một cách tuyệt đối như Quốc Pháp, để bảo vệ truyền thống Dân tộc trong Kỷ luật Văn học.Ta nên chấp nhận với tinh thần cởi mở, bỏ đi mọi định kiến, mọi cố chấp cục bộ, để cùng nhau  nối rộng vòng tay bảo vệ Tổ Quốc.

C. Đơn âm của tiếng Việt, là nét đẹp đặc thù của một số nước Châu-Á :

G/sĩ ĐẮC-LỘ cũng đã giữ được nguyên nét đặc thù Đơn âm trong tiếng Việt như LÊ-THÁNH-TÔN, TRỊNH-KIỂM, Hải-Phòng, Hà-Nội không ghép thành “LÊTHÁNHTÔN”, “TRỊNHKIỂM”, “Hảiphòng”, “Hànội”… trên các Văn bản chữ Việt. Các Nhà Thừa Sai Âu-Châu vẫn giữ đúng nguyên tắc trong Phiên âm Việt Hóa Chữ La-Tinh có đủ âm sắc đơn ngữ như BÊ-NÊ-ĐI-TÔ bởi BENEDICTUS. Các Nhà Truyền Giáo đã Việt-hóa thành BÊ-NÊ-ĐI-TÔ không hề Âu-hóa theo kiểu viết “BÊNÊĐITÔ”. Nét đẹp và nét đặc trưng Chữ Việt là ở đó. Trong khi chữ Quan thoại Trung-Quốc đã viết thành “Liên Âm”, như “Fujian” (Phúc-Kiến), “SIMA GUANG” (TƯ-MÃ QUANG), họ đã Âu-hóa đánh mất nét đặc thù đơn âm truyền thống như chữ Hán. Nhưng ngày nay ta cũng đã không thiếu người muốn lai căng Âu-hóa là TÊRÊXA, GIAXINTA, PHANXICÔ học đòi kiểu Trung-Quốc cho ra vẻ Văn minh hiện đại Âu-Mỹ, ý muốn thoát khỏi sắc màu Giao-Chỉ mà họ cho là man di, bẽ mặt là “Ngố”, “Cù lần”, không ra Tây, cũng chẳng giống Tàu!

Có tư tưởng tiến bộ theo đà nầy, chỉ thời gian không lâu nữa ta sẽ viết Hoathịnhđốn, Côngtằngtônnữbíchly, Hồlyvọng, Mạctưkhoa, Áinhĩlan, Quáncàphê, Tiệmhớttóc, Nguyễngiabảo, Nguiễnnguí … thì hết biết. Nhìn thấy dễ ngộ nhận là tiếng Công-Gô! Khi đó mới lộ rõ nét Văn Minh Việt-Tàu, Việt-Mỹ, Việt-Pháp, Việt-Lào, Việt-Camphuchia…!

Ta phải xác định rằng Văn phạm là Luật pháp, là điều kiện, là nguyên tắc ứng dụng Văn Học một Ngôn ngữ. Phải xem đó là một Bộ Luật tuyệt đối Bất Khả Xâm Phạm, không ảnh hưởng chế độ, cục bộ ý thức hệ từng thời. Vì thế, không đơn giản thuộc quyền một cá nhân, một tập thể, một tổ chức nào được đơn phương chỉnh sửa. Quyền đó là Quyền Tác giả, Quyền thừa kế Tác Giả, kế đến là quyền của Cộng Đồng Sở Hữu tức là của Toàn Khối Cộng Đồng Dân Tộc Người Việt cả trong và ngoài nước với sự đồng thuận của Tác Giả. Đó là Quy luật của muôn đời.

Mặc dù Ông LÊ-BÁ-KÔNG, từng là Tác giả nhiều bộ sách dạy Anh văn rất có giá trị trong đào tạo Quốc tế từ thời Việt-Nam Cộng-Hòa, đồng thời Ông cũng là Tác giả Bộ Từ Điển Anh-Việt – Việt-Anh nổi tiếng, từng có phát kiến đề nghị thêm, bớt, thay đổi một số Phụ Âm trong hệ thống Chữ Tân-Quốc-Ngữ. Có nghĩa Ông đã cho rằng Cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ vẫn còn nhiều thiếu sót, theo Ông có thể thái quá hoặc bất cập, vẫn chưa hoàn chỉnh. Nhưng Ông cũng đã đánh giá rất cao Cấu trúc chữ Việt của G/sĩ ĐẮC-LỘ, đã có sự so sánh cụ thể rằng : “Nếu so sánh với Anh ngữ thì quốc ngữ (Việt) hợp lý bội phần; thực vậy, văn tự Anh có thể coi là bất hợp lý nhất, thí dụ một chữ A mà có nhiều cách phát âm: cat (kaet), make (mêk), saw (xo), zebra (zíbrơ), England (íngland), barn (ba:n)… Phụ âm cũng rắc rối lắm: rough (răf), church (tsơts), choir (quái-ơ), cab (kaeb), cease (xi:s)…”  (Tg. không phiên âm theo ký hiệu Qt (IPA) nhưng phiên âm theo ký hiệu LBK, Việt-Nam).

Chúng ta đã thấy rõ, tiếng Anh viết thế nầy, đọc thế khác, không có một nguyên tắc nào để phát âm các phụ âm và nguyên âm được thống nhất. Có thể nói mỗi chữ viết trong Anh Văn đều phải có một “Luật Trừ”. Vì thế, chỉ có duy nhất mỗi chữ Anh là phải chú theo cách đọc cho từng từ vựng. Để biết cách phát âm từng Từ vựng phải “mả hóa” bằng cách sử dụng một hệ thống Ký tự rất phức tạp để đọc ra tên nó. Các ký hiệu như ɱ ɳ ɲ ŋ ʈ ɖ ɟ ɸ β θ ð ʃ ʒ ʂ ʐ ç ʝ χ ʁ ʕ ʢ ɦ β̞ ʋ ɻ ɰ v.v… mà người Anh gọi là “International Phonetic Alphabet” (Ký Tự Phiên Âm Quốc tế, viết tắt là IPA). Cả Nguyên âm lẫn Phụ âm chữ Anh đều phát theo từng từ ngữ, không có một cách phát duy nhất cho một Nguyên âm, Phụ âm. Ví dụ Phụ âm V trong “vacation” (kỳ nghỉ) khác với chữ V trong “love” (yêu).

Thực tế hầu như không có hệ thống chữ viết của một Dân tộc nào phải sử dụng ký hiệu phát âm dành cho cư dân Bản địa. Nếu tiếng Việt, Pháp, Đức, Ý, Nga có kèm theo Ký hiệu phát âm nầy, chẳng qua cũng chỉ là mội lối phô trương vô bổ, vì người bản xứ đã biết chữ thì không ai không biết đọc đúng âm ngữ mình, vì họ viết sao đọc đúng âm sắc mẫu tự của họ như vậy, chẳng ai biết ký hiệu chú giải đó là gì. Tuy nhiên, nếu soạn sách dạy người Anh, lại phải phát âm bằng ký tự IPA. để người Anh dễ học phát âm tiếng Nước ngoài mà thôi. Tuy nhiên một khi người Anh đã thông thạo một ngoại ngữ, họ sẽ tự đọc không phải sử dụng cách ghép Ký hiệu phiên âm Quốc tế nữa.

Chữ Anh chỉ khác với chữ Tượng hình ở chỗ phải viết một ô chữ tượng hình phải viết rõ từng nét như một bức họa, mới có thể nhận dạng và đọc được một từ ngữ. Học sinh phả hcoj thuộc hàng vạn bức Tranh Chữ như thế. trong khi tiếng Anh chỉ chỉ học thuộc mặt mấy chục chữ Cái La-Tinh mà thôi. Người nghe chỉ cần viết theo mẫu tự được nghe đánh vần là đủ. Tối trí lắm cũng chỉ cần một tuần là đã học thuộc nằm lòng mặt chữ cái!

Nhưng đem so với Chữ Tượng âm các nước, người ta viết sao, đọc vậy, nghe sao viết vậy, không cần phải đánh vần cho người nghe “Tên Riêng” của mình. Ví dụ ta nghe một người tự giới thiệu tên Nguyễn-Văn-Liểng, ta có thể viết ngay là Nguyễn-Văn-Liễn, không cần nghe đánh vần. Nếu có sự dị biệt của tên đó, người mang tên chỉ cần lưu ý người nghe rằng Liểng có “g” và dấu “hỏi” là đủ. Vì Liễn đứng mình, không bao giờ có “g” và chỉ có dấu “ngã”. Còn Liểng có g là “Liểng xiểng” có dấu hỏi mà thôi. Liểng có g và dấu hỏi không đứng một mình.

Khác với một người Anh nói tên mình với một Nhân viên người Bản địa, họ luôn được yêu cầu phải đánh vần từng mẫu tự tên mình, vì tiếng Anh viết là một việc, còn đọc hay nói lại là một việc khác. Không giống các ngôn ngữ khác có mẫu tự với cách phát âm căn bản như La-tinh, Pháp, Đức, Ý, Nga… nếu ta đã học biết viết và biết đọc các ngôn ngữ nầy, ta có thể viết được ngay những từ ta mới nghe, dù không hiểu nghĩa. Nhưng Anh ngữ thì không, chính người Anh cũng cần phải nghe đọc từng Chữ rồi mới ghép thành một Từ vựng của mình..

Tuy thế, xin nhấn mạnh lại lần nữa, trên nguyên tắc, không bao giờ có một Cơ quan, một Tổ chức nào, dù có quyền lực đến đâu, đã dám thay đổi dù một nét, dẫu thấy nó hoàn toàn dư thừa và vô lý! Vì đó là “Nét Đẹp Văn Hóa Truyền Thống” cũng là một nét “Đặc Thù của một Dân Tộc Văn Minh”. So sánh như thế, thì Chữ Tân-Quốc-Ngữ đã đạt đến mức độ tuyệt hảo, thậm chí còn trên cả tuyệt vời, thì không có một lý do gì chính đáng để thay đổi cấu trúc của nó, ngoại trừ có thể thêm vào một vài Mẫu tự tùy sự cần thiết từng thời mà thôi. Nhưng cũng không thuôc quyền hạn cá nhân nào tùy ngẫu hứng được sử dụng trên các Văn bản Giáo Khoa và Pháp Lý như Nhạc sỹ, Đỵa lí, như Tổ chức của Bà ĐẶNG-THỊ-LANH đã quyết tâm nhập cuộc (sẽ xét đến sau).

Xét ra chưa có Văn phạm nào đơn giản hơn Văn phạm tiếng Việt do G/sĩ ĐẮC-LỘ nghiên cứu và biên soạn. Trong Thế kỷ XIX, Học giả LUDWIK LEJZER ZAMENHOF, người Ba-Lan, đã cống hiến trọn cuộc đời mình, biên soạn Hệ thống Ngôn ngữ Esperanto, ý muốn thống nhất ngôn ngữ toàn cầu về một mối, được gọi là “La Lingvo Internacia” (Quốc Tế Ngữ). Tiên sinh đã dồn tất cả mọi nỗ lực, cố biên soạn cho được một quyển Văn phạm đơn giản nhất cho ngôn ngữ nầy, để nhân loại dễ học, nhưng vẫn không đơn giản hơn Văn phạm tiếng Việt ta hiện nay. Nghi ngờ, quý vị có thể so sánh. Thế mà không thiếu người Việt thời @, đã than phiền, chê bai, phê bác, chống đối và chỉnh đổi đến vô lý, họ vẫn làm được, viết được và nói được! IQ của họ đã đạt đến mức thượng thừa! Thực hết biết!

Các Học giả, nhà Văn Hóa, Ngôn ngữ học, nói chung hàng Trí giả tầm cao Việt-Nam đã cảm nhận được đầy đủ như vậy, nên tất cả đã trân trọng và bảo vệ hoàn toàn mọi Cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ hiện đại. Các Bậc Thầy nầy đã xem Cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ có một tầm cao không kém Văn minh hơn các nước Văn minh nhất. Thế giới cũng cảm thấy xa lạ với nét độc đáo của loại “Chữ Tượng Thanh” hy hiếm nầy.

VI.  NHỮNG ĐAO PHỦ THỦ TINH THẦN

Bảo thủ cục bộ là tự cô lập mình. Định kiến, xuyên tạc là hành động Tiểu nhân. Phản bội không thuộc truyền thống người Việt vốn là Dân Tộc “uống nước nhớ nguồn”, bao giờ cũng “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây, ăn cơm nhớ kẻ đâm xay giầng sàng”. Là người Việt đúng nghĩa, Cộng Đồng Việt-Nam phải hạ quyết tâm cùng bảo vệ chân lý, bảo vệ lợi ích chính đáng của Dân tộc, Hệ thống Chữ Tân-Quốc-Ngữ, không bao giờ để trở thành hỗn độn do sự hãnh tiến rởm đời (snob) của một thiểu số người có quyền thế, tưởng mình là nhất. Một Cơ quan Văn Hóa có quy mô Quốc gia, qua suốt mấy thập kỷ nay thiếu vắng tầm nhìn Văn Hóa Dân tộc. Một Cơ quan Kiểm duyệt Nhà Nước không bao giờ biết nhìn xa trông rộng, vẫn a tòng thấp kém, đã để lộ rõ bản chất tầm thường!

Chúng tôi không hề dám cường điệu, nói ngoa, phóng đại, để xuyên tạc, cố bi đác hóa vấn đề. Nhưng xét đã đến lúc mọi người từ các vị Cao niên đến các cháu trẻ tuổi vừa bước vào đời, đã là người Việt, đều cần phải lên tiếng, phải can thiệp, phải có thái độ, phải có trách nhiệm trân trọng và bảo vệ nền Văn Học Việt-Nam chúng ta.

Để chứng minh điều đó, chúng tôi xin đơn cử Một Quyển sách có chủ trương dưa vào Chương trình “Giáo Khoa” hiện nay, được Tp. Đà-Nẵng cho ra lò. Nó đã khiến Phụ huynh học sinh giật nẫy mình, choáng váng. Họ kêu Trời, Trời không đáp, réo Đất, Đất làm ngơ!

Một bạn đọc đã gởi đến chúng tôi bức thư của một Phụ huynh Học sinh, có ý giới thiệu cách viết sáng tạo vô cùng mới mẽ trong hệ thống Giáo Khoa, do một số Quan Viên Nhà Nước vừa phát động. Cụ thể người ta đã manh nha đưa vào Chương trình Giáo khoa mục đích khuếch đại phương pháp Cải tổ Chữ Tân-Quốc-Ngữ của Bà NGUYỄN-THỊ-BÌNH một cách quy mô hơn! Chúng tôi xin sao lại trang thư nầy, để Cộng Đồng người Việt trong nước và Hải ngoại tham khảo Văn học mới của Quyển Sách Tân Giáo Khoa đang tiếp tục tiến bước đến giai đoạn “Ngu ý hóa” Tuổi trẻ ngày mai. Nếu Tác phẩm nầy là của một cá nhân nào đó, chúng ta không phải bận tâm, nhừng là của cả một Tập thể Quan chức Trí thức Văn hóa, thuộc hệ Nhà Nước vừa thực hiện, đã bị phát giác. Đó mới là điều nhức nhối, đã khiến chúng tôi cảm thấy rụng rời, như một hiện tượng “Báo động đỏ” cho cho sự phá hoại toàn diện nền Văn học Nước Nhà.

Quả thực, chúng tôi chưa dám tin đây là sự thật, mặc dù cũng đã nghe nhiều lời đồn đãi khá sôi nổi trong dư luận, nhưng vẫn chưa thấy được tận mắt quyển sách Tân Giáo Khoa kia, nên còn cần phải đặt rất nhiểu nghi vấn. a) Không có lửa, sao có khói? b) Một sự xuyên tạc, sao lá thư dám nêu lên xuât xứ đầy đủ Họ Tên của: 1- Tác giả, 2- Giám đốc chịu Trách nhiệm Xuất bản, 3- Tổng Biên Tập, rất ư là cụ thể. c) Còn xác định: 1- Nhà Xuất Bản, 2- Cơ sở In, 3- Cả số liệu in ấn. Có nghĩa rằng lá thư nầy không hề là một trò đùa. Nếu vậy, cũng có nghĩa rằng nền Văn học Việt-Nam sắp giãy chết dưới những bàn tay Đồ Tể Tâm Hồn, đã có tổ chức thành Tập thể quyết dẩy Văn Học Việt đi vào con đường tự diệt!

Chúng tôi xin trich Y Nguyên văn Bức thư để Ban đọc bốn phương tường lãm, đánh giá để được rộng đường dư luận:

“TIẾNG VIỆT NHƯ THẾ NÀY À ?

“Tôi iu tiếng nước tôi, từ khi mới gia đời…”

“Thiệt đúng nà bó chân nuôn!

“Chào thua VN nuôn, thế mà xuất bản được cũng hay thật!

“Sai luôn trong câu:“Dù ai đi ngược về xuôi / Nhớ ngày DỖ (giỗ) Tổ, mùng mười tháng Ba”.

“Chưa hết, từ “cây NÊU” được viết thành “cây LÊU”. Ngoài ra, còn xuất hiện rất nhiều lỗi khác, đặc biệt là bỏ sai vị trí của dấu câu, viết hoa – viết thường.

“Thông tin in trên cuốn vở này cho thấy, tác giả là Đặng Thị Lanh, chịu trách nhiệm xuất bản “Giám đốc Trương Công Báo”, “Tổng biên tập Hoàng Văn Cung”. Vở này do Nhà Xuất bản Đà Nẵng xuất bản, nhưng in tại Công ty in Tổng hợp Cầu Giấy. Số liệu lưu chiểu cho thấy, nhà xuất bản này đã in 2000 cuốn. Trình độ các Tiến sĩ, Thạc sĩ VN XHCN như thế lày thì bó tay rồi…!

Ôi, Tiếng lước tôi từ khi mới gia đời….(<mariadothikimloan@gmail.com> tới <minh vansg@gmail. com> 17:31 31.5.2012).

Xét ra Quy định 30.11.1980 đã tạo ra sự nhức nhối cho nền Văn hóa Dân Tộc Việt-Nam. Tự nó đã biểu hiện một lối viết không kỷ cương, vô luật lệ, khiến mỗi ngày một nhiều phần tử “Xấu hay làm tốt, Dốt hay nói chữ”, muốn phát kiến những ngẫu hứng vô nguyên tắc, để phô trương mình là một “Học Giả”, một nhà “Ngôn Ngữ Học”, đã đẩy nền Văn Học Nước nhà ngày thêm rách nát, thêm méo mó chẳng giống ai! Đã cụ thể đi đến một thực trạng đau lòng như ta đã thấy rõ hôm nay. Quy định 30.11.1980 của Bà Nguyên Bộ Trưởng NGUYỄN-THỊ-BÌNH đã thể biện được những gì và đã đẩy nền Giáo Dục Quốc gia đi về đâu? Nó đã cụ thể chưa và còn có thể chối cãi đàng nào nữa?

Còn ai không nhận thấy loại sách Giáo Khoa nầy không thuộc hệ thống Giáo Khoa trên bình diện Quốc Gia của Bộ GD&ĐT Nước CHXHCNVN ư? Tác giả Biên soạn, Ban Biên tập, Hội đồng Kiểm duyệt, Thượng Quan ký Giấy Phép Xuất bản là ai? Có trình độ ngang tầm là Gs. Ts, Ths, Cử nhân, hay cũng chỉ là lớp Công nhân khuân vác hè phố, thiếu khả năng phân biệt đúng sai? Họ thuộc thành phần Quan chức Nhà nước, hay cũng chỉ hạng con em các tầng lớp Chợ trời? Họ có tầm cở Giáo Dục Quy mô Quốc gia của Nhà Nước XHCNVN không? Hệ quả tất yếu NGUYỄN-THỊ-BÌNH và nọc độc còn tồn đọng tại Bộ GD&ĐT đang lan rộng và thấm sâu trong xương tủy ngành Giáo Dục ngày nay! Ai phải chịu trách nhiệm tinh thần về hậu quả Đào tạo ngu dân hóa nhiều thế hệ đã, đang và sẽ tiếp tục xuất thân từ Mẫu Giáo đến Đại Học, Cao học, nhưng thực chất… sẽ là gì?

Quy định i và y đã giúp cho Bộ Giáo Dục và Đào Tạo rút được những bài học nào trước một biểu hiện tệ hại cho nền Văn học như thế. Phải chăng ngày nay con em quý Ngài đã đi đến giai đoạn Cải tổ biến thành loại Vần “Siêu-Tân-Quốc-Ngữ” đến độ phá hoại Văn Học Dân tộc mà từ xưa vốn chưa bao giờ xuất hiện loại Dịch bệnh thâm độc nầy! Liệu người ta còn lo chuyện Cải Tổ Chữ Tân-Quốc-Ngữ đến mức độ nào nữa đây? Hiện tượng nầy, còn là kỷ lục, nổi trội và đáng thương hơn Giải thưởng Hội Nhà văn Việt-Nam 2008 mà Tác giả NGUYỄN-THANH đã mượn 2 câu âu thơ của Đại Văn Hào NGUYỄN-DU, để diễn tả tâm trạng mình: “Rằng hay thì thật là hay, nghe ra ngậm đắng nuôt cay thế nào”!

Mặt mình dơ không lo rữa, lo phê phán đít người không sạch! Đó là bản chất của nhiều thành phần thông thái thời nay! Sao ưa bới lông tìm vít, sao mê phê phán, sửa chửa những điều vượt quá trình độ hiểu biết của mình?

Phải chi Bộ ba LANH-CUNG-BÁO được mời ra làm Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Pháp, Anh, Ý, Đức, Tây, Bồ… thì họ đã ký ngay Quy định cải đổi hoàn toàn nền Văn Học và cấu trúc ghép vần của các nước “Lạc Hậu” nầy, cho Học sinh họ đở khổ, vì có nhiều rắc rối hơn Chữ Việt ta bội phần. Tiếc thay!

Tác phẩm Giáo Khoa nói trên, không thể do một người vô ý thức, cũng không phải của nhóm Dân đen ngu dốt chơi ngông, nhưng của cả một Tổ chức, một tập thể Quan chức Bậc thầy đất nước, thuộc diện có máu mặt trong hệ thống Giáo Khoa Dân tộc. Trong đó không thiếu những khuôn mặt có Học hàm Học vị Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ, Cử Nhân! Ghế thư ký, trực phòng tồi nhất cũng phải xuất thân Tốt nghiệp Cao Đẳng. Nói chung đều là hàng Trí giả cấp cao, gồm Soạn giả, Giám Đốc, Ban Biên Tập, Nhà Xuất Bản, Công Ty in Tổng Hợp, đâu phải một nhóm “xà bần”? Một tầng lớp Trí thức chọn lọc như thế, lại không một ai phát hiện ra cách viết lách trong một Tác phẩm Giáo Khoa không khá hơn dân xó chợ đầu đường! Đáng thương cho Dân Tộc Việt-Nam!

Trong khi đó, giới phụ huynh học sinh, thuộc tầng lớp Bình dân ít học, chỉ nhìn qua đã phát hiện ngay được sự dốt nát trong ngành Giáo Khoa đến vô tiền khoán hậu nầy, xuất phát từ các Nhà Thông thái thuộc hàng Quan Viên bậc Thầy Tổ Quốc. Không là điều lạ sao? Còn tuyệt diệu hơn, Vị Quan Viên và ban bệCơ Quan Kiểm duyệt Nhà nướccó bề thế và quy mô như vậy cũng đã Ấn ký một Quyết định cho phép Xuất bản Tác phẩm Giáo Khoa cỡ đó. Phải chăng Quý Ngài thực tình không đủ trình độ để thấy được những sai lầm sơ đẳng nhất, mà trẻ con cũng thừa thấy được, hay cùng một hệ phá hoại Văn hóa Đất Nước như nhau?

Ai đã thọc tay vào sự phá hoại Văn hóa Việt-Nam cách tịnh vi và đầy khoa học, được kéo dài từ Bà NGUYÊN-THỊ-BÌNH đến nay? Ai phải liên đới chịu trách nhiệm cho một Tổ chức vừa hữu hình vừa vô hình đáng ghê tởm nầy? Xin nhường quyền phán định cho Cộng Đồng Người Việt ở tận khắp bốn phương trời Thế giới.

Phải chăng đây là một cuộc “Trắc Nghiệm” có quy mô lớn, như một hình thức thả diều xem gió, để tiến đến một cuộc Cách Mạng Văn Hóa đợt II cho thật thâm sâu trên toàn Đất Việt? Nếu không gặp sự đối kháng nào, thì những mâm bát nầy sẽ còn đục khoét hoàn toàn cân nảo nền văn hóa Việt-Nam đến mức độ nào? Quyền Phán quyêt nầy hoàn toàn tùy thuộc Thẩm quyền của Nhà Nước CHXHCNVN.

Chúng tôi tha thiết thính cầu Bộ Chính Trị, Nhà Nước và Chính Phủ cần có thái độ cụ thể và biện pháp mạnh đối với tập thể phá hoại nền Văn học Dân tộc có tổ chức nầy cách công khai. Cần loại trừ các phần tử “Sâu Văn Mọt Sách” ra khỏi ngành Giáo dục không thương tiếc. Chận đứng mọi hành vi phá hoại có tính gián điệp, đang âm thầm đục khoét não trạng Tổ Quốc ta cho thối rữa, hầu hủy diệt nền Văn Học Nước Nhà tiếp tục cảnh ngu dân thời SĨ-NHIẾP.

Nếu không bị Quần chúng phản đối kịp thời, ngày mai loại Việt văn “Siêu Tân-Quốc-Ngữ” sẽ xuất hiện phổ biến khắp nơi nơi kể cả các loại Văn bản Pháp lý, không loại trừ trên bình diện giao dịch Quốc Tế, cũng sẽ vô cùng thê thảm! Lúc đó ta phải mượn chữ viết Đàn Anh Nước Ngoài để giao dịch Quốc tế vậy!

Trong chế độ Giáo dục gần như xả láng ngày nay, ai cấm người ta làm Hợp đồng Tư pháp, viết Đơn từ như mẫu mã dưới đây, để đệ nạp lên Tòa Án, các cấp Chính quyền Nhà nước:

KỘNG HÒA XẢ HỘI CHŨ NGỈA VIỆC NAM

Dộc lậb-Tự zo-Hạnh fúc

DƠN TRANH CHẤB KHẨNG KẤB

                                                                   Dà Nẳn, ngày 17 thán 6 năm 2012.

                                    Kính gởi : Ủy Pang Nhâng Zâng  Tf. Dà nẳn,                                                                      

Thưa Ủy Pang, thưa Qí kấb,

Chúng tôi, Trầng Thỵ Záb, sanh 19,8,1950, Dịa chỉ thườn trú: 15 Trưn Nử Vươn, Fườn Thạt zán, Dà nẳn. Số CMND/Giấy ĐKKD: 024.299.735, Ngày kấb: 14.6.2006, Nơi kấb: Tp. Dà nẳn. Qốc tịch: Việc Nam.

Đối tượng tranh chấp: Nguiển thỵ Pình, sanh 11.05.1972. Dịa chỉ: thườn trú 18  đườn Lạt Long Qân, Dà nẳn. Số CMNZ: 024.605.859, Ngày kấb: 21.01.2008, Nơi kấb: Tf. DN. Diện thoại: 0511.3852.769. Qốc tịch: Việc Nam. Chủ kăng hộ sát vách nhà chúng tôi.

Nội zung tranh chấb: đang tái thiếc kăng hộ và đã tùy tiệng léng lút đục tườn và trụ pê tông kăng hộ chúng tôi và dúc pê tông áb sác Tườn, Dà, Cột nhà chúng tôi nhưng ko thông qa í kýến kủa chúng tôi, là hành vi vi fạm sẽ đem đến nhiều nguy hại cho tài sản lyền kề, có thể sụp nhà và gâi nguy hyểm đến sinh mạn za đình chúng tôi, một khi pị sụt móng, vì nhà không đóng kừ đào móng zưới kột trụ sắc kao đến gần 8 mét.

Iêu kầu :

– Puột i thỵ  fải tháo zỡ trả lại hiện trạn pan đầu theo ranh đấc thẳn đứn.

– Kyểm tra vyệt xây zựn kó zấi fép không ?

– Nếu kó thì vyệt thi kông có dúng qi trỳnh kĩ thuậc xâi zựng theo sơ dồ thiếc kế dã dượt zuyệc ký không?

Dể đảm pảo sự nghyêm minh của Fáb Luậc, tôi xin:

UPND thành fố lậb pyên pản dối với việt vi fạm của i thỵ, puộc i thỵ fải ngyêm chỉnh chấb hành nội zung Pyêng Pảng hòa gyải ngày 8.9.2012 là fải ngưn ngay vyệt thy kông xâi zựn cho dến khi có kết qả giải quiết tranh chấb của Kơ qang có thẩm quiềng.

Puộc i thỵ ngiêm chỉnh chấb hành “Ngĩa vụ tôn trọng, pảo dảm trậc tự an toàn xã hội trong xâi zựng” qy định tại Đyều 264 Bộ Luậc Zân Sự.

Xin chân thành piếc ơn Ủy Pan và Qí Kấb,

                                     Đà Nẵng, ngày 17 thán 6 năm 2012.

 Dươn dơng,

  (Kí tênh)                                          

                                Trầng Thỵ Záb

Những loại Đơn trương thế nầy, UBND Tp. ĐN có “zui zẽ” thụ lý và có thỏa mãn cho đương đơn cuồng ngông, cố tình khinh miệt đến thế này không? Nếu không, sao cả một tập thể Viên chức trong Hệ thống Giáo Khoa Nhà nước tích cực Hổ trợ và được Ban ngành Kiểm duyệt Nhà nước ưu ái ký giây phép cho ấn hành loại Sách Giáo Khoa không kém phần ngông cuồng khinh miệt cả một Dân Tộc Việt? Như thế có ý gì, có nghĩa gì và có dụng tâm gì?

Cộng Đồng người Việt trong cũng như ngoài nước không thể tha thứ được cho hành động khinh suất nầy của Nhóm Cán Bộ Nhà Nước hiện hành nầy. Ai có thể đọc trôi viết gọn đoạn văn ngắn nầy không? Nó có tính Độc lập Dân Tộc hơn loại chữ Nhà Nước ta đã sử dụng từ năm 1945 đến nay không? Nó còn dễ đọc hơn, và có tiến bộ hơn cả các bài viết của Thầy BEN-TÔ THIỆN, I-RÊ-XI-CÔ (IGESICO) VĂN-TÍN và các Giáo sĩ Truyền Giáo đã viết trước Thập kỷ 60 Thế kỷ XVII hay còn thụt lùi lạc hậu man di hơn nữa? Dân Việt muốn được đọc trôi, viết gọn loại “Văn chương Siêu Dân tộc” nầy, có phải trở lại ghế nhà trường để đươc Thầy cô thuộc lớp người Miêu duệ “NGU-Í NHUIỄN-THỴ-PỲNH” đào tạo lại.

Là Hàng Trí thức có trình độ Văn hóa chuyên nghiệp tầm cỡ Quốc gia như Tác giả ĐẶNG-THỊ-LANH, Giám đốc TRƯƠNG-CÔNG-BÁO, Tổng biên tập HOÀNG-VĂN-CUNG và tập thể Nhà Xuất bản Đà-Nẵng, Công ty in Tổng hợp Cầu-Giấy, kể cả Ban bệ Kiểm duyệt Nhà Nước CHXHCNVN phải nghĩ gì? Đây không phài là hệ lụy (corollary) từ nền tảng Cách Mạng Giáo Dục của Bà NGUYỄN-THỊ-BÌNH đó sao? Giả dụ rằng chúng tôi đổi mới cách viết Cao danh quý tánh các Ngài là DẶN THỴ LANH, TRƯƠN KÔNG PÁO), HOÀN VĂN KUNG… liệu Bản thân các Ngài và Tôn tộc cháu con có gật đầu chấp nhận cách hãnh tiến vì Ta và giòng tộc đã đổi mới theo nếp sống Văn Minh vượt bậc nầy không? Nếu thấy thế là trái mắt, là bất thường, sao xem hành động tùy tiện chuyển đổi cả một hệ thống Văn Học Dân  tộc đến vô tội vạ như thế, Là Nhà Trí thức, là hàng Mô phạm Quý Ngài không xem đó là điều xúc phạm đến cả Cộng đồng Người Việt trên khắp Năm Châu Bồn Biển ư?

Quý vị có suy nghĩ gì về những cảnh tượng phá hoại tinh thần như những tay Sát thủ Tâm hồn Việt đến mức tởm lợm (keck) thế nầy không? Đây là bản chất phá hoại của Bộ GD&ĐT xuất hiện từ thời Bao cấp vẫn còn được tồn tại và có chiều hướng phát động quy mô hơn? Xét ra, Bộ GD&ĐT phải tự cảm thấy ô nhục trước một Ngoại kiều người Mỹ đã nói và viết tiếng Việt chuẩn xác gấp 10 lần Bộ trưởng Giáo dục Nhà nước NGUYỄN-THI-BÌNH. Xin được đơn cử cụ thể sau đây:

Người ta chưa từng gặp được mấy nhân vật có tầm cỡ GsTs Việt Văn, nếu không phải Cư dân Nội thành Hà-Nội chính hiệu (không hiểu chung chung là dân nhập cư, người ngoại ô và ở ven đô Hà-Nội), đã phát âm tiếng Việt đúng và hay như Lm. JOHN TABOR, người Mỹ phục vụ tại Giáo phận Đà-Nẵng trước 1975. Ngài nhập Quốc Tịch Việt-Nam, và Ngài đã phiên âm tên mình, JOHN TABOR, ra Hán-Việt là “DƯƠNG-TÂN-BẰNG”. Ngài cắt nghĩa DƯƠNG-TÂN-BẰNG là “Người Bạn Mới từ Đại Dương”. Lm. DƯƠNG-TÂN-BẰNG bị trục xuất, đã sang Thái-Lan sau ngày Giải phóng, trú tại Udongtani 41000, Thailand. Ngài đã phát âm tiếng Việt rất chuẩn, chính xác như một người dân Trí thức Hà-Nội. Chính xác hơn hầu hết các Nhà Giáo, các Lm. người Việt ở các Tỉnh và thành phố khác trong cả nước.

Bất cứ ai nghe ngài giảng nhưng không thấy mặt đều lầm tưởng là người Hà-Nội thực thụ, không thể nhận ra là một người ngoại quốc. Không ai có thể viết sai chính tả với tiếng nói và giọng đọc của Ngài. Phân biệt được độ đoản của “i” (ngắn) và độ trường của “y” (dài). Tách bạch rạch ròi giữa dấu Hỏi và dấu Ngã. Nghe phân biệt rõ C và T, N và NG sau nguyên âm, không tạp nhạp lẫn lộn giữa i và y. Mỗi lần tiếp xúc với Ngài, đã khiến chúng tôi cảm thấy ngượng. Mình là người Việt, nhưng không có được âm giọng tiếng Việt như Ngài. Tuy rằng Ngài mới đến Miền Nam Việt-Nam từ thập niên 60 của Thế kỷ XX, chưa từng đặt chân đến Hà-Nội dù chỉ một ngày. Nhưng đã học và nghiên cứu kỹ âm sắc tiếng Việt với Lm. NGUYỄN-CHÂU-HẢI tại Đà-Nẵng, một Linh mục dân Bắc 54.

Trong khi đó, một Bộ Trưởng Giáo Dục đã từng định cư tại Thủ-Đô Hà-Nội, đảm nhiệm một Thiên chức làm Thầy các bậc thầy một Đất nước. Bậc Thầy mọi cấp Trí thức từ Đại Học, trên Đaị Học. Dù ai có là Gs, Ts, Học giả, Nhà Văn hóa, cũng phải cúi đầu vâng dạ tuân hành, lại không có một tầm hiểu biết cơ bản về nguyên tắc phát âm tiếng Việt, không phân biệt được âm hưởng giữa i và y cũng là chuyện vô cùng đáng tiếc! Không cảm thấy ngượng với người nước ngoài và không thẹn với Khối Trí thức Dân tộc là cộng đồng SV-HS, lớp con em trực thuộc quyền đào tạo của mình, để các cháu phải phản ứng, phải khóc ré lên. Quà là hiện tượng báo động một sự điêu tàn Đất nước! Mĩa mai thay!

Chúng tôi chỉ xin đơn cử một vài Thư Phản hồi bộc lộ sự thao thức của nhiều Tác giả lo lắng cho cách viết lách của ta hiện tại. Dưới đây là Bức thư của một trong số các cháu Sinh viên:

“Chào ông! Sau khi đọc xong bài viết Thỉnh Nguyện Thư(1) của ông con rất tự hào về hệ thống chữ viết của Việt Nam.

“Đâu phải dân tộc nào cũng có được hệ thống chữ  viết hoàn chỉnh và khoa học đến như vậy.

“Việt Nam nằm gần Lào, Campuchia, Trung Quốc và nhất là bị ảnh hưởng rất lớn của nền văn hóa Trung Quốc, ấy vậy mà hệ thống chữ viết của Việt Nam lại tiến bộ hơn. Người Việt Nam dễ dàng tiếp cận được với nền văn hóa thế giới hơn.

“Hệ Thống chữ viết của Việt Nam phân định rất rõ ràng các nguyên âm phụ âm, a, ă, â…. khắt khe với lỗi chính tả. Ấy vậy mà những nguyên tắc ấy đang dần bị bãi bỏ. Thật là đáng buồn.

“Bây giờ, đang dần hình thành thêm ngôn ngữ Teen và ngôn ngữ IT…. những người lớn tuổi không thể nào hiểu  nổi được ngôn ngữ đó, mặc dù nguyên tắc chính tả vẫn còn.

Rồi thế hệ con em chúng ta sẽ không còn nguyên tắc nữa, sau  này không biết sẽ hình thành thêm ngôn ngữ gì nữa. Rồi sẽ có 1 ngày công dân Việt Nam sẽ giao tiếp với nhau bằng chữ viết một cách khó khăn. Thật đáng buồn thay!!” (thanh huuu, <sohuyet_girl@yahoo.com> 21:04.06.10.2011).

Xin đơn cử thêm một thư khác cùa một Trí giả trong số Bạn đọc lớn tuổi cũng tỏ bày những tâm trạng từng ray rứt của mình không kém :

“….. Bài GIU-DÀ THỜI ĐẠI @ của ông khi đưa lên mạng từ 23 trang sẽ thành hơn 30 trang… Chưa kể Thỉnh Nguyện ThưMINH VÂN còn dài hơn gấp mười mà có trên Google cũng là niềm hảnh diện cho tác giả biết bao.

“Nếu đọc sách truyện thì trăm trang là chuyện bình thường, nhưng tôi chưa có dịp đọc thấy một bài KHẢO LUẬN nào mà dài đến hàng trăm trang. Các bài viết của ông phải nói đúng là những bài khảo luận, vì ông nói có sách mách có chứng, có bố cục mạch lạc và lý luận chặt chẻ. Không mấy ai có trình độ viết dài hai ba trăm trang mà thu hút độc giả đến như thế!

“Tôi còn nhớ mãi Thỉnh Nguyện Thư 8.12.2010 (1)  của ông, một CÔNG TRÌNH vô tình tôi được xem, có đoạn bàn về CHỮ QUỐC NGỮ…, Tôi phải khâm phục sự hiểu biết sâu và rộng v.v… của Tác giả! Tôi vẫn có ý định viết nhiều bài nữa để đánh đố những lề thói càn rỡ trong và ngoài Giáo hội nhưng… 

“Xin chúc mừng Tác giả  và mong SẼ CÓ NHIỀU BÀI KHÁC HƠN. Thân kính. LÊ THƯƠNG”. (thuongle <thien-thanbenho.555@yahoo.com>, 17:52 Ngày 29 tháng 10 năm 2011.“Re: “HÝ HỌA !! MINH VÂN” 00:13.15.10.201).

Như thế thì Bà Bộ Tưởng GD&ĐT lại cho là Tiến bộ, là Cải cách văn học, văn hóa ư? Là bộ mặt Văn minh, là đơn giản và gọn nhẹ cách viết đấy ư?

VII. NHỮNG HÌNH THỨC CẢI TỔ

Xét ra nền Văn Học Việt-Nam hiện đại cũng đã được đổi mới khá nhiều điều bất hợp lý, đã xãy ra những hiện tượng bất thường từ nhiều phía.

A.  Những biểu hin đối nghịch :

Bà Bộ Trưởng NGUYỄN-THỊ-BÌNH vừa ban hành quy định thay chữ “y” thành chữ “i” (địa lý = địa lí), đã xuất hiện ngay một số nhà Trí thức đã biểu lộ nhiều hình thức phản đối mạnh mẽ và tích cực. Đáng chủ ý nhất, họ đã công khai đánh phá Quy Định của Bộ, thay vì  lấy “i” thay “y” (Địa lý phải viết là Địa lí) , thì đã bị người ta đánh trả ngay, họ đã đồng loạt viết đảo ngược lại, đã biến “i” thành “y”(ca sĩ = ca sỹ) như một cái tát khá nặng!

Rõ ràng Bộ ban hành Quy định chưa được bao lâu đã bị quần chúng phản ứng, ném Quy định nầy vào sột rác một cách không nễ nang ngay trước mắt. Chẳng lẽ cả Bộ GD&ĐT đã không nhận ra đó là một hành động khinh thường, chống đối quyết liệt, kể cũng là chuyện lạ! Nếu thế, cũng đã đủ thấy một biểu hiện sự “nhạy cảm” của một tập thể “Trí Thức” cấp Quốc Gia!

Phải chăng Bộ đã không còn dám đưa ra một biện pháp bảo vệ Quy định của Bộ, nên lại giả vờ vui vẻ chấp nhận cái tát như như Trời giáng cho bài học sáng tạo mới trong Hệ thống Văn học Việt-Nam bằng cách chấp nhận cho viết i thay y hay ngược lại cũng được. Một sự chấp nhận Ô nhục, tạo thêm nhiều tùy tiện theo ngẫu hứng các nhân sau nầy đến vô nguyên tắc trong ngành học thuật của một Bộ Văn hóa, Đầu não (nerve-centre) một Quốc gia!

Đã muốn đơn giản hóa đến như vậy, thì đâu cần một quy tắc văn học nào nữa, Bộ chỉ cần thông báo từ nay hủy bỏ mọi hình thức Chính tả đã đầy đủ và toàn diện lắm rồi. Còn ban hành Quy định nầy hướng dẫn nọ thêm rườm rà, còn bị đánh trả đến mất mặt! Đó có phải một trò hề, để phải bị loại ngay trước mắt. Nhưng vì quá coi trọng sĩ diện, không chịu sửa sai, cứ làm ngơ cho buông trôi về đâu mặc kệ. Không biết khắc phục sửa chữa, không dám tuyên bố  hủy bỏ Quy định đã bị Tập thể Cộng đồng khạc nhổ công khai? Đó là thái độ của một Tập thể Quan Chức Văn Hóa cao cấp có quy mô Quốc Gia?

Nếu nghĩ quy định của mình là đúng, sao không có biện pháp bảo vệ, kiên quyết áp dụng dứt khoát? Sao không có trách nhiệm ra Quyết định cấm mọi hình thức viết lách bừa bãi, có biểu hiện đối nghịch? Nếu vì quá tôn trọng “Quyền Tự do Dân chủ Cá nhân” dưới mọi hình thức tùy tiện, vì sao không thu hồi hủy bỏ Quy định iy, và bỏ mọi quy định khắt khe về Chính tả? Ban hành một Quy định có Quy mô Quốc gia để lấy “Oai”, để phô trương quyền lực, muốn tạo Dấu ấn cá nhân, biểu hiện mình là một “Học Giả Siêu Hạng”?

Có phải chăng vì đó mà Tiến sĩ PHẠM-VŨ-LUẬN, Bộ Trưởng GD&ĐT đương nhiệm đã thanh minh “Tôi không nghĩ đến việc tạo dấu ấn cá nhân” chăng?

B. Gạch nối hầu như bị hủy bỏ hoàn toàn lại biến thành nhiều lẫn lộn:

Hệ thống Văn Học Việt-Nam Mới đã có xu hướng bỏ “Gạch nối” trong các “Danh Từ Việt Hóa” từng được gọi là “Danh-Từ-Kép”. Dó là các danh từ Hán-Việt (trực-thăng, huynh-đệ), Pháp-Việt (ga-ra), Anh-Việt (căng-tin) ta cũng tạm chấp nhận được phần nào. Nhưng còn có những biểu hiện dốt nát, tệ hại hơn, người ta đã biếnGạch cách(trait)thành “Gạch nối” (trait d’union) đến vô nghĩa, ngay cả trong hàng ngũ Nhà Giáo!

Thay vì viết Quảng-Nam – Đà-Nẵng, nếu bỏ gạch nối (trait d’union) của Quảng-Nam và Đà-Nẵng, dù không dùng gạch nối, tối thiểu cũng phải viết “Quảng Nam – Đà Nẵng” (có gạch cách). Ta bỏ gạch nối 2 Địa danh Quảng Nam và Đà Nẵng đã đành, nhưng tệ hại hơn, người ta đã sử dụng Gạch nối “Quảng Nam-Đà Nẵng” thay Gạch Cách (có khoảng cách ở 2 đầu gạch ngang), để phân 2 từ tách biệt nhau của Nam và Đà. Nhưng ở đây Nam-Đà đã trở thành một Danh từ Kép nối nhau! Thay vì phải viết Quảng-Nam – Đà-Nẵng hoặc Quảng Nam – Đà Nẵng, thì người ta lại viết  “Quảng Nam-Đà Nẵng” vãn là chuyện bình thường.

Vì thế ta đã từng nđọc thấy “Bình Định-Quy Nhơn”, “Thừa Thiên-Huế” với gạch nối (Định-Quy, Thiên-Huế), sự nghịch lý đó đã gần như trở thành phổ biến, thậm chí người ta còn gặp được cả trong Giáo Án dạy Quốc văn trong ngành Giáo Khoa, và trong Sách Báo! Nam-Đà, Định-Quy, Thiên-Huế (có gạch nối) là đã biến thành từ kép mới: “Nam-Đà”, “Định-Quy”, “Thiên-Huế”, còn Quảng và Nẵng, Bình và Nhơn không rõ chúng đứng với ai, và có nghĩa gì! Chắc chắn Bạn đọc đã từng gặp cách dùng gạch nối vô ý thức kiểu nầy không ít và ở nhiều nơi.

Nào đã thấy ai viết “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” bằng gạch nối thay vì Gạch cách chưa? Gạch cách đã phân biệt rõ ràng giữa Độc lập và Tự do, Tự do và Hạnh phúc. Nếu có một cư dân quê mùa dốt chữ đã viết “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” bằng gạch nối, nó đã trở thành sự nối kết giữa “lập và Tự” (lập-Tự) cũng như “do và Hạnh” (do-Hạnh), ta có thể đọc được không! Các cháu ở tuổi học trò vẫn chưa bao giờ viết như vậy! Thế sao nhiều Nhà Trí thức thời nay, kể cả các Thầy Cô nhà Giáo vẫn lầm lẫn giữa Gạch cách và Gạch nối đến thế?

Nhiều trí thức đã thiếu ý thức ngữ nghĩa, đã viết lẫn lộn giữa Gạch Nối và Gạch Cách rất phổ biến! Buồn thay một ý thức Việt Ngữ cuả người Trí thức. Đáng tiếc hơn nữa, không ai bắt lỗi cách dùng gạch nối thay cho gạch cách trong Chính tả như thế nầy. Nó cũng được viết thỏa mái như i và y. Viết sao cũng phải! Quý Thầy Cô đã thấy quen mắt mọi cách viết đảo ngược, nên tất cả mọi cách viết đều không còn gì là nghịch lý, là trái mắt! Vì thế Quyển sách Giáo Khoa do Bà ĐẶNG-THỊ-LANH, đã khiến cả các tập thể Quan Chức Văn hóa khoái chí đến mê mệt! Lối viết như thế là một sự cố tình, đã phố hợp thảo luận chặt chẽ, manh nha phổ biến Văn Học Mới trong chương trình Giáo Khoa Dân Tộc! Không một ai tự cảm nhận được đã tự biến mình thành một “Tập Thể Phá Hoại Vô Ý Thức” đối với các thế hệ con em mình về mặt Văn Hóa, sẽ di hại như thế nào!

Không rõ hiện tượng nầy phải chăng là một một thử nghiệm của Giới Văn Học hay do cá nhân tự phát? Dẫu rằng đó là hành động phá hoại cá nhân hay tổ chức nào chăng nữa, cũng chỉ do Bộ GD&ĐT vô ý thức đã mở đường cho con người đi vào phá hoại, đã bắt nguồn từ Quy định I & Y. Không rõ Bộ có cảm nghĩ thế nào loại tác phẩm Giáo Khoa Lộn Sòng nầy, nếu không cố tình đề cao khuyến khích để đi đến chỗ hoàn hảo? Thời đại Văn minh Điện tử có khác! Chỉ khoái bày vẽ Cách mạng Văn hóa, Cải cách Lộn sòng để phá hoại một hệ thống Văn Học Dân tộc của một Đất Nước, tưởng chừng như Vô cùng Khoa học!

VIII. TRÁCH NHIỆM VỀ AI ?

Bộ GD&ĐT đã làm cớ cho giới trẻ phá nát mọi cấu trúc Văn Học truyền thống, gần như không còn cảm giác kiến thức! Đã có hàng trăm tác phẩm của nhiều Học giả từng đưa lên bàn mổ, phân tích cặn kẽ từng chi tiết, đã đặt lại vấn đề Quy định “i” và “y”. Nhưng mọi người đều nhắm mắt bịt tai, không một ai biết sửa sai, không một ai có trách nhiệm chặn đứng trào lưu hỗn tạp nầy, khi đã có nhiều Trí thức, Học giả phân tích và phê phán? Những thành phần thiển cận chỉ đợi lúc vỡ Đê, trôi Thành, mới thấy thương tâm, thì đã quá muộn màng!

Chẳng lẽ Quý Vị còn đợi đến lúc lớp người bình dân chúng tôi phải lên tiếng mới chịu lọt tai? Tất nhiên lớp người viết lách bất đắc dĩ như chúng tôi, viết không thông, đọc không xuôi, thiếu văn hoa bay bướm, không cô đọng súc tích với lời văn cục mịch quê mùa khó êm tai, mới đủ thấm, hàng Quan chức Cấp cao mới thấy thấm thía sao? Nhỡ “khó nuốt”, cũng mong Quý Bộ Sở Quan cảm phiền, thêm chút dầu mỡ cho dễ trôi. Nhưng, xét cho cùng, “nồi nào phải úp vung đó” mới chín được cơm, cũng là lẽ thường tình nhân thế, như Ông Cha ta ngày xưa từng nói. Đất càng cứng, thì trâu kéo cực mạnh mới xới được. Dân cày như chúng tôi phải nói với Dân cày mới hiểu được ngôn ngữ của nhau. Mong thay!

Mọi lời góp ý, phân tích, tỏ bày xưa nay, tất cả cũng chỉ là gió thoảng, mây bay giữa thinh không vô tận với lớp người không muốn nghe! Nếu Cụ Cố Tổng Bí Thư NGUYÊN-VĂN-LINH đã đánh giá một hiện tượng giả điếc làm ngơ nào đó là sự “im lặng đáng sợ“, thì ở đây còn đáng sợ hơn, đó là“Sự im lặng vô sĩ của hàng trí thức cố chấp! Vì thế, với tất cả Ngôn ngữ của giới “cùng đinh, dân hạ đẳng”, xin đừng phiền trách, có lẽ phải thế mới đáp ứng được tính trí thức rởm (ludicrous) hôm nay, hơn là lối viết văn chương trí thức không động não được ai. Bộ Trưởng GD&ĐT NGUYỄN-THỊ-BÌNH đẩy Đất nước đi vào con đường “Suy Đồi Văn Hóa” đã quá rõ ràng, không thể chối cãi hoặc biện minh.

Bà NGUYỄN-THỊ-BÌNH tự coi mình như một Học Giả Vĩ Đại, ý đồ tự phong làm một Nhà Văn Hóa độc nhất từ cổ chí kim, cố chiếm hữu địa vị độc tôn Văn Học,  loại bỏ các Bậc Tiền Bối có công sưu tầm xây dựng Tòa lâu đài Văn học Việt-Nam cô đọng, dã xuyên suốt hơn 4 nghìn năm Văn Hiến.

Giá trị của Quyển Ngữ Pháp tiếng Việt đầu tiên của G/sĩ ĐẮC-LỘ, là một Tác phẩm vô giá duy nhất, vượt cả bộ Từ điển Việt-Bồ-La của Ngài đã được các Nhà nghiên cứu Quốc tế trân trọng, dánh giá cao và hết lời ca ngợi là một Quyển Bách Khoa tiếng Việt đầu tiên. Quyển ngữ pháp là một nèn móng đặt căn bản cho nền Văn Học một Dân tộc.

Ngay khi vừa được Đức Thánh Cha (ĐTC) IN-NÔ-SEN-TÊ (INNOCENS X) âu yếm trao tận tay Giáo sĩ  ba Tác Phẩm (Từ điển Việt–Bồ–La, Ngữ Pháp Tiếng Việt và Phép Giảng 8 Ngày) vừa được Ấn Hành hoàn tất vào năm 1651, do ngân sách Bộ Truyền Giáo tài trợ, G/sĩ ĐẮC-LỘ đã run rẫy ôm trọn các Bộ Sách Tiếng Việt đầu tiên nầy vào lòng, đã thổ lộ cùng ĐTC tâm trạng tình cảm của mình đối với Dân Tộc Việt-Nam bằng những lời xúc động sâu sắc nhất: “Con xin dâng 3 công trình nầy cho Thiên Chúa. Vì Chúa đã ban cho con được một đất nước mà ở đó sự lao khổ của dân chúng đang ở chỗ tận cùng của đen tối. Nhưng cũng tại nơi nầy con đã nhìn thấy lòng từ ái của Chúa. Con đã nghe được những âm thanh có nhạc điệu của giọng nói con ngườiVới 3 công trình nầy, con nghĩ trong tương lai, đó sẽ là ngọn lửa dẫn dân tộc nầy ra khỏi vòng tăm tối. Từ giờ phút nầy, con có thể trở về trong vòng tay Chúa mà không một ân hận gì…”

“… đó sẽ là ngọn lửa dẫn dân tộc nầy ra khỏi vòng tăm tối”. Tiên sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ đã cảm nhận được cái giá trị vô cùng to lớn đó, nên đã tự nguyện đảm nhận trách nhiệm phổ biến rộng khắp để phát triển nền văn hóa Nhân Dân Việt-Nam. Tiên sinh đã dâng hiến trọn đời mình, đón nhận mọi hy sinh cho công cuộc phát triển Chữ Tân-Quốc-Ngữ. Tiên sinh đã chiếm công đầu trong việc “khai sinh được” Chữ Tân-Quốc-Ngữ, đưa đất nước nầy tiến đến “Vòng Hào Quang” Văn Minh giữa nhân loại ngày nay. Có thể xem Tiên Sinh là Cha đẻ của sự phát triển nền Văn học, Văn hóa, Văn mình Việt-Nam hiện đại. Điều đó không riêng dân tộc Việt-Nam, nhưng hàng Thức giả Thế giới đều thấy rõ.

IX. NHÀ TOÀN-CẦU BÁC-HỌC DANH-GIA

Hàng Trí giả toàn cầu đã không còn xa lạ gì với tên tuổi Đại Danh Nhân Thế Giới PETRUS KÝ (TRƯƠNG-VĨNH-KÝ). Tiên sinh là một “Đại Học Giả”, một Nhà Bác Ngữ Học kỳ tài đa năng, đa diện trên nhiều lãnh vực Khoa-Học, khiến giới Trí thức Âu-Châu lúc bấy giờ đã phải cúi đầu trước trình độ bác cổ thông kim của Vị Tiền Bối nầy! Ngay cả các nhà Văn Hóa, nhà Từ điển, nhà Khoa Học thời danh lúc bấy giờ cũng phải nghiêng mình nhường bước cho việc bầu chọn PETRUS KÝ vào hàng “THẾ GIỚI THẬP BÁT VĂN HÀO” năm 1874, kể cả Đại Văn Hào Pháp VICTOR HUGO (1802-1885), một Nhân vật Văn Hóa đã được an táng trong Điện Panthéon nước Pháp, cũng phải lui sau nhường chỗ đứng. Bản thân các Danh nhân Văn Hóa thế giới, không những tự nguyện xin đứng phía sau, nhưng còn để lại cho hậu thế ngày nay bao nhiêu tác phẩm đã viết, nội dung tôn vinh ca ngợi nhà Tiền Bối Văn Hóa PETRUS KÝ đến hết lời. Tiên Sinh là một người dân bị trị không quyền chức duy nhất trên hành tinh được ghi tên vào Bộ “Đại Từ điển Bách Khoa ” (Larousse Illustré) rất danh giá của nước Pháp là điều hy hữu!

Không rõ chúng tôi có quá cường điệu, thêm râu, thêm cánh, tô vẽ đến quá đáng  để bốc thơm đánh bóng TRƯƠNG-VĨNH-KÝ, mong che đậy bớt cái dốt nát, cái mọi rợ của dân tộc mình thái quá không? Hay đó cũng chỉ là một câu chuyện huyền thoại, ai muốn lợi dụng tô son phóng đại tùy thích? Không! Đây là những chứng từ cụ thể không ai có quyền phủ nhận:

ÉMILLE LITTRÉ, một Từ điển gia vĩ đại thời danh của nước Pháp đã viết về TRƯƠNG-VĨNH-KÝ một cách hết sức trân trọng: “Tôi đoan chắc rằng, cho tới hôm nay nhiều nước ở Châu-Âu không có được cho trường học của họ một cuốn sách lược khảo có giá trị như vậy…. Tất cả các Nhà Ngôn Ngữ Học của nước Pháp vô cùng ngạc nhiên trước cuốn “Khảo Luận Về Các Ngôn Ngữ Phương Đông” của ông. Cuốn Khảo Luận nầy chắc chắn mau chóng nâng ông lên hàng những Nhà Ngôn Ngữ Học Thế Giới…”

LITTRÉ còn kinh ngạc:“…trên trái đất nầy khó tìm ra người thứ hai say mê ngôn ngữ như PETRUS KÝ. Gặp người Anh, PETRUS KÝ nói bằng tiếng Anh nhuần nhuyễn như người Luân-Đôn. Tiếp xúc với người Ý-Đại-Lợi, Y-Pha-Nho, Bồ-Đào-Nha hay Nhật-Bản, Mã-Lai-Á, Xiêm-La… PETRUS KÝ đã nói đúng âm luật ở Kinh Đô nước họ. Khi tiếp xúc với các Linh Mục, PETRUS KÝ trao đổi bằng tiếng La-Tinh trôi chảy và chưa bao giờ có sự lẫn lộn ngữ âm… Sự thông thạo đến 26 ngoại ngữ của PETRUS KÝ đủ để loài người tôn vinh Ông như một nhà Bác Ngữ Học vào bật nhất của thế giới xưa nay

GAUTIER bày tỏ: “ … Từ trước đến nay, ít có nhà Giáo Dục văn hoá Phương Đông nào đặt chân tới đất Pháp và gieo tư tưởng Đông Phương sâu sắc như người thanh niên An-Nam PETRUS KÝ…  Các Nhà Ngôn Ngữ Học Pháp sẽ coi Ông là niềm tự hào của ngành mình…”

   GAUTIER còn khẳng định: “…Văn-sĩ RUDYARD KIPLING từng tuyên bố Phương Đông là Phương Đông! Phương Tây là Phương Tây! Đừng ai ngớ ngẫn đi tìm sự gặp nhau giữa 2 nền Văn Hoá nầy. Thì PETRUS KÝ đã chứng minh cho loài người thấy ngược lại. Hai nền văn hoá tưởng chừng cách biệt nhau nghìn trùng lại có những điểm tương đồng. Qua nhiều Thế Kỷ hai nền văn hoá ấy đã giao thoa, đã hoà quyện và cùng đổ vào Đại Dương của Chủ Nghĩa Nhân Văn mà loài người đã và đang khao khát, đang hướng tới……. Điều lạ là, ở bất cứ lĩnh vực nào anh chàng An-Nam áo dài khăn đóng nầy cũng tỏ rõ sự hiểu biết tinh tường và sâu sắc. Một con người như vậy quả đã làm vẻ vang cho dân tộc An-Nam và rộng lớn hơn là cho cả loài người…...” 

Chính các giới Trí Thức thời danh nước Pháp đã xem PETRUS KÝ là hàng “Sư-Phụ”, đã giới thiệu và đề cử bầu TRƯƠNG-VĨNH-KÝ vào danh sách “Thế-Giới-Thập-Bác-Văn-Hào Hiện Đại”. Nhưng xét thấy Tiên sinh đứng trong hàng ngũ 18 Danh nhân Thế giới đó như chưa thỏa đáng, chưa đủ trọng lượng như họ đã “tôn sùng”, họ còn xem Tiên Sinh như một bậc “Siêu Sư” như một Vĩ Nhân Văn Hóa Thế Giới, nên đã đồng loạt tiếp tục đề nghị Hàn Lâm Viện Pháp phong tặng Tiên sinh một Danh xưng Quốc tế rất Danh giá là “Toàn Câu Bác Học Danh Gia”. Có nghĩa là một Bậc Thầy của các bậc Thầy của cả nhân loại! Tiên sinh còn được mời vào ghế Hội Viên chính thức của Hội Nhân Văn và Khoa Học, Hội Á-Châu, Hội Giáo Dục, Hội Nhân Chủng Học và Hội Địa Lý Học tại Pháp quốc. Tiên sinh đã chứng minh được cho thế giới thấy rõ Dân tộc Tóc đen, Mũi tẹt, Da vàng là một trong những Dân tộc có bề dày Lịch sử Văn minh hơn nhiều nước tự xưng mình là Đại cường, nhưng còn trong tình trạng sử dụng kiểu “vẽ tranh làm chữ” quá lạc hậu, lại tưởng mình là Cái Rốn Hoàn Cầu! Là Trung tâm Thế giới! Là Dân tộc Vạn thế sư Thiên hạ!

Trong dịp tháp tùng Phái bộ PHAN-THANH-GIẢN sang Pháp, hàng Trí thức Ba-Lê như cảm nhận nhận được sự thông thái của một thành viên trong Phái bộ VN, nhiều Viện Đại học danh tiếng nước Pháp tại Thủ đô Ba-Lê, trong đó có Đại Học Creuzot, Đại Học Bordeaux… đã đích thân thỉnh mời Tiên Sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ đến thuyết trình m,ột số dề tài về Triết Học, Sử Học, Ngôn ngữ Học và nhiều lãnh vực Khoa Học khác. Tiên sinh đã trình bày cách trôi chảy và sâu sắc đến bất ngờ. Cách riêng khi để cập đến các tác phẩm “ESPRIT DES LOIS” (tạm dịch Tinh Thần Pháp định), “LETTRES PERSANES” (Lá Thư Ba-Tư) của MONTESQUIEU, quyển “CONTRAT SOCIAL” (Dân-Ước) của ROUSSEAU cũng phân tích rành rẽ như bàn đến “LETTRES PHILOSOPHIQUES” (Thư Triết Học) của VOLTAIRE. Khi nói về quyển Từ điển của DIDEROT, thì Tiên sinh đã mở rộng, khiến người ta đã phát hiện ra Tiên sinh có một sự say mê về Ngôn ngữ học, thông minh đến lạ lùng.

Hàng Trí giả Pháp, tiêu biểu như LAGRANDIÈRE, DUPERRÉ, PAUL BERT, ERNEST RENAN, CHAVANNE, KAEMPFEN, VICTOR HUGO… đều xác định Quyển “Giáo Trình Lich Sử An-Nam” của TRƯƠNG-VĨNH-KÝ đã đưa Tiên Sinh lên ngang hàng những Sử Gia vĩ đại của loài người.

Tiên sinh còn trổi vượt hơn cả 17 Danh Nhân trong “THẾ GIỚI THẬP BÁT VĂN-HÀO” vừa được bầu chọn, PETRUS KÝ đặc biệt còn là một Nhân vật độc nhất được hàng Thức Giả đồng thanh phong tặng một biệt danh “TOÀN-CẦU BÁC-HỌC DANH-GIA”, một Hàm hiệu danh giá duy nhất chỉ dành cho mỗi một người An-Nam TRƯƠNG-VĨNH-KÝ mà thôi. Hàng Thức giả Nước Pháp tôn Tiên Sinh là một Nhà Bác Học Toàn Cầu, chứ không chỉ có nghĩa là một trong 18 Vị “Đại Văn Hào Thế Giới” như tên gọi chung cho cả 18 Danh Nhân.

Nhiều người cũng đã ngộ nhận PETRUS KÝ là Nhân vật thứ 17 trong 18 Nhà Đại Văn Hào Thế Giới. Sai! Danh sách “Thế Giới Thập Bát Văn Hào”, PETRUS KÝ đứng thứ 17, không phải là vị thứ cao thấp, nhưng người ta chỉ ghép theo thứ tự ABC mà thôi. Không Hội Đồng Giám Khảo nào dám chấm ai hơn ai, vì 18 Nhân vật nầy đã được xem là hàng Sư phụ thượng thừa thế giới! May rằng người ta lấy tên PETRUS KÝ có mẫu tự P, mới đứng hàng 17, nếu họ gọi là VĨNH-KÝ, thuộc vần V, chắc chắn đã phải đôn xuống hàng chót, đứng thứ 18.

TRƯƠNG-VĨNH-KÝ đã biểu hiện là một Nhà Thông Thái Thiên tài (Le Savant Génial). Trong các buổi diễn thuyết tại các Viện Đại Học Ba-Lê lúc bấy giờ, Tiên sinh đã thuyết trình một cách hùng hồn và xuất chúng về nhiều lãnh vực Khoa học, khiến các Học Giả Pháp phải ngẩn ngơ như dân từ cung trăng xuống. Đến ngày nay danh thơm của Tiên Sinh vẫn còn ngát hương trời trong hàng Trí giả Địa cầu. Dân tộc Việt hãy còn thơm lây mỗi khi nghe các nhà Khoa Học đề cập đến Nhân vật “TOÀN-CẦU BÁC-HỌC DANH-GIA” PETRUS KÝ.

TRƯƠNG-VĨNH-KÝ đã biểu hiện là một Nhà Bác Học Siêu Việt, thuyết trình một cách xuất sắc trong các buổi diễn thuyết ở nhiều lãnh vực khoa học khác nhau không chỉ về Ngôn ngữ Học về nguồn gốc tiếng nói và chữ viết của 26 thứ tiếng mà Tiên Sinh đã kinh qua. Đặc biệt Tiên sinh đã chứng minh cụ thể một bề dày Lịch sử Văn Hóa Việt-Nam đã xuyên suốt qua “Bốn Nghìn Năm Văn Hiến” với Mẫu Chữ Tượng Âm của người Giao-Chỉ đã đượcTiên sinh phát hiện. Việt-Nam cũng đã có một Thủ đô “Nghìn Năm Văn Vật”(2), là âm ngữ là giọng nói chuẩn xác của dân tộc. Một chiều sâu và bề dày Lịch sử Văn hóa Việt-Nam như thế, nhưng chưa hề được Âu-Châu phát hiện. Nền Văn Hóa nầy đã có trước cả nhiều Quốc gia kỳ cựu, từng cho mình là Văn minh, là hiện đại.

Tiên Sinh đã hùng hồn chứng minh cách hết sức thuyết phục về loại Chữ viết có “Mẫu Tự Tượng Âm” của người Giao-Chỉ đã từng xuất hiện trước đây hàng Thiên niên kỷ. (!) Nó đã bị Thái Thú SĨ-NHIẾP hủy diệt mất dạng sau hơn nghìn năm Đô hộ Tàu. SĨ-NHIẾP đã Hán-Hóa-Giao-Chỉ từ phong tục tập quán đến mọi hình thức Lễ nghi, Quan hôn, Tang tế, Cúng bái, Hội hè… hoàn toàn theo Văn Hóa Tàu. Vì thế, Dân tộc Việt-Nam đã đánh mất nèn tảng Văn hóa, Văn minh, đặc biệt là một nền Văn học rực rỡ của người Giao-Chỉ ta từ ngàn xưa! Ngày nay người ta đã tìm thấy Mẫu tự đó còn xuất hiện trên mặt Trống Đồng Đông-Sơn, nhưng chưa ai có khả năng giải mả rõ ràng thuộc hệ chữ nào, tuy có đôi nét giống mẫu tự La-Tinh.

Tiên sinh xác định Chữ Tượng Âm Giao-Chỉ là một loại Chữ Viết Văn minh, Tiến bộ hơn hệ thống chữ Tượng Hình kiểu Ô vuông của người Hán và nhiều Dân tộc Á-Châu ngày nay. Chữ tượng âm Giao-Chỉ, có mẫu tự đơn giản nếu còn được phổ biến đến ngày nay, nó là một trong các loại chữ Văn minh nhất, có thể hội nhập Văn hóa Thế giới, có thể ứng dụng được mọi ngành trên mọi lãnh vực Khoa Học Tây phương hiện đại. Trong khi các loại chữ tượng hình khác không bao giờ có thể hội nhập được, nếu không phải vay mượn một mẫu tự Âu-Châu. Nhà nước họ cần phải đào tạo giới trẻ biết đọc thông viết thạo một ngôn ngữ có Mẫu tự Tượng Âm Tây phương, khi đó con em họ mới có thể vào được ngưỡng cửa Đại học đương đại, mới tiến vào được khung hình Khoa học thuộc nền Văn minh Thế giới ngày nay.

Một đề tài thuyết trình khúc chiết như thế, đã thu hút được toàn thể cử tọa trong Hội thảo. Tất cả hàng Trí giả Pháp đã đồng loạt đứng dậy hoan hô nhiệt liệt và vỗ tay không ngớt. Tiên Sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ đã chiếm được niềm tin và sự kính phục trọn vẹn của người Âu-Châu.

Từ đó đã dẫn đến nhiều Nhà Nghiên Cứu cùng với ANDRE GEORGES HAUDRI-COURT, Nhà Ngôn ngữ Học Pháp, trở thành một Tác Giả chuyên nghiệp tra cứu về ngành ngữ học Việt-Nam rất sâu sắc. Có thể nói được họ đã nghiên cứu đến một mức độ chuyên sâu chính xác đáng ghi nhận trong nhiều tác phẫm với lắm kỳ công sưu tầm tra cứu, hầu như chưa hề gặp một ý kiến phản bác nào về phương diện văn học nầy.

HAUDRICOURT đã xác quyết rằng trong chữ viết tiếng Việt ngày nay có rất nhiều dấu vết của nhiều hệ thống phát âm trong nhiều ngôn ngữ Âu-Châu, kể cả các thổ ngữ miền Basque như trong các tác phẫm “Origine des particularités de l’alphabet vietnamien”. Ông cũng từng biên khảo về tiếng Việt và lịch sử tiếng Việt như “Les Consonnes Préglottalisées En Brèves Du Vietnamien” – “Les Voyelles Brèves Du Vietnamien” – “La Place Du Vietna-mien Dans Les Langues Austroasiatiques” và “De L’Origine Des Tons Du Vietnamien”.

Do sự phát hiện có đủ tính thuyết phục mọi người, đã cuốn hút đến mức sau nầy còn lôi kéo cả một Nữ Học giả người Pháp, MADELEINE COLANI (1866-1943), nhỏ hơn TRƯƠNG-VĨNH-KÝ 29 tuổi, sinh tại Strasbourg. Nó đã thôi thúc Bà tình nguyện tìm đến Việt-Nam, Bà là Nhân vật đẩu tiên làm Nghiên Cứu Sinh ngành Khảo cổ về nền Văn học Việt-Nam từ năm 23 tuổi (1899). Năm 1914 Bà đã khởỉ sự tiến hành công trình khui tìm chữ viết người Giao-Chỉ từ Nghệ-An, Quảng-Bình đến vịnh Hạ-Long cùng với vùng Đồng-Chum ở Lào. Bà đã đóng góp rất nhiều cho nền Khảo cổ học Thế giới về Văn hóa Sa-Huỳnh, cội nguồn nền Văn Hóa Việt-Nam. Nữ Khảo cổ thời danh nầy đã tuyên bố “Sa-Huỳnh là Cái nôi của nền Văn minh nhân loại”. Nền văn hóa này xuất hiện trước Lưỡng-Hà, Trung-Hoa, Ấn-Độ cả ngàn năm! Bà đã trình luận án tại Pháp, được Hàn Lâm Viện cấp học vị Tiến sĩ. Điều đó đã đủ chứng minh lời Tiên sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ xác định Việt-Nam từng trải qua “Bốn Nghìn Năm Văn Hiến”(2), đã có một nền Văn minh trước nhiều quốc gia khác cả Á lẫn Âu là có cơ sở, đã đem đến sự kính trọng đối với Việt-Nam, đánh ngã phần lớn ý nghĩ trịch thượng của Nhà nước Thuộc địa và Âu Châu từng xem nhẹ Việt-Nam như một “Bộ Lạc Ăn lông Ở lỗ”. Nó vẫn còn là sự ám ảnh dưới mắt người Tàu hiện nay!

PESTRUS KÝ đã thuyết trình một đề tài mới rợi, cái mà cả thế giới chưa một ai phát hiện, thậm chí chưa hề có một chút quan niệm gì về Nền Văn Hóa nầy! Vì thế, ngày nay chỉ có những con người quá định kiến đến mức độ bán đứng lương tâm và danh dự bản thân, tự biến mình thành phường vô học, mới dám xuyên tạc, chà đạp Danh giá và lòng Yêu nước của TRƯƠNG-VĨNH-KÝ mà thôi, người đã dành trọn mọi hy sinh thân mình cho Dân tộc, cho Đất nước Việt-Nam nầy! Không một ai có đủ khả năng đánh lạc hướng, hay bôi nhọ Tiên sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ trước nhân loại, nhất là giữa thời đại Thế giới Văn minh nầy.

Tiên sinh TRƯƠNG-VINH-KÝ đã từng có đủ khả năng thuyết trình nhiều đề tài khác nhau trên nhiều Lãnh vực Thiên văn, Địa Lý, Toán học, Khí hậu, Môi sinh… tại các buổi Hội thảo Khoa học tại Thủ đô nước Pháp. Tiên Sinh đã không bối rối trước những câu chất vấn không kém phần hóc búa mà nhiều Nhà Khoa học bậc thầy đã đặt ra. Tiên Sinh đã thuyết trình thông suốt, không một ai có thể bắt bẻ hoặc phi bác được điều gì. Vì thế, giới trí thức Pháp đã đồng thanh thừa nhận rằng PETRUS KÝ là “Một Thần Đồng An-Nam” (Un Prodige Annamite) của Thế giới Khoa học hiện đại. Tất cả đều đồng thanh tôn xưng Tiên Sinh là “Le Savant des Savants Du Monde” dịch theo Hán Việt là “Toàn-Cầu Bác-Học Danh-Gia”,có đầy đủ ý nghĩa “Nhà Thông Thái của các Nhà Thông Thái Thế Giới”! Đấy!

Thiên nhiên đã ưu đải cho loài người một vụ mùa Bác Học “bội thu” trên Thế giới. Vào Thể kỷ XVIII-XIX đã đồng loạt xuất hiện những ALBERT EINSTEIN, (1879 1955), người Đức, Cha đẻ Định Luật Tương Tác Hấp Dẫn do một cái rơi của quả táo ; Một LOUIS PASTEUR, Nhà Vi sinh học và Hóa học người Pháp (1822-1895) ; Một MARIE SKŁODOWSKA-CURIE, Nhà Hóa học người Ba-Lan, đi đầu trong ngành tia X (X-ray, Quang Tuyến X) ; Một ANDRÉ-MARIE AMPÈRE (1775 – 1836), Nhà Vật lý người Pháp cũng là một trong những nhà phát minh ra điện từ trường ; Một RASMUS CHRISTIAN RASK (1787-1832), nhà ngoại ngữ vô tiền khoáng hậu (unprecedented) người Đan-Mạch.… Như là một thời kỳ “Lạm phát” các Nhà Thông Thái lừng danh trên Hành Tinh ta đang ở, trong đó có Tiên Sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ (1837-1898).

Thật ra về phương diện ngoại ngữ, TRƯƠNG-VĨNH-KÝ chỉ chào thua và nhường bước mỗi RASMUS CHRISTIAN RASK (1787-1832), người Đan-Mạch mà thôi. RASK đã giã từ trần gian vừa đúng 5 năm trước ngày TRƯƠNG-VĨNH-KÝ chào đời. CHRISTIAN RASK là một Học giả thông thạo đến “230 ngoại ngữ”. Ông chỉ cần thông thạo thêm 14 thứ tiếng nữa, là Ông đã hơn PETRUS KÝ nhà mình đến 10 lần về ngoại ngữ! Ông đã từng là Tác giả của hàng trăm bộ Từ điển  của hàng trăm ngôn ngữ khác nhau! Một kỷ lục thế giới về ngoại ngữ, cho đến ngày nay chưa một ai phá nổi.

Với 26 ngoại ngữ, TRƯƠNG-VĨNH-KÝ là nhân vật thứ hai trên Thế giới. G\sĩ ĐẮC-LỘ cũng chỉ đạt đến con số 13, mới phân nửa TRƯƠNG-VĨNH-KÝ, có thế được xếp hạng đứng thứ ba. Hình như đến ngày nay cũng chưa mấy ai qua mặt được G/sĩ ĐẮC-LỘ để đứng vào vị trí đó. Tuy thế, Nhà Ngữ Học Thiên tài RASMUS CHRISTIAN RASK lại phải đứng phía sau PETRUS KÝ với một khoảng cách không xác định về mọi mặt trên các lãnh vực Khoa-Học khác. Các nhà Bác Học lừng danh từ cổ chí kim trên thế giới đều thừa nhận điều nầy.

TRƯƠNG-VĨNH-KÝ được gọi là một Nhà Bác Học Toàn Khoa, vì hầu như Tiên sinh thông thạo mọi ngành Khoa học Thế giới. Trong khi các Nhà Bác học khác, là Bác Học chuyên khoa của từng ngành. Họ lỗi lạc trong một phạm vi chuyên biệt, có thể phát minh, ứng dụng được một hệ thống điều hành về khoa học, cái mà TRƯƠNG-VĨNH-KÝ không thế tự tay làm được. Nhưng khi đặt vấn đề với một nhà Bác Học nào đó trong một lãnh vực khác, các ngài chỉ “ngẩn tò te” như một người Ngoại Đạo, không hơn một cậu Học trò có trình độ Trung Học Phổ thông. Các vị ấy không giải trình, không thuyết giảng, không gợi ý, gợi hình gì được cho Cử tọa có dược cái nhìn tổng thể ngành khoa học không thuộc chuyên môn của mình. PETRUS KÝ đã thuyết trình một cách rốt ráo, rất có tính thuyết phục, để người nghe có thể cảm nhận được cách đại thể trong nhiều ngành khoa học. Vì đó, tự nó đã khiến Thế giới phải xem TRƯƠNG-VĨNH-KÝ là một Nhà Bác Học Toàn Khoa của Hành tinh nầy là vậy.

Tiên sinh đã nổi danh đến độ, là thời đầu tiên máy chụp hình được sử dụng tại Pháp 1816, thì ảnh PETRUS KÝ đã có mặt trên các trang đầu của đôi tờ Báo Pháp lúc bấy giờ là điều hy hữu! Không khác sự kiện GIOAN PHAO-LÔ II năm 2005 trong những ngày Tang Đám của ĐGH, như một hiện tượng khiến dân Pháp đã từng gọi đó là “Hội Chứng Giáo Hoàng”. Người ta đã ca tụng một anh chàng nhỏ thó, với đôi mắt ngời sáng trong bộ Quốc phục áo dài, khăn đóng An-Nam-Mít của một Dân tộc “mọi rợ” chưa được khai hóa, lại đã vang bóng một thời trên thế giới, qua mặt tất cả các Nhà Khoa học từ cổ chí kim đến không ai có thể tưởng tượng nổi. Nhiều nhà Trí thức Quốc Tế hiện nay, vẫn còn xác dịnh nhà Thông Thái đa năng đa diện người Việt “Nô Lệ” nầy, hầu như trên toàn Thế giới, đến cả Đệ Tam Thiên Niên Kỷ nầy, Nhân loại vẫn chưa tìm thấy một ai ngang bằng có thể thay thế được PETRUS KÝ.

Trong tác phẩm Khai-Hóa Nhân-Sinh (trọn bộ 3 quyển) nếu được xuất bản, chúng tôi sẽ cống hiến Bạn đọc cụ thể hơn trong phần “Công Đầu Phổ Biến Chữ Tân-Quốc-Ngữmà Tiên SinhTRƯƠNG-VĨNH-KÝ là Nhân Vật số một trong công cuộc khởi xướng, tích cực hy sinh đóng góp công sức cho nền Văn Học Việt-Nam. Nói cách khác, TRƯƠNG-VĨNH-KÝ là Nhân vật duy nhất có công đầu trong đấu tranh “Khai Sinh Chữ Tân-Quốc-Ngữ, để còn tồn tại được đến ngày nay, là một bằng chứng cụ thể không một ai có quyền chối bỏ.

Ấy thế mà Nhà Toàn-Cầu Bác-Học Danh-Gia PETRUS TRƯƠNG-VĨNH-KÝ nầy, đã không e ngại “Cúi gập người bái phục G/sĩ ĐẮC-LỘ như một Bậc Thầy Tiền Bối”, không vì lý do Tôn Giáo, càng không Ngài là một Linh Mục. Đối với giữa loài người trên thế giới, xét cho cùng Tiên Sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ còn trổi vượt hơn G/sĩ ĐẮC-LỘ nhiều mặt cả danh giá lẫn tài năng, nhưng TRƯƠNG-VĨNH-KÝ đã cảm nhận được sự thông minh tinh tế của G/sĩ ĐẮC-LỘ vượt hơn mình, đáng là một Bậc Thầy Tiền bối lỗi lạc kỳ tài về phương diện nghiên cứu tinh vi, sâu sắc và tỉ mỉ các âm tiết tiếng Việt với 6 âm độ Bình, Trắc, có cả Thượng Bình thanh và Hạ Bình thanh. Đã trở thành một loại “Nhạc nói Không Khung” chưa từng có, tương đương 7 nốt nhạc đương thời, mà không một ai đủ trình độ thể hiện được cả âm sắc và cường độ một điệu nhạc nói bình dân và đại chúng cách tinh vi và tài tình đến vậy!

Nó còn có cả âm độ trường – đoản trong các nguyên âm y i, và phân biệt âm độ rạch ròi ở các từ có phụ âm nng đứng sau sau nguyên âm. Có giọng ngắt, thả giữa ct đứng sau âm vận, thậm chí cả thanh hồi và khứ của dấu Ngã Hỏi như đã trình bày trên. Những phát hiện tinh tế âm giọng tiếng Việt như thế đã khiến Tiên Sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ phải cúi đầu bái phục xin vĩnh viễn “Tôn Sư” và tận tâm phục vụ, nếu phải chấp nhận hy sinh tất cả cho loại chữ nầy. Và Tiên Sinh cũng đã hy sinh tất cả danh phận và sự nghiệp mình cho Đức Tin và nền Văn Học Việt-Nam!

Một bằng chứng cụ thể, Nhà Bác Ngữ Học TRƯƠNG-VĨNH-KÝ đã từng ghi vào Sổ Tay của mình: “…Ba công trình tiếng Việt của Giáo Sĩ ALEXANDRE DE RHODESlừng lững như 3 hòn núi, người nào leo lên được ba “hòn núi” ấy khắc sẽ nhìn thấy toàn cầu. Lúc vừa được chính tay ĐTC trao lại Bộ sách tiếng Việt đầu tiên đã được in tại Thành Đô La-Mã, G/sĩ ĐẮC-LỘ cũng đã quá xúc động và tâu: Với 3 công trình nầy, con nghĩ trong tương lai, đó sẽ là ngọn lửa dẫn dân tộc nầy ra khỏi vòng tăm tối”, khi G/sĩ run rẫy ôm Bộ Sách đó vào lòng từ năm 1651. Đó là những cảm nhận phát xuất tận đáy lòng của cả 2 Bậc Thầy Tiền bối Thế giới, Nói thế tưởng cũng không ngoa.

Vì vậy Tiên Sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ đã tự nguyện làm đệ tử muộn màng của ĐẮC-LỘ, dù Giáo sĩ đã trở thành Người Thiên cổ. Tiên sinh đã hết lòng ngưỡng mộ, và dành trọn cuộc đời cộng với tất cả khả năng, gia sản và ảnh hưởng Quốc tế sẵn có của mình, tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp ĐẮC-LỘ như một người thừa kế duy nhất trong công việc trường kỳ đấu tranh cho bằng được sự Hợp-Pháp-Hóa Chữ Tân-Quốc-Ngữ cho nền Văn học nước nhà. Có thể nói, Tiên Sinh đã quyết tâm bằng mọi giá phải đấu tranh với Nhà nước Thuộc địa Pháp lẫn Triều Đình Phong kiến Việt-Nam, quyết tâm phát triển Chữ Tân-Quốc-Ngữ bằng cách phai “Khai Sinh” cho bằng được sự ra đời Chữ Tân-Quốc-Ngữ, bằng cách buộ Pháp phải nhìn nhận để đưa vào Chương Trình Giáo Khoa của Pháp tại Việt-Nam, và Triều Đình Huế cũng phải đưa vào Chương trình Giáo Khoa tại các Trương Công Lập Quốc Gia. Có thế thì Văn Hóa Dân Tộc mới phục hồi được và mới tồn tại trên Chính trường Thế Giới. Và Tiên Sinh đã thực hiện được kỳ vọng của mình. Chữ Tân-Quốc-Ngữ đã vĩnh viễn là phương tiện duy nhất của nền Văn minh, Văn hóa Việt-Nam hiện nay.

Vì ý chí đấu tranh không nhân nhượng đó, Tiên sinh đã bị Bộ Thuộc địa Pháp bạc đãi và loại bỏ. Cũng từng đối mặt với các Triều thần Huế Tiên sinh không hề nhượng bộ lớp người bảo thủ Hán Văn và Chữ Nôm, nên không tránh khỏi bao nhiêu thành kiến phức tạp của lớp Đại thần Hũ Nho gây ra không ít khó khăn. Tiên Sinh đã phải cởi Áo, trả Mảo, từ Quan, xin về vườn “Dưỡng bệnh” trước sự xúc động đầy luyến tiếc của Vua ĐỒNG-KHÁNH. Tiên sinh đã quyết đào tạo bằng được lớp Học giả có trình độ Tân học Á-Âu để tiếp tục bảo toàn sự nghiệp Chữ Tân-Quốc-Ngữ. Và cuối cùng Tiên sinh đã làm được. Học trò của Tiên Sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ gồm PAULUS HUỲNH-TỊNH-CỦA, TRƯƠNG-MINH-KÝ, DIỆP-VĂN-CƯƠNG, NGUYỄN-TRỌNG-QUẢN…. đều là Nhà Giáo, Nhà Văn, tác giả Tiểu Thuyết viết bằng Chữ Tân Quốc-Ngữ, là Triều Thần ở Huế. Nói chung những nhân vật do TRƯƠNG-VĨNH-KÝ đào tạo, đã là những Học giả, Nhà Văn hóa, Nhà Mô phạm.

Trong “Lời Nói Đầu” trong “Sơ Học Quy-Chánh” bộ sách Giáo Khoa đầu tiên của của đất nước, Nhà Bác Ngữ Học TRƯƠNG-VĨNH-KÝ viết, cơ hồ một “Mênh Lệnh”: ”Chữ Quốc Ngữ phải trở thành chữ viết của đất nước. Phải như thế, vì lợi ích và sự tiến hoá. Vậy người ta nên tìm cách phổ biến thứ chữ nầy bằng mọi phương tiện”.

Qua nhiều đợt đòi hỏi liên tục, do sức ép của giới Trí thức Pháp và Toà Thánh La-Mã, Ông PAUL DOUMER, Toàn Quyền Pháp tại Đông Dương với một tinh thần vạn bất đắc dĩ, mới phải chịu ký Sắc Lệnh đưa Chữ Tân-Quốc-ngữ vào các kỳ thi Văn Hoá tại Việt-Nam năm 1898. Rất tiếc cũng là lúc cuối đời của Nhà Đại Thông Thái (Le Grand Savant) TRƯƠNG-VĨNH-KÝ. Người kiên trì đấu tranh cho một sự nghiệp Văn Học dân tộc “vừa trút hơi thở cuối cùng”!

Bộ Thuộc địa Pháp đã hết sức bất đắc dĩ phải chấp nhận đưa Chữ Tân-Quốc-Ngữ vào chương trình Giáo Khoa Pháp-Việt (đón xem MV. KHNS). Dù còn rất hạn chế, chỉ mới cho mở ngành Tân Học đến cấp Sơ học Yếu lược (Lớp 3 hiện nay), nhưng đó cũng là cả một sự nhượng bộ không nhỏ của nước Pháp đối với PETRUS KÝ lúc bấy giờ.

Tiên Sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ đã ra đi, nên Sắc Lệnh, cũng chỉ là Sắc Lệnh. Mãi đến 11 năm sau (1909) qua nhiều đòi hỏi, Hội Thừa Sai Ba-Lê đã lợi dụng ảnh hưởng PETRUS KÝ, mà các nhà Văn hóa thời danh và Báo chí Pháp, đã từng khâm phục và kính nễ Tiên sinh, đã tạo công luận lớn, gây áp lực mạnh trên mọi phương tiện truyền thông đại chúng, tích cực can thiệp mới khiến Chính phủ Thuộc địa phải nhượng bộ, chịu áp dụng Sắc Lệnh đã ban hành, khai mở chương trình Giáo Khoa tiếng Việt và đưa vào hệ thống thi cử Xứ Thuộc Địa bằng Chữ Việt.

Rồi sau đó không lâu, cũng đã đến lúc Vua ĐỒNG-KHÁNH và cả Triều thần Huế phải chấp nhận ý chí của các lớp Hậu sinh của TRƯƠNG-VĨNH-KÝ, ra Đạo dụ cải cách Chương trình Giáo Khoa theo Tân học ở các Trường Công Lập của Triều Đình. Lần hồi lối học từ chương bị giải thế, các khoa Thi Hương, Thi Hội, Thi Đình cũng đã kết thúc từ đây, để nhường chỗ cho nền Tân học, tuy chưa được gọi là Chứ Quốc Ngữ. Đó là công trạng lớn nhất của Nhà Đệ Nhất Bác-Học Toàn Cầu TRƯƠNG-VĨNH-KÝ, Đây là điều “Sử Học Việt-Nam không bao giờ được phép phủ nhận công lao vĩ đại nầy của Tiên Sinh”.

Nhiều nhà Nho đã đánh giá chữ Tân-Quốc-Ngữ là một “Công Cụ” được Thực Dân sử dụng để thuận lợi trong việc điều hành guồng máy cai trị của Nhà Nước Thuộc Địa, thậm chí đến tận ngày nay, vẫn copnf cái nhìn méo mó trong Lịch sử, đều là lớp người do trình độ kém thấp, nên không đủ tầm nhìn xuyên suốt qua Lịch sử phát triển Văn Học nầy, dù họ vân có học hàm học vị cao, nhưng căn bản trí thức và tri thức không có, nhất là bị đầu độc quá nặng nề, nên có casdi nhìn thoát ra khỏi hộp sọ vốn đã bị đóng khung từ muôn thuở.

Sự thật thì Chính Phủ Thuộc địa đã từng kiên quyết loại trừ chữ Nho, cố Pháp hoá người Việt. Loại bỏ Văn Học Tàu để thay thế vào đó chương trình đào tạo Pháp ngữ cho Cư dân Bản địa mà thôi. Việc “Việt-Hoá-Mẫu-Tự-La-Tinh” không hề được nhà Càm Quyền “Đại Pháp” khuyến khích, nó là một rào cản cho việc đặt ách thống trị lâu đời lên đầu lên cổ Dân Việt.

Nối tiếp tinh thần Đại Học Giả TRƯƠNG-VINH-KÝ, bao nhiêu Nhân Vật cũng đã vì công cuộc phát triển Chữ Tân-Quốc-Ngữ cũng đã ngã gục dưới bàn tay tàn bạo của Nhà nước Thuôc địa Pháp. Điển hình, Học giả NGUYỄN-VĂN-VĨNH là một trong những Nhà tiên phong cao cả nhất. Ông cũng đã phát hành Báo bằng chữ Tân-Quốc-Ngữ, chấp nhận lỗ lã vì không đủ lượng “Thượng đế” tiêu thụ, cũng đã bị phá sản như TRƯƠNG-VĨNH-KÝ. Ông hết sức khó khăn trong việc không để mình trở thành công cụ cho thực dân, còn phải thắng được tư tưởng “Hủ nho” của những vị “Đồ gàn” vẫn khăng khăng bảo vệ vị thế Hán Nôm dù biết rằng nó rất khó học.

Ông bằng lòng nhận lệnh trục xuất của nước pháp, sang Lào đào vàng để không bị tịch biên gia sản vì kiên quyết từ chối làm quan cho Triều đình nhà NGUYỄN để từ bỏ công cuộc phát triển chứ Tân-Quốc-Ngữ. Tại Lào, Học giả NGUYỄN-VĂN-VĨNH đã phải bỏ mạng cách thê thảm trên một con đò trôi giạc giữa dòng sông ở Lào. Nhưng sự nghiệp dang dở của ông cũng đã được đền bù bằng sự tiếp bước của nhiều Nhân vật Văn hóa bằng sự ra đời của một tổ chức cách mạng là Hội Truyền Bá Quốc ngữ và nhiều thế hệ tiếp sức liên tục của Giáo Hội Công Giáo Viêt-Nam và Hải ngoại.

Chí sĩ NGUYẾN-AN-NINH nối gót Học giả NGUYỄN-VĂN-VĨNH. Vì ý thức phát triển Chữ Tân-Quốc-ngữ, là đặt nền tảng cho công cuộc đòi quyền Tự Quyết Dân Tộc và quyền Độc Lập Tổ Quốc, Chí sĩ đã tích cực cổ vũ, phát động Phong trào phát triển Tân học. Đã tận hiến trọn đời mình, kiên quyết đòi hỏi nước Pháp phải dứt khoát chấp nhận nền Tân học Việt-Nam.

Thực dân Pháp đã đày đọa Chí Sĩ phải bỏ xác tại Nhà Tù Côn Đảo! Đó là những bằng chứng rõ nét nhất để chứng minh Chữ Tân-Quốc-Ngữ không hề là sản phẩm của Thực Dân Pháp như lớp “Sử gia Nô dịch” ăn có nói theo, ăn dơ nói phét trong Lịch sử Dân Tộc theo sự bịa đặt của giới Hủ Nho kỳ thị Tôn Giáo, với ý thức bảo thủ “Rừng Kinh Biển Thánh” của người Tàu. Chí Sĩ NGUYỄN-AN-NINH là một trong những Nhân Vật nặng ký, đòi quyền sống cho Chữ Việt và đòi quyền Tự Quyết cho Dân Tộc Việt, buộc nước Pháp chấp nhận chữ Việt. Chí sĩ vốn cũng là một Giáo dân, đã là một trong những cánh tay nối dài ngoan cường nhất của TRƯƠNG-VINH-KÝ cho đến hơi thở cuối cùng.

Nhưng đó cũng chỉ là một sự nhượng bộ “về hình thức”! Còn thực tế Chữ Tân-Quốc-ngữ  cũng chỉ được phổ biến rộng rải trong các trường Công Giáo ở các Họ Đạo do các Thầy Dòng, Nữ Tu dạy mà thôi. Các trường Công Lập do Pháp trả lương điều khiển, chỉ dạy tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thay cho “Tiếng Mẹ Đẻ” của Thí sinh trong thi cử. Nên môn Lịch Sử thời đó, các em mũi tẹt da vàng chỉ biết học thuộc lòng “Nos Ancêtres sont des Gaulois” (Tổ Tiên chúng ta là người Gô-Loa), Gô-Loa là Tổ Tiên người Pháp, nên dân Tây học Nam-kỳ rất hãnh diện khi xưng mình là Dân Tây, vô hình chung đã nhận người Gô-Loa làm Ông Tổ!

Ngược lại Sĩ tử Nho gia từ Nam đến Bắc chỉ biết mỗi KINH-DƯƠNG là Ông Tổ, như Lịch sử An-Nam thời nào cũng đã từng ghi rất rành mạch:

“Cháu đời Viêm Đế thứ ba,

“Nối dòng hỏa đức gọi là Đế Minh.

“Quan phong khi giá nam hành,

“Hay đâu Mai Lãnh duyên sanh Lam Kiều!

“Vụ Tiên vừa thuở đào yêu,

“Xe loan nối gót, tơ điều kết duyên.

“Dòng thần sánh với người tiên,

“Tinh anh nhóm lại, thánh hiền nối ra.

“Phong làm quân trưởng nước ta,

“Tên là Lục Tục, hiệu là Kinh Dương…”

Thì ra Ông tổ mình là vua VIÊM-ĐẾ, con trai ĐẾ-MINH là dòng Thần kết duyên với người Tiên, tinh anh đó đã kết thành KINH-DƯƠNG, được phong cai quản An-Nam, là cháu đời thứ ba. Lai lịch ấy, chép đành rành trong Lịch sử ta, một loại Phú ý đã có mấy ngàn năm nay, như thế Dân An-Nam mình chưa thoát khỏi con cháu dân Tàu, đã trở thành con cháu Dân Tây! Không hề biết Giao-Chỉ là ai. (!) Đó mới chính là mục tiêu khai hoá ta mà Mẫu Quốc nhắm vào.

Nếu ta không có một nền Văn Học độc lập, để có một nền Văn hóa Dân tộc ngày nay,  thì không thiếu người vẫn tin huyền thoại LẠC-LONG-QUÂN là Rồng, lấy ÂU-CƠ là Tiên dẻ ra trăm trứng, đúc thành Dân Việt, tài nào không mất gốc! Nó đã ăn khớp với Lịch sử nghìn năm thời Tiên Tổ, đã rập khuông huyền thoại KINH-VƯƠNG:

“Dòng thần sánh với người tiên,

“Tinh anh nhóm lại, thánh hiền nối ra!

Rõ tội cho một Dân Tộc lạc hậu, tình trạng vô văn hóa bị kéo dài, nhưng đến ngày nay vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức, trong não trạng nhiều người Phi Việt!

Từ trước Cách mạng tháng Tám, Cố Chủ tịch HÔ-CHI-MINH đã nhận định được sự cần thiết của Chữ Tân Quốc-Ngữ là nền tảng xây dựng Lịch Sử Viêt-Nam, Ông đã tổ chức các lớp học Chữ Việt nối theo từng bước chân Ông từ Thái-Lan đến Lào và Việt-Nam. Vừa khi Cách mạng thành công, Chủ Tịch lập tức cho lệnh phát động ngay Phong trào Bình dân Học vụ trên khắp mọi miền đất nước để đưa dân trí lên một tầm cao mới. Theo Cố Chủ-Tịch Giáo Hội Công Giáo không thể đơn phương phát triển hệ thống Chữ Tân-Quốc-Ngữ được rộng rộng khắp tyrong dân chúng.

Mối đe dọa trước mắt Chủ Tịch, ngoài Giặc Ngoại xâm, đất nước cần phải đẩy lùi được cả Giặc Đói và Giặc Dốt. Nhưng Chủ Tịch không ngờ ngày nay còn xuất hiện một loại Giặc mới, không còn là Giặc Dốt cần phải loại trừ nữa, nhưng là Giặc Ngu. Loại Giặc Ngu Dân, phá hoại cả một hệ thông Chữ Tân-Quốc-ngữ đã được Dân tộc trân trọng gìn giữ qua bao đời nay! (Xin lỗi Bạn đọc, có lẽ phải sử dụng Danh từ nầy mới lột trần được một ý nghĩa nào đó còn tồn đọng trong não trạng của một nhóm thiếu số quyền thế phá hoại có tổ chức, manh nha đưa vào chương trình Giáo Khoa hiện hành để phá hoai tiếp và có quy mô hơn, như đã cụ thể ở trên, không một ai có quyền chối cãi và tự biện hộ cho hành động “Phản Văn Hóa” nầy của mình trước Dân Tộc được nữa.

Học giả NGUYỄN-VĂN-VĨNH từng nói: “Nước Nam ta mai sau này hay hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ”.

Đến nay, đất nước đã chuyển mình trong thời đại công nghệ thông tin (CNTT) và rất nhiều vấn đề mới lại nảy sinh với chữ Tân-Quốc-ngữ trong thời đại mới.

Theo bài viết TÂN-KHOA về Hội Thảo “NGUYỄN-VĂN-VĨNH VÀ HÀNH TRÌNH CHỮ QUỐC NGỮ” do NXB Tri thức và Quỹ Văn hoá PHAN-CHÂU-TRINH tổ chức vào đầu năm nay (2012), đã ghi nhận: “Một lần nữa, cần nhắc lại quan điểm của học giả Nguyễn Văn Vĩnh: “Nước Nam ta mai sau này hay hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ” để cùng suy ngẫm và bên cạnh việc giữ gìn những giá trị của nó thì cũng phải tiếp thu những văn minh của thời đại CNTT. Sự tiếp thu này chắc chắn là không nhằm thay đổi, xáo trộn gì với chữ Quốc ngữ mà chúng ta đã quen   dùng mà cũng chỉ là để phù hợp với thực tế của thời đại CNTT. Những thứ ngôn ngữ chat mà tuổi teen đang sử dụng với sự hiện diện chính thức củaF, J, W, Z để thay thế cho cách viết thông thường, chắc chắn là sẽ không bao giờ được chấp nhận. Cao hơn, việc phải tiến tới là máy tính phải hiểu được tiếng Việt có thể tự động xử lý và đây là công việc mà người Việt chúng ta phải tự làm được chứ không thể trông chờ ai khác. Đó cũng là nhiệm vụ mà Chính phủ đã đặt ra để Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT.

Từ khi Chữ Tân-Quốc-Ngữ trở thành nền tảng Văn học Nước nhà, đã từng bước một, tiến lần lên ngang tầm tiếng Pháp và qua mặt chữ Nho trong chương trình Giáo Khoa Pháp – Hán. Lần hồi đã loại hẳn mọi hình thức văn hóa Ngoại lai ra khỏi não trạng dân mình, cũng đã chứng minh cụ thể Tổ tiên ta là người Giao-Chỉ, không liên hệ gì với dòng máu Hoa thuộc loại Rồng Tiên KINH-DƯƠNG như Lịch sử Gia phả An-Nam đã ghi nhận từ lâu đời! Hiện thời chỉ còn lác đác một vài hình ảnh Văn hóa Lai căng của một số người vô thức còn nhai đi nhai lại mà thôi. Tội, Công ai chịu, Ân, Tình ai mang? Xin nhường quyền Bạn Đọc Bốn Phương và hàng Trí giả ngày mai xét đoán.

Tiên Sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ cũng đã tốn nhiều công sức khi phải tận tâm tận lực nghiên cứu thanh lọc quyển Ngữ Pháp, Từ điển Việt-Bồ-La và Phép Giảng 8 Ngày của G/sĩ ĐẮC-LỘ. Tiên Sinh đã vô cùng thông minh khi sáng tạo một cấu trúc ghép vần đúng cách viết theo hệ thống Giáo Sĩ ĐẮC-LỘ đã hình thành, đó là Quyển Vần Quốc Ngữ, tự nó đã trở thành Quy tắc bất thành văn của G/sĩ ĐẮC-LỘ mà ngày nay chưa có một mãy may nào thay đổi được, dù rằng đã có Quy định i và y của Bộ Trưởng GD&ĐT NGUYỄN-THỊ-BÌNH, nhưng tự nó đã biến thành phản tác dụng. Không một người Trí thức tầm cao nào đồng tình. Các Nhà Văn hóa tầm cỡ, các Học giả uyên thâm đã phản dối quá nhiều. Đa số ăn theo là thành phần vô học, hoặc có học nhưng không kiến thức, đã biến thành lớp người dua nịnh ăn theo phá hoại. Họ muốn thâm nhập vào hệ thống Giáo Khoa, đã để lộ nguyên hình và lố bịch ngày nay.

Với Tập Vần Quốc-Ngữ đầu tiên của TRƯƠNG-VĨNH-KÝ, đã rất hoàn chỉnh, dành cho học sinh lớp “Khai Tâm Tân Học”. Ông đã biên soạn rất ngắn gọn đơn giản, nhưng súc tích. Được phân định rõ 2 phần: Vần Xuôi và Vần Ngược, đã làm căn bản cho hệ thống khai tâm học Quốc Ngữ theo cấu trúc ghép vần của G/sĩ ĐẮC-LỘ. Điều chắc chắn, nếu trong lớp khai tâm, các em đã học kỹ vần xuôi và vần ngược trong Vần Quốc-Ngữ xem ra mỏng manh đó, thì đã tiếp nhận được đầy đủ căn bản cấu trúc Ghép Vần Chữ Tân-Quốc-Ngữ. Tập Vần Quốc-Ngữ đã không còn để lại một sai sót nào về Chính tả hiện nay. Đó là một nguyên tắc bất di bất dịch trong Việt-ngữ, một nét đặc thù độc đáo của Chữ Viết theo cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ hiện đại nầy. Cám ơn Tạo Hóa đã ưu ái ban tặng cho Dân Việt một Nhà Ngữ Học xuất chúng, để nghiên cứu và hình thành hoàn chỉnh Công trình Văn hóa ĐẮC-LỘ cách vẹn toàn.

Chúng tôi nghĩ nếu có thay đổi vài Mẫu tự sau nầy, việc chuyển đổi hệ thống viết tiếng Việt trong máy tính, chỉ là việc nhỏ. GsTs. TRẦN-TRÍ-DÕI đã cảm thấy thất vọng: “Chúng ta nên nhớ, hậu quả của quy định về cách viết “i” hay “y” trong chính tả tiếng Việt….. hành hạ giáo dục ba mươi năm nay và vẫn sẽ chưa biết đến khi nào kết thúc”.Điều quan trọng là trong toàn bộ hệ thống Từ Điển ngày nay cần phải điều chỉnh lại những hậu quả do Quy-định i y của NGUYỄN-THỊ-BÌNH mới là cái khó khăn và phức tạp nhất. Nó sẽ đem đến một sự tốn kém công sức và tiền của đến khủng khiếp cần phải đặt ra. Muốn kết thúc hậu quả đó, ta phải loại bỏ toàn bộ hệ thống Từ Điển nào đã từng in ấn : “Ca sỹ x. ca sĩ ; i sỹ x. y sĩ ; í kiến x. í kiến ; địa lý x. địa lí” vv và vv…. là một điều phức tạp nhất.

Người ta sẽ phải tiêu tốn một ngân khoản hàng tỷ tỷ đồng để chuẩn định, in ấn lại tất cả mọi loại “Từ điển Tiến bộ” theo hệ thống cải cách NGUYỄN-THỊ-BÌNH! Phụ huynh SV. HS. phải mở hầu bao cho con cái mua lại Từ điển Việt-Anh, Anh-Việt, Việt-Pháp, Pháp-Việt, Từ Điển Tiếng Việt, Đại Bách Khoa Từ Điển và hàng loạt loại Tự Điển như thế đã đã in Địa lí, Sử kí, Luân lí… thậm chí còn có Ca sỹ, Bác sỹ, Họa sỹ đã được cho phép viết trong chính tả. Rồi đến bao nhiêu sách Giáo Khoa dưới nhiều dạng Truyện Cổ Tích, Phương Ngôn, Tục Ngữ Việt-Nam, Lịch sử Việt-Nam, Việt-Nam Kỷ Yếu. Tất cả đều phải chuyển đổi đồng loạt cho đở hành hạ Giáo Dục như hơn 30 năm qua mà GsTs. TRẦN-TRÍ-DÕI, Nhà Ngôn Ngữ Học, chưa dám khẳng định đến khi nào mới kết thúc!

Đó là hậu quả NGUYỄN-THỊ-BÌNH đã kéo dài hàng thập kỷ năm đã để lại cho Xã Hội và nhiểu thế hệ con em! Việc điều chỉnh nầy, nhất thiết không thể bỏ qua. Vì nền Giáo Dục Dân Tộc, Cộng Đồng Người Việt và cả hàng Trí Giả Việt-Nam trong cũng như ngoài nước sẽ không bao giờ cho phép bỏ qua, dù có phải tiêu tốn bao nhiêu cũng là điều bắt buộc phải thay đổi, dù sớm hay muộn mà thôi. Nhưng tốt nhất đừng để kéo dài hơn nữa cho các thế hệ sau, vì mỗi ngày sự sai trái càng thêm nhiều gay cấn. Bộ GD&ĐT cũng sẽ không khỏi hối tiếc. Bà NGUYỄN-THI-BÌNH hiện nay, dù có muốn khắc phục, chuộc lỗi cũng đã quá muộn màng! Các Vị Cựu Bộ Trưởng, dù có muốn quay lại, cũng không thể còn làm được gì.

Cũng đã quá may, giả thuyết Quyển sách “Tân Giáo Khoa” của Tác giả ĐẶNG-THỊ-LANH, được sự hỗ trợ của Quý vị TRƯƠNG-CÔNG-BÁO, HOÀNG-VĂN-CUNG… đã không bị công luận chận đứng kịp thời, thì nó đã được đưa vào chương trình Giáo Khoa cụ thể, chậm lắm cũng chỉ 10 năm sau là thời gian tối đa, các nhà Từ điển Việt-Nam phải soạn lại toàn bộ Hệ thống Từ Điển Việt-Nam. Phải Bổ sung, Chú thích tất cảc từ ngữ Đổi Mới chưa có trong Từ điển Việt-Nam hiện hành, sẽ rất ư là phức tạp. Chẳng hạng: ngoài các từ địa lí, nhạc sỹ nói trên, các Từ Điển Gia còn phải chú thích thêm hàng vạn từ ngữ mới như: học giả x. học dã, học dả, học zã, học zả ; phải x. fải, fãi ; cắt x. cắc, kắt, kắc ; quê x. qê ; nghiên cứu x. nghiên kứu, nghyên cứu. nghyên kứu ; chuyên cần x. chuyên kần, chuiên cần, chuiên kần ; giỗ tổ x. giổ tỗ, dỗ tổ, dổ tỗ (cải cách theo vần mới ĐẶNG-THỊ-LANH trong sách Tân Giáo Khoa đã được Cơ quan Kiểm Duyệt Nhà Nước cấp Giấy phép Xuất bản. Khởi đầu áp dụng trong chương trình Giáo Khoa cho Niên học 2012-2013), trong đó có cả “câyNÊU” được viết thành “cây LÊU”, rồi các Nhà Từ Điển cũng phải “vắt chân lên cỗ” chạy theo ghi nhận đến “rã hơi tai”… đến….. “mệt nghỉ”!

Một khi không còn nguyên tắc Chính tả nữa, thì Từ Điển Việt-Nam phải soạn thảo phần ghi chú dài dài cho các ngữ vựng cho mỗi Phụ âm, còn phải lộn qua đảo lại mỗi từ theo từng Chữ cái. Ví dụ tìm chữ “Bác” trong Từ điển Việt-Anh, tác giả cần phải chú giải đủ: bác Uncle (fatheer’s elder brother), to reject, còn viết là bát, pác hoặc pát. Đến chữ Bát, cũng cần đảo lại:bát dt Bowl, cũng còn viết bác pác hoặc pát.x.bác.  giổ Anniversary of death, còn viết là giổ, dổ, dỗ (dỗ tổ Đặng-Thị-Lanh), zổ, zỗ (trong tương lai). Đến chữ Dỗ cũng thế: dỗ đt To coax, to soothe, còn viết là dổ, giổ, giỗ, zổ, zỗ x. giỗ.  bình yên Safe, peace, peacefull còn viết bỉnh iên, bỳnh yên, bỳnh iên, pỳnh iên, pỳnh yên. Rồi đến bỳnh yên x bình yên, cũng viết bình iên, bình yên, bỳnh iên, pỳnh iên, pỳnh yên, Đếnpỳnh iênx. bình yên, cũng viết bình iên, bỳnh iên, pỳnh iên, pỳnh yên vv và vv…

Nếu các Nhà Từ Điển không ghi chú rành mạch như thế, thì người ta không thể sưu tra ngữ vựng trong các loại Từ điển Việt-Nam được. Người ngoại quốc làm sao hiểu pỳnh iên, pỳnh yên, bình iên, bỳnh iên, pỳnh yên có nghĩa là gì, và dịch ra tiếng nước họ làm sao? Chỉ có thế, đã quá đủ cho các Nhà Từ Điển phải cảm thấy quá nhiêu khê đến điêu đứng, đến điên đầu! Nhóm Bộ ba LANH-CUNG-BẢO muốn thế, họ khoái tạo ra một tình trạng văn học hỗn độn đến không ai còn chịu nỗi. Các Nhà Văn hóa, Giáo dục và Bạn đọc có thể tuởng tượng Quyển Từ Điển Việt-Nam trong tương lai sẽ tăng thêm bao nhiêu trang giấy và độ dày của nó có quá gấp đôi không? Giá thành sẽ lên đến bao nhiêu, có mấy phụ huynh SV. HS. đủ khả năng bê được từng ấy Bộ Từ Điển Tiếng Việt-Nam, Việt-Pháp, Pháp-Việt, Việt-Anh. Anh-Việt, Việt-Mga., Nga-Việt… cho con em mình học hỏi? Bộ Đại Bách Khoa Từ Điển Việt-Nam cũng phải bổ sung đầy đủ cho phù hợp với thời đại. Kết quả Cách Mạng Văn Học NGUYỄN-THÌ-BÌNH đã đến thời nở rộ! Hãy vui lên! Hãy mừng lên! Hỡi toàn dân Đất nước Việt ta ơi! Hãy loại bỏ đi hệ thống cấu trúc ghép Vần Chữ Tân-Quốc-Ngữ ĐẮC-LỘ, vì nó quá đơn giản, không còn phù hợp với xã hội Văn Minh hiện đại vốn đã hết hợp thời.

Hàng Trí giả chân chính, cũng đã vô tư nhận thấy rằng các Nhà Truyền Giáo và cách riêng Cộng Đoàn Dòng Tên đã Việt-Hóa chữ La-Tinh cho đất nước nầy, chứ không hề La-Tinh-Hóa Việt-Nam như ý đồ của Tàu và Tây qua các thời đô hộ. Không như sự bóp méo, xuyên tạc của những tay Nô Văn, Bồi Bút xưa nay từng ăn có nói theo. Các Nhà Truyền giáo không hề bán đứng Việt-Nam cho Pháp như người ta đã từng ghi đậm nét trong Lịch Sử nước nhà. Tuy tư tưởng đó đã bị đào thải, vẫn chưa gọt rửa được hết cái nhìn của lớp người bị nhồi sọ, chỉ biết ăn có viết thuê. Những định kiến cho rằng Chữ Tân-Quốc-Ngữ là ý đồ La-Tinh-Hóa của các Giáo sĩ Tây phương hãy còn văng vẳng đâu đây của bọn Văn nô Tàu ở thời Hủ Nho, chưa đủ trình độ khai hóa kịp thời.

Chúng tôi mong rằng hàng Trí giả, các Sử Gia, các Nhà Nghiên cứu kể cả các Nhà Trí thức Công Giáo cần phải Nghiên cứu một cách nghiêm túc ngữ nghĩa vốn có của chữ Tân-Quốc-Ngữ là một hình thức “Việt-Nam-hóa Mẫu-Tự La-Tinh hay La-Tinh Hóa Tiếng Việt”để tránh mọi sự nhầm lẫn sau nầy cho giới trẻ trên nhiều mặt. Ngày nay không thể còn có sự hiểu sai lầm như giới Hũ Nho, phong kiến của Thế kỷ XVII, XVIII là La-Tinh-Hóa, La-Mã-Hóa, Công cụ Xâm lăng, là Phương tiện Thực dân sử dụng. Lịch Sử nên sửa sai, cần phải khai trử cụm từ “La-Tinh-Hóa” phản nghĩa đó, để không bị các thế hệ mai sau nghi ngờ trình độ văn hóa của các bậc Cha Ông còn ô tạp dù đã bước vào Thế Giới Văn Minh ở Nghìn Năm Thứ III của loài người! Ta không thể sử dụng ngữ nghĩa tiếng Việt cách bừa bãi như thời chưa được khai hóa! Không thể vô ý thức để tiếp tục bóp méo Chữ Tân-Quốc-Ngữ theo sự hiểu biết bị khép kín theo trình độ văn hóa lạc hậu.

Vốn là một Nhà Đại Ngôn Ngữ Học toàn cầu, Tiên sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ cũng cảm nhận được Cấu trúc Chữ Việt đã có một nét đẹp tinh tế, đạt đến mức xuất chúng, hoàn hảo hơn hầu hết mọi loại chữ viết khác xưa nay. Chữ Tân-Quốc-Ngữ chưa đáng là một sự hãnh diện, một niềm tự hào muôn thuở cho Dân Việt đó sao? Thế mà vẫn bị bôi bác, bi khinh thường, bị xuyên tạc, bị chà đạp, bị xé nát! Đúng là một tập thể “Văn Hóa” giữa loài người nếu không bị mua chuôc để đánh phá, tối thiểu cũng đã bị nhồi sọ quá sâu!

X. CẦN CHẤN CHỈNH NHỮNG HÌNH THỨC LAI CĂNG MẤT GỐC

Nền Văn học Nước nhà hiện nay, ngay trong giao dịch thường ngày lẫn trên Văn bản, Sách vở, Báo chí, đã có nhiều biểu hiện thay đổi bất hợp lý, lai căn nếu không nói rằng mất gốc.

A. Danh-từ-kép trong hệ đơn ngữ Chữ Việt :

Các ngữ vựng “Việt-Hóa” được gọi là “Danh-từ-kép” như chúng tôi đã đề cập phần trước. Đó là những từ ngữ Nước ngoài được phiên âm thành tiếng Việt. Trước tiên do các Giáo Sĩ Truyền Giáo phiên âm từ tiếng La-Tinh, như Thánh BÊ-NÊ-ĐI-TÔ bởi BENEDICTUS (được chia ở Thể cách Aplatif là BENEDICTO). Nhưng khi Việt hóa, các Ngài đã bắt buộc phải sử dụng “gạch nối” như đã dùng phổ biến xưa nay. Không nên bỏ gạch nối để viết thành liên từ là BÊNÊĐITÔ, dễ gây ngộ nhận cho người không Công Giáo, họ nghĩ đó là Danh từ riêng tiếng nước ngoài.

Kế tiếp tuyệt đại đa số là các ngữ vựng được Việt- hóa từ Chữ Hán, gọi phổ biến là “Danh từ Hán-Việt”. Các danh từ Hán-Việt gốc chữ Nho như “Địa-ốc”, “Phi-cơ”, “Hỏa-xa”… trong thập kỷ 50-60 Thế kỷ XX, đã từng được Nhóm Tự-Lực Văn-Đoàn gọi phổ biến một thời là “Danh từ mới”. Đó là “Danh từ kép”. Kép có nghĩa là nhiều chữ ghép nối nhau thành một ngữ nghĩa, như bê-bối có nghĩa là xốc xếch, không ngãn nắp, bừa bãi lộn xộn, phải luôn nối kết nhau. Nếu chúng đứng rời nhau “Bê” và “Bối”, “Bừa” và “Bãi”  thì đã thành ngữ nghĩa khác. Bê-bối tách rời ra thành danh từ đơn: “bê” là con bò con (bò nghé) còn có nghĩa là ôm một vật nặng, “bối” có nghĩa là rối (tóc bối, tóc rối), bận (rối bù) hiếm ai dùng. Vì thế các Nhà Văn Hóa Tiền bối buộc phải dùng “gạch nối”, thay vì viết nối thành Liên âm (bêbối, xốcxếch) như “Chữ Tây”. Nó đồng thời cũng để phân biệt với danh từ bản địa thuần Việt như Nhà đất, Máy bay, Tàu lửa, Xe hơi, khác với Địa-ốc, Phi-cơ, Hỏa-xa (từ Hán Việt), Ô-tô (từ Pháp Việt Auto)… không phải là tiếng Bản địa. Các Nhà Văn hóa và Từ điển  gia đã sử dụng gạch nối đại trà như ta đã thấy từ lâu trong các Từ điển truyền thống. Các Tân Từ Điển được Ấn hành tại Miền Nam trước ngày Giải Phóng cũng đều giữ nghiêm túc Luật sử dụng Gạch nối trong các Danh từ kép, thiếu gạch nối, bị bắt lỗi Chính tả. Sau đó đến các danh từ được phiên âm Việt-Hóa từ tiếng Pháp, Anh, Nga, Đức, Ý, Bồ…: “Ga-ra” (garage), “tà-vẹt” (traverse), “Mit-tinh hay mét-tin” (meeting), “Căng-Tin” (canteen)…, đều là danh từ kép, đều phải có gạch nối, không phải từ vựng truyền thống cùa Cha Ông.

Như “Cha mẹ” (từ thuần Việt không gạch nối) và “Phụ-mẫu” (từ Hán-Việt có gạch nối), “Tình Huynh-đệ” (có gạch nối), “Nghĩa thầy trò” (không). Ngoài ra, gạch nối còn được sử dụng trong những tên riêng thuộc “Nhân-xưng” như “NGÔ-QUYỀN”, “TRẦN-QUỐC-TOẢN”, “ÁI-SEN-HẢO” (AISENHOWER), “HỒ-CẨM-ĐÀO” (HU JǏNTAO), “HOA-THỊNH-ĐỐN” (WASHINGTON)… và “Địa-danh” như “Hà-Nội”, “Sài-Gòn”, “Đà-Nẵng”, “Nha-Trang”… Đó là một nét đặc trưng danh từ kép tiếng Việt “đơn âm” trong hệ thống ngôn ngữ Châu-Á mà không có một nước nào sử dụng được gạch nối như Việt-Nam. Một nét đẹp Văn hóa Ông Cha ta đã tìm ra, không nên phế bỏ. Mạo từ Le, La, Les, The của Anh Pháp, hoàn toàn không cần thiết, có thể bỏ được, nhưng người ta vẫn giữ mãi đến muôn đời. Nét đẹp Văn Hóa của họ là đó!

Ngay trong các Bài viết hiện nay của chúng tôi, kể cả trong Thỉnh Nguyện Thư 8.12.2010 (TNT đd), cũng xin Quý vị cảm thông, vì tôn trọng Bạn Đọc đã quen mắt, nên chúng tôi cũng đã dè dặt không dám sử dụng gạch nối một cách đại trà theo Từ điển Tiếng Việt truyền thống. Chúng tôi rất hạn chế một cách thận trọng khi cần thiết trong các danh từ phiên âm Âu, Mỹ và các danh từ riêng về Nhân xưng và Địa danh mà thôi. Còn danh từ Hán-Việt, chúng tôi còn xin được lắng nghe ý kiến của hàng Trí giả Việt-Nam, từ trong cũng như ngoài nước. Để biết ta còn nên sử dụng lại gạch nối theo truyền thống hay cần bỏ hẵn như chủ trương của Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ 1945 đến nay, cho được đơn giản hơn. Theo chúng tôi nghĩ, cũng nên đơn giản Chính tả, giảm bớt gạch nối đại trà trong Danh từ Hán-Việt thấy hay hơn.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng nghĩ rằng, nếu bỏ, ta có thể bỏ được gạch nối trong danh từ Hán-Việt, nhưng không thể bỏ gạch nối trong trong các danh từ phiên âm Âu – Mỹ – Phi – Úc, và cách riêng là Danh từ Khoa học được Việt-Hóa. Không thể viết “BÁCH CANH” (PASCAL), “NÊ RÔNG” (NÉRON), “MI KHÂY GÓC BA CHỐP” (MIKHAIL GORBACHEV), phải viết rõ ràng BÁCH-CANH, “NÊ-RÔNG”, MI-KHÂY GÓC-BA-CHỐP để lộ rõ MI-KHÂY và GÓC-BA-CHỐP là tên và họ riêng biệt. Càng không nên viết thành từ Liên âm như ANTÔNIÔ, dễ ngộ nhận tên nước ngoài. ADÔNIGIAHU, GHIKHÔN, GIÔNATHAN đều không phải nguyên ngữ của Tên riêng các Nhân vật Do-Thái thời Cựu Ước, nhưng không ai nghĩ đó là những tên riêng đã được Việt hóa. Nếu không viết rõ ràng A-DÔ-NI-GIA-HU, GHI-KHÔN, GIÔ-NA-THAN! Nhà sáng lập Chữ Tân-Quốc-Ngữ đã sử dụng danh từ tiếng Việt theo dạng “Từ Vựng Đơn âm” vốn có với gạch nối, thành một dạng Danh từ kép, vì tiếng Việt đã không có dạng liên âm theo kiểu viết Âu-Tây.

B. Từ Điển Việt-Nam hay Từ Điển Tổng Hợp Toàn Cầu ?

Quyển “Từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ Học, do Nhà Xuất bản Giáo dục ấn hành tại Hà-Nội 1994, là một quyển Từ điển đáng trân trọng, rất căn bản trong công trình sưu tra ngữ nghĩa cho người Việt, đặc biệt cho các thế hệ SV HS trong cũng như ngoài nước cần sưu tra ngữ nghĩa danh từ tiếng Việt.

Tuy nhiên, rất đáng tiếc, các Đồng Tác giả đã tỏ ra quá lệch lạc trong việc sử dụng sai nguyên tắc soạn thảo Từ Điển.

Đơn giản chữ “Côcain”… đã xuất hiện trong Từ điển nầy như một từ ngữ thuần Việt. Côcain không thể là Chữ Việt hóa để được in trong Từ điển Tiếng Việt. Nó là một loại Âm ngữ lai căng, không hề là tiếng Việt. Từ Điển Tiếng Việt truyền thống, trên nguyên tắc, xưa nay không hề có kiểu viết Liên từ. Côcain cũng không là danh từ Âu-Mỹ (the cocaine)! Muốn Việt Hóa Cocaine, cần phải viết “Cô-ca-in” rõ ràng, rành mạch từng chữ và có Gạch nối liền nhau. Nó cũng không là là nguyên ngữ Danh từ nước ngoài nào cả. Đã có một ai tìm tiếng nước ngoài “Côcain” trong từ điển tiếng Việt? Càng tệ hại hơn, danh từ Côcain không thể tìm thấy trong mọi loại từ điển trên khắp các nước Âu-Châu cộng lại!

Đã đưa vào Từ điển Tiếng Việt, thì phải phiên âm cụ thể cóhình thức là tiếng Việt, phải Việt hóa, khai sinh bằng tên Việt, có “Việt-Tịch” rõ ràng rồi mới giải nghĩa từ đó. Ví dụ “A-xít a-xê-tit” giải nghĩa là một loại a-xít không màu… tỉ mỉ hơn, có thể chua thêm: phiên âm bởi Acid accetic tiếng Anh, Pháp, Đức hay La-Tinh, thì mọi người càng được hiểu rõ hơn (tìm xem các loại Từ Điển Tiếng Việt của các Nhà Từ Điển Tiền bối).

Chữ Phốt-pho-rít chỉ giải nghĩa là Quặng phốt-phát đã đủ. Nhưng danh từ “Phốt-pho-rít” nầy lại không tìm thấy trong Từ điển (sđd), chỉ có từ “Photphorit”, không rõ là tiếng nước nào, riêng tiếng Việt rõ ràng là không có! Càng nghịch lý hơn, khi ta sưu tra được từ “Photphorit nầy đã có trong Từ điển (đd), thì lại ghi: “x. phosphorit” (!) khiến người tra Từ điển – không đủ trình độ tiến bộ – phải ngẫn ngơ! Họ chạy tìm đâu ra một quyển Từ điển  Anh-Việt hay Pháp-Việt để tra “phosphorit”. Từ điển Anh có phosphorite, phosphoric acid, Pháp có acide phosphorique, phosphorite, tuyệt nhiên không có từ nào là “Phosphorit”. Ai nghĩ đây là danh từ “Việt hóa” để có mặt trong hệ thống Từ Điển Tiếng Việt đang nằm trên tay mình. Quý vị có thấy đó là một điều nghịch lý?

Hơn thế nữa, đã có ai nghĩ rằng trong Từ điển Tiếng Việt ngày nay lại có từ Phosphor, Acid, Vitamin, Kilowatt? Trên toàn thế giới văn minh, khó thể tìm ra một quyển Từ điển có chữ thuần ngoại kiểu nầy! Không một ai tìm gặp Acid trong Từ điển Nga, không có Vitamin trong từ điển Pháp, không có phosphorique trong từ điển Anh! Nhưng nó đã xuất hiện đầy dẫy trong Từ điển Tiếng Việt ghi trên!

Còn danh từ Kilooat thì đào đâu ra trong tiếng Việt? Nó là của nước nào? Đúng là đã đến lúc đa ngôn, loạn ngữ trong Từ Điển nước nhà! Truyền thống các hệ Từ điển chưa bao giờ xuất hiện một từ vựng chưa được Bản địa hóa cụ thể. Người ta đã không tìm thấy những danh từ được xem là Quốc Tế Hóa trong Từ Điển Tiếng Việt như Noël chẳng hạn, nếu không phiên âm thành Nô-ên hay No-en.

Phải viết “Vi-ta-min” chứ không có Vitamin trong tiếng Việt. Ta cũng đã có danh từ Hán-Việt “Sinh tố” quá hay, không cần phiên âm Pháp hay Anh là “Vi-ta-min” nữa, không văn minh hơn, thiếu âm giọng cũng không lọt tai lắm. Vi-ta-min nghe có vẻ thô thiển làm sao ấy. Còn viết vitamin lại càng ngố hơn…! Vì thế, ta càng không thể bỏ gạch nối trong phiên âm Phot-pho-rit thành “Photphorit”, lại càng không có Phosphorit, (Chữ Việt không có phụ âm s đi sau nguyên âm), khiến người đọc nhầm lẫn là danh từ nước ngoài, nó cũng không có mặt trên các Từ điển Âu-Châu, còn viết Phot pho rít, trông rời rợt, khó hiểu, không ra một từ đã được Việt âm, không giống chữ Việt hóa chút nào!

Trong Từ điển Tiếng Việt nầy, chúng tôi đã từng gặp rất nhiều danh từ nguyên gốc tiếng nước ngoài, hoàn toàn không phiên âm Việt-Hóa nhưng chungas lại được có mặt, đứng chung với từ ngữ Viêt-Nam trong Từ điển Tiếng Việt, như một danh từ phổ thông Việt-Nam. Đó là một hiện tượng lạ. Thật rất khó hiểu kiểu sử dụng từ ngữ trong Từ Điển tiếng Việt của Thời đại ngày nay!

Không ai vô ý thức sưu tra những danh từ nguyên ngữ nước ngoài trong các Từ điển tiếng Việt. Những từ ngữ không có dạng “đơn âm” không có dạng Việt-hóa đều bị lẫn lộn và ngộ nhận. Để chứng minh thêm, nếu muốn phiên âm Việt-hóa trong Từ điển Tiếng Việt phải viết Phô-Tô-cô-bi, chứ photocopi không thể có mặt trong tiếng Việt. Anh ngữ là Photocopy, tiếng Pháp Photocopie. Còn Photocopi ở đây là loại lai giống “F1”, “F2”. Đó là một một dạng chữ viết hoàn toàn sai bậy, mất gốc. Cả trong Đại chúng Quốc nội, lẫn cả  giới Việt Kiều hải ngoại, nếu ai không thuộc tầm cỡ chuyên môn cao và thành phần tiến bộ, chắc chắn phải chào thua những kiểu chữ viết tiến bộ rất “Tân thời” nầy! Từ điển Việt không được phép dùng chữ “p” đứng trước nguyên âm mà không có phụ âm “h”, vì không phải là chữ Việt. Vần “pi” ở đây phải đổi thành “bi”. Phải Việt âm là phô-tô-cô-bi!

Việt ngữ thuộc dạng đơn âm, không hề có cấu trúc Liên âm. G/sĩ ĐẮC-LỘ vẫn bảo toàn dạng đơn âm tiếng Việt, không biến thành Liên âm như chữ Trung quốc lai Âu ngày nay khi họ viết theo Mẫu Tự Hán-Hóa La-Tinh thành HU JǏNTAO ta phiên âm Hán-Việt là “HỒ-CẨM-ĐÀO”, chứ không ai viết “HỒ CẨMĐÀO” kiểu liên từ như Trung-Quốc. Ta phải phiên âm theo Việt-Hóa là “Ki-lô-oát” chứ không thể là Kilooat, dân Việt đọc không ra.

Không có dạng “đa âm ngữ” viết liền nhau thành một chữ mà không có gạch nối như một từ ngữ nước ngoài, khiến Độc giả bình dân ngộ nhận. Đã mấy ai có đủ trình độ hiểu được “chữ viết mới”, chỉ dành cho giới “Trí thức cục bộ” hơn là có tính phổ thông đại chúng. Đã không có phụ âm p đứng trước bất cứ một nguyên âm tiếng Việt nào, nếu không đi chung với h được phát âm như f, cũng không có j trong Chữ Tân-Quốc-Ngữ nên không thể xuất hiện từ “Pijama” trong Từ điển Tiếng Việt nếu không phiên âm “Bi-ra-ma” hay “Bi-gia-ma” (đồ ngủ), nếu phiên “Bi-da-ma” sẽ được đọc có gió như chữ z. Không có Polivitamin mà chỉ có “Sinh tố Tổng hợp”. Không có Protein, Plasma, Proton, lại càng không có Puốc boa, nghe quá quê mùa, trông không giống ai. Xin lưu ý các nhà Tân Từ Điển, hãy để người ta tìm nguyên ngữ nước ngoài trên các Từ điển nước ngoài, không một ai mất trí để tìm “Automat” trên Từ điển tiếng Việt (sđd). Xin lặp lại lần nữa, chưa ai từng tìm gặp một Từ điển một nước Văn minh nào đã in nguyên ngữ nước ngoài cho dân bản địa sưu tra, nếu chưa bản địa hóa danh từ đó. Hạn chế lắm mới có trong các quyển Bách Khoa Đại Tự Điển, người ta buộc phải in các Danh Từ Riêng theo nguyên ngữ nước ngoài mà không âm hóa nước mình đối với tên riêng một số Sông biển, Núi non, Địa danh và Nhân danh.

Nhân loại chưa có đủ trình độ soạn được một Bộ Từ Điển Quốc Tế tổng hợp hết mọi ngôn ngữ cho nhân loại tiện sưu tra như Việt-Nam ta hiện nay.

C. Các từ vựng Danh xưng :

Các Danh từ riêng về tên Nhân Vật và Địa danh đều là “đặc từ kép”, có lẽ ta cũng cần giữ nguyên gạch nối, đó là một nét đặc trưng tiếng Việt. Đàng khác, a) Nếu còn phải sử dụng gạch nối đại trà theo các Từ điển truyền thống, thì chúng tôi nghĩ ta cũng phải viết “Dảng Cộng Sản Việt Nam”, “Vit Nam Dân Ch Cng Hòa” không bao giờ được dùng gạch nối, vì Vị khai sinh nó đã chọn đặt tên vốn không có gạch nối. Cũng thế, “Cng Hòa Xã Hi Ch Nghĩa Vit Nam” là do Quốc Hội Việt-Nam khai sinh, đã chính thức quy định như vậy, mọi người đều phải tôn trọng, không ai có quyền thêm gạch nối thay đổi hình thức các cụm từ nầy. b) Ngược lại, nếu ta quyết bỏ gạch nối vĩnh viễn trong Danh  từ Hán Việt, thì “Vit-Nam Cng-Hòa”, “Tự-Lực Văn-Đoàn”, “Hội Khuyến-Học”, “Cần-Lao Nhân-Vị”… đều phài giữ gạch nối. Vốn dĩ nó là Đặc từ, như một cụm Danh Từ Riêng. Các Nhà Sáng lập đã quyết định đặt tên như thế từ khởi thủy. Là ý chí của các Nhà Sáng Lập đã sưu tầm nghiên cứu kỹ khi tìm một danh xưng thích hợp, không phải chuyện bổng dưng mà có. Ta nên tôn trọng loại gạch nối nầy.

Thay đổi ý chí các Bậc Tiền Nhân đã khai sinh nó bằng cách nầy hay cách khác, đều là sự xúc phạm tinh thần Quyền Tác Giả không nên có. Thậm chí tên riêng của một người đã tự chọn lựa cho mình, như “NGUYỄN-THẾ-GYÁB”, “ĐỔ-VĂN-DZU”, mọi người đều phải tôn trọng, không bao giờ được cho là lỗi chính tả để sửa đỗi lại là GIÁP và DU, cũng không được sửa thành NGUYỄN-DZU thay tên Đại Văn hào NGUYỄN-DU, tuy có “Lỗi thời”, có “Cổ lỗ sĩ” nhưng Tiên sinh không yêu cầu “tân trang cải tiến” cho hợp thời đại. Nhưng NGUIỄN-NGU-Í, NGUIỄN-NGUIỄN THƯ-TRANG, ta cũng cần phải sửa NGUYỄN-NGU-Í, NGUYỄN-NGUYỄN THƯ-TRANG, vì đó là tên Họ, tên Dòng Tộc truyền thống, không thuộc quyền sở hữu cá nhân riêng mình. Bá tánh trong nước Việt, chưa bao giờ có Họ “NGUIỄN”, mà họa hiếm cũng chỉ có họ NGU, họ TRÂU… Cũng không có quyền đổi NGU-Í thành NGU-Ý là tên riêng tự chọn, đã được Chủ nhân coi trọng từ tận cân não, máu huyết của chính mình.

Có thể là chúng tôi quá hẹp hòi và thủ cựu chăng? Vâng, xin xem đây cũng chỉ là một quan điểm cá nhân, một suy nghĩ phiến diện, nhưng là một gợi ý để Cộng Đồng người Việt nghiên cứu xem xét mà thôi.

XI. VĂN HỌC DÂN TỘC LÀ LINH HỒN CỦA TỔ QUỐC

Nếu “Phong Tục Tập Quán” là thể hiện tính Đạo đức, là nét đẹp, là nền tảng Văn hóa, là “Trái Tim” loài người, thì “Văn Học” là biểu hiện tính Truyền thống Văn minh của Đất nước. Văn Học là “Linh Hồn” của một Tổ Quốc. Văn học mất, Tổ Quốc cũng không còn! Vì thế bất đế quốc nào cũng muốn Mẫu quốc hóa ngôn ngữ Thuộc địa, nếu có thể. Như Việt-Nam đã kinh qua 2 thời Tàu Tây đô hộ, đó là một bằng chứng, nếu Nhà Văn hóa tiền bối TRƯƠNG-VĨNH-KÝ không cùng các G/sĩ Thừa Sai phát triển được chữ Tân-Quốc-Ngữ lúc bấy giờ, để giứ được Tính Dân Tộc Việt-Nam, thì ngày nay dân ta đã hoàn toàn nói “Tiếng Tây” thay vì chữ Nho, còn chữ “Việt-Hóa Mẫu-Tự La-Tinh” nầy, cũng chỉ sử dụng riêng cho Cộng đồng Công giáo Việt-Nam, như một khung hình chữ viết có tính Tôn Giáo mà thôi. Từ đó “Đất nước Việt-Nam tất nhiên đã tách thành hai xã hội Văn minh Văn hóa riêng biệt trên một lãnh thổ”!

Vì thế, dù cá nhân hay tập thể nào tự ý thọc tay vào nền Văn học nước nhà dưới hình thức nầy hay hình thức khác, nếu không vì trình độ hiểu biết quá hạn hẹp, đều là hành động phá hoại tinh thần Dân tộc, là Ngu-Dân-Hóa Cộng Đồng người Việt, là chủ mưu dâng cúng lãnh thổ cho Ngoại Bang, là bán nước. Phá bỏ Văn học một đất nước là bán đứng Linh hồn Tổ Quốc, là chà đạp truyền thống Dân sinh, là  tiếp tay vọng ngoại, muốn quay lại thời SĨ-NHIẾP với nghìn năm nô lệ, là lật đổ Bàn thờ Tiên Tổ Người Việt xuống tận đáy vực sâu!

XII. THẤT-TINH-HỘI

Nhóm Tự-Lực Văn-Đoàn (TLVĐ) là một nhóm Trí thức Văn hóa rất thời danh do Học Giả NGUYỄN-TƯỜNG-TAM (bút hiệu NHẤT-LINH) sáng lập 1933. NHẤT-LINH trước tiên đã chọn lọc 6 Văn nhân xuất chúng gồm KHÁI-HƯNG (TRẦN-KHÁNH-GIƯ, còn gọi NHỊ-LINH), HOÀNG-ĐẠO (NGUYẼN-TƯỜNG-LONG), THẾ-LỮ (NGUYỄN-THỨ-LỄ), TÚ-MỞ (HỒ-TRỌNG-HIẾU), THẠCH-LAM (NGUYỄN-TƯỜNG-LAN) và cuối cùng là XUÂN-DIỆU. Bảy Vị đều là các Nhà Văn Hóa lỗi lạc, là Nhóm Văn Hóa có tầm cỡ, nổi trội nhất xưa nay, từng được giới Trí thức gọi là “Thất-Tinh-Hội”. Có nghĩa là ngoài 7 Nhân vật nầy ra, thì không một Văn nhân Thi sĩ nào còn được xem là thành viên chính thức của TLVĐ nữa, tuy về sau còn có một số nhà văn thời danh khác có tên tuổi, cũng cộng tác chặt chẽ với TLVĐ như TRẦN-TIÊU, em ruột KHÁI-HƯNG, TRỌNG-LANG, HUY-CẬN, THANH-TỊNH, ĐOÀN-PHÚ-TỨ, nhưng không được xem là nhóm TLVĐ (Thất-Tinh-Hội) như nhiều người lầm tưởng. Cơ quan ngôn luận của TLVĐ là tờ Báo Phong-Hóa.

Tự-Lực Văn-Đoàn có thể nói là một Nhóm Cách Mạng Văn học của nước ta, một Hội Đoàn Văn hóa duy nhất được hàng Trí giả ghi nhận là một Tổ Chức Văn Hóa cao đã thực sự khai mở một hướng sáng tác hiện đại nhất xưa nay. Nhóm Văn-Đoàn nầy tuyệt đối bảo tồn nét đẹp Văn Hóa Dân Tộc với tiêu điểm tiếp nối sự nghiệp G/sĩ ĐẮC-LỘ và công trình TRƯƠNG-VĨNH-KÝ. Nhóm quyết tâm nối tiếp, bảo vệ và phát huy nền Văn học truyền thống nước nhà. Vì quyết tâm phát triển nền Văn học Dân tộc tiến đến đỉnh cao để kịp thời hội nhập Văn hóa ngang tầm Âu-Châu, Nhóm TLVĐ đã tập trung toàn thân, toàn ý trong chiều hướng phát triển và cải biến Văn hóa, đã nghiên cứu về cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ tỉ mỉ hơn. Nhờ càng nghiên cứu, TLVĐ càng tìm thấy được những nét đẹp của các Nhà Văn hóa Tiền bối Bậc Thầy như các Học giả NGUỄN-VĂN-VĨNH, PHẠM-QUỲNH… đến các nhà Từ điển TRẦN-TRỌNG-KIM, ĐÀO-DUY-ANH, ĐÀO-VĂN-TẬP…. là những nhà Ngôn ngữ thuộc bậc kỳ tài, là các Văn nhân cũng đã trân trọng bảo tồn mọi quy tắc Chính tả trong cấu trúc ghép Chữ Tân-Quốc-Ngữ. Các Bậc Tiền bối đã chú trọng hơn hết về cách phát âm Thanh giọng tiếng Việt thật tinh vi về mọi mặt một cách sâu sắc, đúng âm giọng truyền thống của cư dân Nội thành một Thủ Đô Nghìn Năm Văn Vật, không một mảy may sơ sót.

TLVĐ cũng quyết sửa đổi những điểm rườm rà, bất hợp lý, bổ sung những thiếu sót trong cấu trúc chữ Việt nầy cho được hoàn chỉnh hơn trong hệ thống cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ. Đặc biệt là cách loại bỏ gạch nối trong chữ Việt. Nhưng Nhóm TLVĐ thấy như thế sẽ có một vẻ khập khiểng nào đó. Họ nhận thấy Gạch nối là biểu hiện sự phân định giữa Danh từ thuần Việt (anh em) và Danh Từ Việt-Lai tức Việt-Hóa (huynh-đệ, ga-ra). Vì thế Nhóm TLVĐ đã đánh giá cao hình thức sử dụng gạch nối của các Nhà Từ điển, là nét đẹp đặt trưng của nền Văn Học Việt trong hệ thống chữ đơn âm tại Á-Châu mà các Nhà Từ Điển kỳ cựu đã nổ lực nghiên cứu, biên soạn tỉ mỉ trong các Tác phẩm của mình đã được sưu tra, gạn lọc hàng Thế kỷ, mối  trở thành một Quy tắc Bất Thành Văn.

Do đó Nhóm TLVĐ chẳng những đã không có chủ trương bỏ “Gạch nối” trong Chữ Việt, nhưng còn đề nghị sử dụng gạch nối cách đồng bộ và thống nhất hơn trong các “Danh Từ Riêng” về tên người, tên vật, tên địa danh, sông núi. Họ đã “trình làng” quan điểm mình như một phần bổ sung cần thiết. Tuy không được một Cơ quan, Tổ chức, Tập thể nào dám chấp nhận, nhưng cũng chưa một nhà Trí thức nào lên tiếng phản đối sự bổ sung nầy. Từ đó mọi Danh xưng đều được sử dụng gạch nối gần như đồng bộ cho đến ngày Giải phóng Miền Nam.

Tính đến Thượng bán Thế kỷ XX, người ta không phát hiện một bộ Từ điển nào thiếu gạch nối trong các danh từ Việt Hóa xưa nay. Sau một thời xuất hiện nhiều “Chuyên gia Đạo văn”, sao chép tác phẩm người khác để đổi tên mình thành “Tân Tác Giả”. Sự sao đi chép lại đã trở thành méo mó hủy hoại nét đẹp truyền thống Từ điển dưới nhiều hình thức. Từ đó đã nổi cộm những vết loan lỗ thãm hại, đánh mất tính thuyết phục đối với mọi người. Họ chỉ biết bớt một đôi nét, thêm vài chữ đệm, sửa đổi vài ba cách viết, nhưng nội dung “Từ điển mới ra lò” vẫn còn “nguyên xi” 99,99% nội dung của Cha đẻ ra chúng, các Nguyên Tác giả! Người ta không đủ trình độ sưu tra, nghiên cứu được cái mới như một công trình soạn thảo, ngoài Công trình Sao đi Chép lại, xóa tên Tác giả, ghi đệm tên mình, đã lộ rõ nguyên hình Sản phẩm ăn cắp của giới Đạo Văn mà thôi. Nếu ta đem so sánh một số Từ điển như thế với bản gốc nào đó, sẽ phát hiện kiều “Sao y Bản chính”, lại có đôi nét lệch sai Bản chính đến kỳ khôi, vô Văn hóa, thiếu Khoa học!

Đứng trên bình diện Dân tộc, TLVĐ là một Trường phái Văn học hoàn chỉnh, không ỷ lại, không khuất tất, đãvạch trần tính chất lỗi thời, tàn dư của Xã Hội cũ từng theo Hủ Tục lỗi thời Nho giáo ngự trị Dân tộc ta suốt cho đến ngày nay. Thất-Tinh-Hội đã xác định rằng Khổng-Giáo không hề có căn bản Đạo Đức đúng nghĩa, chi là một hệ thống cai trị áp đặt tư tưởng được mệnh danh là “Đạo Quân Thần”, cộng thêm “Đạo Phụ Tử” với nhiều điều bức bối đến phi nhân. Chỉ là một Học thuyết bảo thủ cho chính sách Độc tài Phong kiến, với tinh thần đôn đội hàng Vua Chúa đến độ “Tôn thờ” (culte). Giáo luật của Đạo Nho là: “Quân khiến thần tử, Thần bất tử bất trung” (Vua bảo dân chết, Dân không tự nguyện chết là bất trung) kể cả muốn cướp vợ lấy con, Thần dân cũng phải cúi đầu. Lộ liễu nhất là vụ Nhà Đại Văn Hóa NGUYỄN-TRÃI và Nhà Giáo Dục THI-LỘ. Đã giữ đúng “Đạo Quân Thần”, Cụ NGUYỄN-TRÃI đã dâng hiến người vợ trẻ đẹp cho Nhà Vua cách rất tự nguyện, nhưng cuối cùng Nhà Vua đã lăng đùng ra chết trên giường THỊ-LỘ, bởi hậu quả “Thượng Mã Phong” do hoang dâm quá độ với một nàng tiên trẻ và quá đẹp!

Kết quả, Vợ chồng Vị Đại Công Thần nầy cũng bị Tru Di Tam Tộc. Ba họ Nội, họ Ngoại và họ Vợ, từ người già “nằm trên miệng lỗ” đến một bé sơ sinh chưa được ngày tuổi, bất luận Nam hay nữ, đều bị lôi ra pháp trường chém “tất tần tật”. Đó là Đạo Quân Thần Khổng Giáo. Đến “Đạo Phụ Tử” cũng không kém phần độc tài: “Phụ sử tử vong, Tử bất vong bất hiếu” (Cha khiến con chết, Con không chịu chết là bất hiếu), kể cả phải vâng lời đi trộm cướp giết người (?). Tất tất đều tuyệt đối, không có một Luật trừ nào trong Xã hội Nho Giáo!

Còn tồi tệ hơn là “Đạo Phu-Phụ”, mộtChế độ nô lệ Gia Đình! Nho Giáo chỉ bảo vệ quyền lợi nam giới mà thôi. Người đàn ông trong gia dình cơ hồ là một Đại Chủ Nô: “Trai năm thê, bảy thiếp, Gái chính chuyên một chồng”(Nam giới được phép lấy vợ tràn lan tùy thích, phụ nữ chỉ được lấy một Đức Ông Chồng duy nhất). Cộng thêm Nữ giới còn bị ghép vào khung hình của “Đạo Tam Tòng”! Phụ nữ suốt đời phải lệ thuộc: “Tại gia tòng phụ, Xuất giá tòng phu, Phu tử tòng tử” (Tại nhà phải tùng phục Cha, không nói đến Mẹ, lập gia đình, phải tùng phục “Đức Ông Chồng”, Chồng chết phải tùng phục “Đức Ông Con” (Phu tử tùng Tử), tất nhiên là với “con trai”. Nếu không có con trai, phải tùng phục Cô cô Chú bác và cả con cháu trai nhà chồng. Nữ giới đã hoàn toàn bị khống chế về mọi mặt trong xã hội và cả trong gia đình! Phủ nữ dưới chế độ Nho Giáo chỉ còn khá hơn Hồi Giáo một bậc là còn được tiếp cận với xã hội bên ngoài không phải che mặt, bệnh tật còn được rước thầy chữa thuốc! Đó là cốt lõi của Luật Nước, Luật gia đình của Khổng Giáo, Đạo Tàu. Vì thế được Xã hội Phong kiến đề cao, đánh bóng “Đạo Khổng”“Luân lý Á-Đông”.

Ngườì ta từng bảo: Phá bỏ nền  “Luân Lý Hủ Nho”, có nghĩa là mất gốc, đánh mất bản sắc  Cổ truyền Dân tộc, đánh mất Đạo đức làm người! Nhưng xét ra nó chẳng dính dáng gì đến Phong tục tập quán Người Giao-Chỉ, Tổ Tiên ta để lại! Không khác “Xã Hội OBAMA” trên đất Đất nước Hoa-Kỳ ngày nay, chúng tôi xin có dịp sẽ đề cập đến trong một bài khác: “Hỏa Ngục Trần Gian, Là Thiên Đàng Mỹ Quốc”. Nếu Bạn đọc cần thư giản, xin gởi thư qua Mạng.

Nhóm TLVĐ đã công khai chống lại Lễ giáo Phong kiến từ một nghìn năm nô lệ mang đậm nét Hán Triều. Phong tục Tập quán dưới mọi hình thức Thờ cúng, Lễ Hội, Quan, Hôn, Tang, Tế đều được Chệt hóa toàn diện, đều được gọi là “Đạo Nho”, “Nho-Giáo”, Khổng-Giáo”! TLVĐ đã một thời gây “sốc” ý thức hệ với hàng sĩ phu, chấn động xã hội Phong kiến và các phần tử lạc hậu còn có ý thức bảo thủPhong tục Lễ giáo Nô dịch theo Phiên bản Bắc Triểu.

Mọi tác phẩm của Nhóm TLVĐ đều thể hiện sự quyết tâm đánh gãy bản chất gia đình phong kiến, tệ nạn môn đăng hộ đối, phân biệt giàu nghèo, sàng lọc địa vị giai cấp trong Xã hội. Nhưng TLVĐ không bao giờ có sự biểu hiện của một tư tưởng quá lố, phá hoại dân sinh. TLVĐ khơi dậy tinh thần Điều hòa Giai cấp, chủ trương cải hóa Xã hội Quan liêu Phong kiến. Tuyệt đối loại bỏ các màu sắc Văn hóa, Lễ Hội còn nhóm màu nô lệ của nghìn năm ô nhục hãy còn tồn đọng trong dân gian. Họ muốn đưa ảnh hưởng Văn hóa nặng về Dân sinh Tây phương vào xã hội hiện đại hơn nữa. Quyết tẩy chay Quân Tàu, quét sạch mọi nghi lễ lạc hậu, là tàn dư của Thiên Triều còn để lại đầy ắp trong não trạng các Nhà Cầm quyền Việt-Nam.

Trong sáng tác, Thất-Tinh-Hội lấy việc giải phóng cá nhân làm trung tâm điểm cho thời đại Dân chủ và Dân sinh theo “Tư Tưởng Dân Chủ” của MẠNH-TỬ. Thời Phong kiến, ngoài Công Giáo, không ai dám thấy, và dám đề cao MẠNH-TỬ là Nhà Cách Mạng Dân Chủ Vĩ Đại, người đầu tiên đưa ra Chủ thuyết lấy “Dân Làm Gốc”, đối nghịch KHỔNG-TỬ. Thời đó, MẠNH-TỬ đã dám nêu cao tinh thần “Dân vi quý, Quân vi khinh”(Duy nhất chỉ có Dân, Vua không đáng trọng). Không như Đức KHỔNG, MẠNH-TỬ đã từ chối làm Quân Sư cho hàng Vua Chúa đương thời. Lên án Học thuyết Thờ Vua trong Tư tưởng Quan liêu, Chuyên chế, Độc tài. Thánh nhân chống mọi hình thức bảo thủ “Cá nhân Chủ nghĩa”. Hàng Quân Vương, Triều thần được hun đúc tính kiêu căng, tự tôn, tự đại, coi thường thiên hạ. Trị dân cách độc tài, độc đoán, độc tôn. Trị dân bằng gậy roi, dùi cui, xiềng xích! Khẩu mật tâm xà đầy mâu thuẩn. Hàng Vương Tôn lúc bấy giờ đã để lộ liễu bộ mặt Độc Tôn đến độ “Thay Quyền Tạo Hóa”, dùng cả bàn tay sắt, diệt dân cách công khai, khống chế, cướp đoạt tài sản nhân dân, dồn về cho Quan quyền, tay chân, bộ hạ, xem mạng người như cỏ rác mà không hề cảm thấy áy náy Lương tâm, ngại ngùng Công luận, cũng chẳng e sợ cả Mệnh Trời.

TLVĐ phát động phong trào thơ mới HÀN-MẶC-TỬ, một Danh nhân nối gót đôi nhà Thơ Tiền bối có xu hướng thơ mới. Thi nhân đã sáng tạo một thể thơ Tự Do, một thể loại Thi ca hoàn toàn không niêm luật, đã trở thành Ông tổ khai sinh “THƠ MỚI” hiện đại. HÀN-MẶC-TỬ cũng đã từng bị các Văn nô Hủ Nho đả kích kịch liệt, mạc sát thậm tệ, lên án nặng nề, chỉ trừ Cụ PHAN-BỘI-CHÂU, một Nhà Nho Cách Mạng tiền bối đã ca ngợi hết lời. Cụ là một Nhà Nho duy nhất thích Họa Thơ Họ HÀN, từng xem HÀN-MẶC-TỬ là Bạn Vong niên, ở độ tuổi con mình. Do đó TLVĐ đã chủ trương tiếp tục đẩy mạnh ảnh hưởng văn hóa của các Nhà Truyền Giáo để khai hoá sự phát triển Dân tộc, khuyến khích viêc mở rộng, sử dụng Văn Thơ Việt-Nam theo thể loại Âu-Tây, quyết loại bỏ dần Thơ Đường Luật.

Nhóm TLVĐ đã nghiên cứu Thơ Tự do theo thể loại Thơ Mới của Họ HÀN. Cũng như HÀN-MẶC-TỬ, Nhóm TLVĐ tiếp tục sưu tra, học hỏi thể thơ tây phương của các Giáo sĩ Âu-Châu, loại bỏ lần Thơ Đường Luật, phát động mạnh mẽ laoi bỏ tinh thần học từ chương, phong kiến, theo văn hóa Tàu. Rõ ràng Nhóm Thất-Tinh-Hội đã thể hiện rõ nét tư cách một Trường phái Văn học Dân tộc hoàn chỉnh. Không hy sinh mục đích Văn chương cao quý để làm kế sinh nhai bằng mọi giá. Không vì chén cơm manh áo mà bán rẻ danh dự và lương tâm như bọn Văn nô cầu thực xưa nay vốn có.

Mọi hình thức bán chữ kiếm cơm đã nhan nhản khắp hang cùng, ngõ hẻm, mọi xó chợ, góc đường, trên Báo chí, lẫn Trang Mạng. Bộ mặt “Văn nô 3Đ” (Đội trên, Đạp dưới, Đá ngang), dua nịnh, bợ đở, đều không tìm thấy trong hàng Trí giả Chân chính của Nhóm Tư-Lực Văn-Đoàn. Thất-Tinh-Hội đã giữ vững Thiên chức Văn học như một “Mục Đích Tự Thân”.

Từ 1945 đến nay, chưa một “Văn Đoàn” nào làm nổi và có ý thức, có gan dám làm, dám chịu trước Lịch sử và Dân tộc như Nhóm TLVĐ. Nhóm Tự-Lực Văn-Đoàn là một Đoàn thể Văn học hoàn toàn mang tính chất Tư nhân, không ve vãn, không nhân nhượng một bộ máy đương quyền nào. Đã lên tiếng chống lại cảnh cường quyền Chủ tớ của Tàu Tây từng ươn mầm cấy giống qua hàng nghìn năm nô lệ, đã ăn sâu vào não trạng, máu huyết, cốt tủy của bọn Việt nô! Chưa có một Tổ chức Xã hội nào dám đòi bỏ hẳn cơ chế “xin cho” như Tự Lực Văn Đoàn từng đấu tranh, đòi loại bỏ.

TLVĐ là tổ chức văn học chưa có tiền lệ trong văn học Việt-Nam. Những mặt ưu trội có một sức hấp dẫn đặc biệt, nếu nói không dè dặt, thì họ vẫn còn chiếm ngôi Thượng phong vô địch, vẫn còn là “vô tiền khoáng hậu” cho đến ngày nay, vẫn còn giứ địa vị gần như tuyệt đối trên Văn đàn Dân tộc. Họ chưa tạo được một nền tảng cải cách sâu rộng như TLVĐ! Chỉ tiếc rằng TLVĐ không thể tồn tại đươc vĩnh viễn, lâu dài, vì Nhà Sáng lập NHẤT-LINH chỉ có ý lập ra một Nhóm riêng chỉ giới hạn trong 7 Nhân Vật mà thôi, nên được gọi là Nhóm Thất-Tinh-Hội, có nghĩa là sẽ không có người thứ 8 nối tiếp! Như vậy 7 Nhân vật nầy nằm xuống, là chấm hết! Đã để lại Di sản vô thừa kế, đã trở thành “Tiệt-Tự”! Phong trào Sáng tác Văn học Việt-Nam thời đó có tác dụng kích thích tinh thần Dân chủ như là một điều tất yếu, một nhu cầu nội tại, với tư cách một sự tìm kiếm và sự thực hiện của khát vọng tự do. Đó là phương diện chủ chốt đã vạch rõ sự khác biệt bản chất của các hội đoàn văn học từ 1945 về sau mà ta không thể mượn tiêu chí này kia làm những cột mốc so sánh để phá hoại. Vẫn đã có một nhóm khác noi gương, tức Nhân-Văn Giai-Phẩm (NVGP) 1955, cũng một phiên bản của TLVĐ, nhưng chỉ được tồn tại không đến 3 năm! Nhóm nầy chỉ còn là một Tiếng vang, một Dư âm, một Kỷ niệm!

Tự-Lực Văn Đoàn đã củng cố nền Văn học nầy đến cao độ và phát triển rộng khắp và từng thời để nền Văn học Nước nhà được tồn tại vĩnh viễn theo suốt chiều dài Lịch sử. Nhóm nầy hầu như đã góp tay tẩy bỏ hầu hết các loại văn hóa ngoại lai, lạc hậu còn tồn đọng qua hàng nghìn năm ô nhục cách rất hiệu quả, mặc dù từng lúc người ta cũng muốn phục hồi, gián tiếp thần thánh hóa những tàn dư địa phương còn rơi rụng, như là cơ hội buôn thần bán thánh với lớp Dân quê thiếu học. Điều đó Lịch sử đã chứng minh đầy đủ, không một ai có thể bao biện và chối bỏ. (Phỏng theo Nguyễn-Huệ-Chi, http://vietsciences.free.fr/).

Một nhóm Văn hóa TLVĐ thượng thừa như thế, vẫn không được ngành Văn hóa, Giáo dục quan tâm, trái lại tập thể Lãnh đạo có Quyền lực Trí thức Quốc gia, đã chủ trương phá nát nền Văn Học Nước Nhà, phát động quy mô bằng Quy định! Nếu không là một hành động Giẵm bẹp Linh Hồn Tổ Quốc, thì ta có thể định nghĩa là gì?

Lịch Sử chữ viết của loài người đã phát triển qua nhiều giai đoạn. Đầu tiên là chữ Tượng hình đã trở thành lạc hậu, tiến đến Chữ “Tượng Âm” gồm các mầu tự Tây-Âu đang sử dụng, trong đó có chữ viết của người Giao-Chỉ Cỗ. Nhưng Chữ Tân-Quốc-Ngữ, lại là mẫu “Chữ Tượng Thanh” mới nhất giữa loài người, mà Cộng Đoàn Dòng Tên đã mày mò sưu tầm nghiên cứu từ 1615, tuy còn rất thô sơ trong giai đoạn đầu. Mãi đến năm 1651, G/sĩ ĐẮC-LỘ đã sưu tầm tỉ mỉ, hoàn chỉnh được 3 Tác phẩm “Ngữ Pháp Việt-Nam”, “Từ điển Việt – Bồ – La” và “Phép Giảng 8 Ngày” với một loại Chữ Tượng Thanh hoàn chỉnh, đã xuất hiện trên Văn đàn Thế giới vào thập kỷ 50, Thế kỷ XVII.

Người ta còn lưu lại được nhiều thư từ, tài liệu bằng Chữ Tân-Quốc-Ngữ thô sơ của các G/sĩ Truyền giáo đã viết từ thượng bán Thế kỷ XVII. Để đọc được các văn bản thô sơ nầy không phải việc dễ dàng, âm dấu không đủ, cách sử dụng Mẫu tự chưa đồng bộ. Thầy BEN-TÔ THIỆN, một nhà trí thức Việt-Nam, nổi tiếng là thông thạo La-Tinh, Pháp và cách riêng là vào bậc nhất về Chữ Tân-Quốc-Ngữ lúc bấy giờ. Nếu xét về phương diện thông thạo chữ Quốc ngữ, thì không một vị Thừa Sai nào đã viết trôi chảy và xuôi gọn hơn Thầy, có thể kể cả G/sĩ ĐẮC-LỘ vào năm 1651 về trước. Vì Thầy là người Việt viết chữ Việt. Thậm chí các Thư Thầy viết gởi đến các Nhà Truyền giáo ngoại quốc hầu hết là tiếng Việt. Người ta cũng còn tìm thấy được một tập Thủ bản của Thầy, là tác phẩm Lịch Sử Việt-Nam đầu tiên xuất hiện trên thế giới, còn lưu giữ trong một Văn khố Âu-Châu, đã viết bằng Chữ Tân-Quốc-Ngữ vào khoản 1651. Thầy đã được xem như một Sử gia Tân học “đầu tiên” của Đất nước ta. Nhưng người ta nhận thấy cách viết của Thầy cũng chưa đạt được 60%. Như thế, đã đủ chứng tỏ rằng, cho đến thời điểm đó, trước khi bộ Từ điển Việt-Bồ-La ra đời, Chữ Việt vốn còn hỗn độn, chưa được sắp xếp đồng bộ, chưa có quy cũ chút nào.

Lịch sử Truyền Giáo và Dân tộc đã không phủ nhận G/sĩ FRANCISCO DE PINA là người đầu tiên thông thạo tiếng Việt hơn mọi nhà Truyền giáo lúc bấy giờ. G/sĩ là một Thầy dạy Việt-Ngữ, đào tạo hầu hết các G/sĩ Truyền Giáo vừa đặt chân đến đất Việt vảo Thế kỷ XVII. G/sí ĐẮC-LỘ cũng là một trong những học trò được G/sĩ PINA dạy tiếng Việt.

Nhưng thực tế khó ai đánh giá trình độ căn bản tiếng Việt của G/sĩ PINA đã đạt đến trình độ nào. G/sĩ PINA biết tiếng Việt trước tiên, dù bất cứ trình độ nào, vào lúc đó tất nhiên cũng là bậc Thầy các nhà Truyền Giáo, vì không vị nào biết nói bập bẹ tiếng Việt hơn ngài. G/sĩ PINA phải dạy tiếng Việt cho các Nhà Truyền Giáo đến sau là điều bắt buộc. Nên không thể vì đó, mà hiện nay ta hãy còn nghĩ rằng G/sĩ PINA vẫn là một Nhà Truyền Giáo giỏi tiếng Việt nhất trong hàng Giáo sĩ nối tiếp Ngài.

Ai dám xác định không có học trò sẽ giỏi hơn Thầy trong tương lai? Một Thầy dạy cấp một không thể có Học trò cũ từng là Giảng Sư Đại học? Trò hơn Thầy vẫn là chuyện thường tình nhân thế. Xét ra, ta có thể nghĩ rằng G/sĩ ĐẮC-LỘ sau nầy với chục năm “thất nghiệp” tại Áo-Môn, trong 6 lần lui tới Hội-An – Áo-Môn, đã là thời gian vô công rỗi việc. Chính là cơ hội thuận tiện hơn các G/sĩ khác để miệt mài trong công trình nghiên cứu sưu tầm, học hỏi, gọt dũa chữ Việt. Thì sự soạn thảo Từ Điển Việt-Bồ-La được hoàn chỉnh hơn bất cứ ai là lẽ đương nhiên, không cần tranh cãi.

Ta còn chưa kể cuộc hành trình cuối cùng của G/sĩ ĐẮC-LỘ từ Áo-Môn về La-Mã. G/sĩ đã phải linh đinh trên mặt biển suốt 4 năm trời! Đó cũng chính là thời gian G/sĩ bới qua xóc lại Tác phẩm Vĩ đại mình đã dày công soạn thảo hàng chục năm trước, thì sự hoàn chỉnh hệ thống Chữ Tân-Quốc-Ngữ Tượng Thanh đến dộ hoàn chỉnh như một viên ngọc toàn bích ngày nay, thì không thể suy diễn được là ăn cắp công sức của ai. Với trình độ một Học Giả Ngôn ngữ học, cộng với non 20 năm đồn hết mọi công sức, nổ lực. Xét như thế, nếu không chủ quan, chúng tôi nghĩ sẽ không còn gì đáng để suy luận dài dòng. Những cơ hội thất nghiệp đó đã không đến với các G/sĩ AMARAL, BARBOSA và PINA như một điều may mắn để nghiên cứu thâm sâu hơn G/sĩ ĐẮC-LỘ được. Đã thế thì khó so sánh ai hơn ai kém trong những hoàn cảnh và phương tiện khác nhau,

Các nhà truyền giáo dòng Tên đã phát triển hệ thống chữ Việt dùng chữ cái La-Tinh để chuyển tự Chữ Nôm thay thế dần trong phiên dịch Thánh tích và giáo lý cho Giáo Dân VN. Lm. GIROLAMO MAJORICA, người Ý, Tác giả 48 công trình Chữ Nôm khác nhau, tổng cộng 4200 trang khi chữ Tân-Quốc-Ngữ chưa được phổ biến toàn diện, là một điển hình. Để biểu hiện các thanh điệu, các G/sĩ Dòng Tên đã sử dụng các ký hiệu trong tiếng Hy-Lạp ảnh hưởng của tiếng Bồ-Đào-Nha như “gi”, “ch”, “x”, “nh”, “â”, “ê”, “ô” có nguồn gốc Bồ.

G/sĩ ĐẮC-LỘ còn một lợi thế về ngôn ngữ, hơn bất cứ Nhà Truyền Giáo nào xưa nay. Với 13 thứ tiếng: ngoài tiếng Mẹ đẻ gốc Do Thái, G/sĩ còn đọc thông viết thạo tiếng Pháp, La-Tinh, Hy-Lạp, Ý, Bồ, Tây-Ban-Nha, Canarin (Goa, Ấn-Độ). Trung-Quốc, Nhật-Bản, tiếng Việt và cuối đời là tiếng Ba-Tư. Không kể Địa ngữ Provençal một thị trấn thuộc tỉnh Var nước Pháp. Hầu hết tất cả đều là ngôn ngữ chính như nhau, chỉ trừ tiếng Canarin, chỉ đủ giao dịch thông thường, dọc và viết được, vì thời gian học không được bao lâu. Đó là điều kiện thuận lợi cần thiết nhất để nhận biết, phân biệt, ghi lại và lần ra các ký hiệu thích hợp, những âm thanh khác nhau, đôi khi rất gần gũi tiếng Việt. Vì thế dễ tìm được những cái tế nhị, chi li và tỉ mỉ trong Âm hưỡng tiếng Việt hơn bất cứ ai, ngoài TRƯƠNG-VĨNH-KÝ, một Nhà Thông thái tầm cỡ hơn Giáo Sĩ, lại thuộc Dân tộc “Mũi Tẹt Da Vàng” chính hiệu.

Bằng chứng, G/sĩ ĐẮC-LỘ còn để lại bao nhiêu tác phẩm Văn hóa nước ngoài. Như thế Ông phải vượt xa G/sĩ PINA và mọi G/sĩ đồng thời và kể cà đến ngày nay về phương diện Ngôn ngữ học cũng là điều tất nhiên. Nếu ai cho rằng G/sĩ ĐẮC-LỘ ăn cắp, sao chép Từ Điển Viêt-Bồ và Bồ-Việt của 2 G/sĩ AMARAL và BARBOSA, là kém cõi về tri thức, là hàm hồ, xuyên tạc vô căn cứ. Đến cuối đời, G/sĩ ĐẮC-LỘ còn để lại những tác phẩm bằng tiếng Ba-Tư, là Ngoại ngữ thứ 13 vào cuối đời Ngài.

Để soạn cuốn từ điển Việt-Bồ-La, G/sĩ ĐẮC-LỘ đã dựa vào những công trình ký âm La-Tinh ở tiếng Nhật (Romanji) đầu tiên của Ông YAJIRO, một người Nhật Bản theo Đạo vào Thượng bán Thế kỷ XVI, do các G/sĩ Dòng Tên Bồ-Đào-Nha đã sáng lập cho người Nhật trước khi sang Việt-Nam, còn được phối hợp với sự phiêm âm từ Chữ Hán, Giáo sĩ dựa vào Luật Phiên thiết của Từ điển Trung-Hoa mà định được dấu “Hỏi” và “Ngã” trong âm sắc tiếng Việt. Những âm khởi đầu “Thanh” thuộc dẩu “Hỏi” và khởi đầu “Trọc” đều là “Ngã”. Phiên thiết Hoa ngữ định rõ thế nào là các thanh Bình, Thượng, Khứ, Nhập hoặc các cung Phù, Trầm, Hồi, Hạ. Nếu quý Quan chức Bộ GD&ĐT chịu ghé mắt nghiên cứu kỹ, sẽ biết rõ hơn, và nên tìm hiểu thêm để đừng nghĩ rằng G/sĩ ĐẮC-LỘ chỉ thích vẽ vời theo ngẫu hứng, nhưng không hề có trong hệ thống Ngôn Ngữ Học, để biết tôn trọng cái tinh hoa của Ngữ vận tiếng Việt ta.  Đặc biệt G/sĩ còn dựa vào cách phát âm của Chữ Nôm để tạo ra vần Việt, tuy Chữ Nôm của Cụ HÀN-THUYÊN cũng chưa đủ tính chuẩn xác đã thuộc hệ thống Ngôn Ngữ Học.

G/sĩ ĐẮC-LỘ đã triền miên nghiên cứu “Chữ Tượng Thanh” nầy đến độ hoàn chỉnh với 6 Âm tiết tạo thanh rõ ràng bằng các dấu: Sắc, Huyền, Nặng, Hỏi, Ngã và Thượng bình thanh (không dấu), tương ứng những nốt nhạc biệt lập không khung kẽ. Không kể các dấu biểu hiện thanh sắc trong chữ Việt, chỉ 2 chữ Ă, Â, tự nó đã là một mẫu “Chữ Tượng Thanh”. Đó là nét độc đáo mà các Nhà Văn hóa Thế giới đều tôn phục trước sự sáng tạo mới mẽ nầy.

Xét chung về đại thể ta đã thấy sự hoàn hảo của một công trình tạo dựng một Hệ thống Mẫu Tự mới như vậy đã là quá tuyệt vời. Nhưng nếu ta đưa ra phân tích từng cái riêng một cách cách tỉ mỉ hơn, thì các Nhà nghiên cứu cũng đã gặp nhiều điều bất hợp lý về cấu trúc một số ngữ vựng trong Từ Điển Việt-Bồ-La, và cách riêng là Bản Văn Mẫu “Phép Giảng 8 Ngày”.

Xét chung các nhà Văn Hóa, Ngôn ngữ Học đều đã cảm nhận được như vậy, nhưng thức tế, bất cứ một công trình nghiên cứu nào, dù có hoàn hảo đến đâu, cũng không tránh khỏi nhiều sơ sót cần phải được tu chinh hiệu đính một, thậm chí đến nhiều lần. Tất cả mọi Phat minh Khoa học Âu Á, Đông Tây, xưa nay đều thế cả.Với một Công trình đồ sộ như Bộ Từ Điển Việt-Bồ-La và quyển mẫu Văn bản tiếng Việt đầu tiên “Phép Giảng 8 Ngày”, với mỗi cá nhân một Tác giả của nó cũng không tài nào tránh hết mọi sơ sót, nhất là trong giai đoạn đầu, chưa đủ bề dày căn cội qua nhiều tác phẩm của nhiều người để nghiên cứu và thêm ưu, bỏ khuyết.

Vì thế, các nhà Nghiên cứu Ngôn ngữ học cũng đã tìm thấy một vài cấu trúc ghép vần rất lạ lẫm, trong một công tình nghiên cứu vĩ đại của một hệ thống chữ viết cho một ngôn ngữ còn quá xa lạ và quá mới mẻ trong giai đoạn đầu. có thể rằng chưa có khả năng khắc phục đủ vào thời điểm sơ khai. Cũng có thể Giáo sĩ sử dụng qua quá nhiều âm ngữ địa phương thành phức tạp lẫn lộn nhiều thanh giọng khác nhau rất khó nghe và khó hiểu, như ta ngày nay còn tồn tồn tại âm vận ở nhiều địa phương ta từng gặp hàng ngày. Hoặc giả ngữ âm từ thượng bán Thế kỷ XVII trở về trước, đã trở thành xa lạ đối với ta, cũng không cách nào để giải mã, còn xác định được bằng bất cứ tài liệu, văn bản nào có để lại bằng chữ Việt tượng âm, chưa nói tượng thanh, ngoài chữ Nôm. Nhưng chữ Nôm lại thuộc dạng tượng hình, không thể so sánh được. Chưa nói, Chữ Nôm cũng đã chia ra nhiều dạng chữ, Chữ Nôm Đời (nguyên gốc từ Cụ HÀN-THUYÊN) và Chữ Nôm Đạo (hệ thống biến chế danh từ hầu hết nằm trong “Kho tàng” của Lm. GIROLAMO MAJORICA, mà trước đó không có), nên đã có nhiều điểm khác nhau.

Chữ Nôm, tuy vay mượn Hán Tự tượng hình, nhưng có thể xem đó là một loại Chữ thuần Việt, vì có một Quy ước phải tuyệt đối đọc theo âm giọng Việt như ta đọc Chữ Tân Quốc Ngữ ngày nay. Không lai tạp giọng ngoại bang có âm Hán-Việt. Chữ Nôm được cấu thành theo bằng 3 cách: Giả trá, Hài thanh, và Hội ý. a) Giả trá, mượn chữ Hán nhưng không đọc theo tiếng Hán nếu khác với âm Việt. Ví dụ chữ “Tuế” có nghĩa là tuổi, ta đọc cắt ngang là Tuổi, chứ không đọc “tuế” để hiểu là tuổi hay dịch lại là tuổi. Những chữ có âm như tiếng Việt, “Thánh” ta viết Thánh chữ Hán và đọc Thánh như chữ Hán. nhưng theo nghĩa Việt, Chữ “Điếm” có nghĩa là cữa hiệu, nhưng ta đọc trại ra thành Đêm, và hiểu là buổi tối, chứ không hiểu theo là Thương Điếm … b) Hài thanh…. c) Hội ý còn phức tạp hơn, vì chữ Nôm cũng như Hán tự, không có Nguyên âm, Phụ âm như Chữ La-Tinh, nên phải mượn nhiều chữ Hán ghép lại với nhau để có nghĩa Việt và đọc theo tiếng Việt, ví dụ chữ “Thiên” (trời), viết chồng lên chữ “Thượng” (trên) thành chữ “Thiên Thượng” thì đọc là Trời. Chữ “Nhân” (người), viết chồng lên chữ “Thượng” (trên) thành “Nhân Thượng”, tức Người Trên lại đọc là Trùm, người đứng đầu (Ông Trùm Họ bên Công Giáo, nay còn vài nơi dùng).

Phần nhiều mượn chữ để chỉ cả âm lẫn nghĩa như mượn chữ “La” (đã qúa nhiều nét) viết chung với chữ “Xuất” (cũng đã 7-8 nét) thành chữ “La Xuất”, thì đọc là Ra, có nghĩa là ra vào. Một chữ “La Xuất” quá phức tạp, để tạo thành một chữ “Ra” quá đơn giản! Chỉ đơn cử vài chữ để Bạn đọc có một ý niệm chung như thế. Thực ra, chúng tôi không dám múa rìu qua matwst thợ, để phân tách dài dòng hơn, vì cả Hán lẫn Nôm, chúng tôi cũng chỉ là dân Ngoại đạo, chỉ biết tập tò vài chữ để đọc vui. Ưu điểm chữ Nôm là không bị ai viết sai lệch giữa “Trê” thành “Chê” và ngược lại, vì chỉ có một chữ “Trê” có nghĩa là cá trê, và chữ Chê khác, có nghĩa là chê bai, còn người dọc muốn đọc Chê hay Trê, tùy ý, vì nó không viết lẫn lộn được như Trê hay Chê trong chữ Việt hôm nay.

Xét thuần về Vần Việt, G/sĩ ĐẮC-LỘ đã soạn 3 loại Nguyên âm:

a) Nguyên âm đơn: a ă â e ê i o ô ơ u ơ y.

b) Nguyên âm kép đôi: ai (cái), ay (vay), ây (xây), ao (hao), au (cau), âu (trâu) …/ eo (heo), êu (lêu) / ia (đĩa), iê (giê), io (gió), iơ (giờ), iu (giun), iư (giữ) / oa (hoa), oe (hoe), oi (nói), ôi (hôi), ơi (hơi) / ua (đua), uâ (huân), ui (hủi), uy (huy), uô (buôn), uơ (huơ), ưa (hứa), ưi (gửi), ươ (huờn) ưu (cứu).

c) Nguyên âm ba: iai (giai), iay (giày), iây (giấy) / iao (giao), iau (giàu) / ieo (gieo), iêu (hiệu) / ioi (giỏi), iôi (giối, trối), iơi (giời, trời) / iơũ (?) / iua (giũa), iưa (giữa), iơư (?), iuô (giộc) / oai (oái), uay (quay), uây (khuấy) / uie (?), uôi (xuôi) / ươi (đười ươi), ưởu (?).

Chỉ trong Từ điển Việt-Bồ-La và Phép Giảng 8 Ngày, mới thấy xuất hiện Nguyên âm “Kép ba”, chưa mấy ai tìm gặp ở các Nhà Truyền Giáo trước đó. Có nghĩa rằng Nguyên âm Kép ba chỉ có G/sĩ ĐẮC-LỘ biên soạn sau nầy mà thôi, như thế trong các Từ Điển của BARBOSA và AMARAL cũng như PINA chắc chắn không có Nguyên âm kép 3. Tuy nhiên những Nguyên âm Kép ba iơũ (?), iơư (?), uie (?), ưởu (?) thì tuyệt nhiên ta không thể tìm thấy cách ghép vần thế nào cho đúng hiện nay. Trong Thế kỷ XVII về trước có âm vận nào phát ra tương tự như vậy không, chưa ai dám xác định.

Về phụ âm: G/sĩ ĐẮC-LỘ dùng những phụ âm đơn như: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, q, r, s, t, x và những phụ âm kép có: bl, ch, gh, kh, ml, ng, ngh, nh, ph, th, tl, thì các Phụ âm kép bl, ml, tl, cũng không tìm thấy cách ghép vận sau nầy. Không rõ Cư dân Hà-Nội từ trước Thế Kỷ XVII đã phát âm “Trời” hay “Blời”, và có chữ nào phát lờ lợ như ml, tl không?

Trong Phép Giảng 8 Ngày, lại có hăọc thay vì học, nhăọc thay vì nhọc, mạt thay vì mặt (có thể hiểu được là in sót dấu chữ ă trong chính tả, như chữ ANNNAMITICUM trên hình bìa Từ Điển đã thừa một chữ N, do chuyên viên sắp chữ). Nhưng còn có đõạn thay vì đoạn, địa ngõục thay vì ngục…… và cả trăm chữ như thế, thì ta phải hiểu làm sao?

Hơn nữa trong Mẫu tự không tìm thấy Phụ âm V, nên vua thì viết là bvua, vào thì viết là bvèao, vui vẻ thì viết là bvui-bvẻ. Quả là khó hiểu, không rõ ngày xưa người ta phát âm thế nào về chữ V, như có lờ lợ âm B? Có giống ngày nay người ta vẫn nói là đi “dề”, đi “dìa” thay vì đi về, “Thịch dịch” thay vì thịt vịt, cá “Gô” thay vì cá rô, cái “Reng” thay vì cái răng không? Khoảng độ Thế kỷ sau, người ta sẽ còn hiểu “dề”, “dìa” là về, “Thịch dịch” là thịt vịt, cá “Gô” là cá rô, cái “reng” là cái răng không nữa, hay họ không còn nhiểu nó là chữ gì, và ở đâu? Nếu không có sách vỡ nào còn để lại, thì ta sẽ sưu tầm từ đâu? Xét ra Đức Chúa Blời và Đức Chúa Trời có thể tạm hiểu là âm giọng thời đó dễ hơn, nhưng âm V thì không có trong mẫu tự tiếng Việt vẫn là điều lạ!

Còn hàng loạt từ ngữ khác cuên (quên), coen (quen), blá (trá), blúc blắc (lúc lắc), mlạt (lạt), mlỡ (lỡ), sóũ (sống), đòũ (đồng), khoũ (không)……. thì ta cần hiểu sao cho có lý? Phải chăng:

1) Dù sao cũng còn trong giai đoạn sơ khai, G/sĩ ĐẮC-LỘ đã viết sai vì nắm chưa vững hết âm vận một ngôn ngữ nước ngoài còn quá xa lạ với người Âu, và với cả Ngài chăng?

2) Có thể do sự phát âm ở một địa phương nào đó, như Tác giả đã từng ghi chú: “Tla có người đọc là tra”. Có nghĩa lúc đó người ta chỉ phát âm “Tla” mà thôi, còn “tra” như ngày nay thì chưa xuất hiện ở Hà-Nội, người ta có thể phát âm L thay R chăng? Cũng có thể người Hà-Nội các Thế kỷ XVI, XVII, XVIII hay tiếp xúc với người Hoa và chịu ảnh hưỡng âm giọng người Hoa khá nặng, nên phát âm nghiêng theo giọng Hoa kiều chăng? Người Hoa không phát được âm vận R, như Rô-Ma, họ phiên ra La-Mã, chứ không đọc được Rô-Ma. Paris phiên là Ba-Lê thay vì Ba-Ri. Có lẽ thế trong hầu hết các chữ TR cũng đều viết TL như vậy, G/sĩ ĐẮC-LỘ viết Tla thay vì Tra, viết Blời thay vì Trời, Tlăng thay vì Trăng cũng không lạ. Kể cả ngày nay, nếu có người nước ngoài sanh sống tại vùng Lục tỉnh Miền Nam, họ cũng không biết chữ R và V là gì. Con Vịt họ cũng sẽ viết là con Dịch và cá Gô (rô) cái Gỗ (rỗ), Nếu thế, thì G/sĩ ĐẮC-LỘ đã viết không sai.

Không những chữ Việt, ngay cả phần La-Tinh trong quyển Phép Giảng 8 Ngày (song ngữ) và Quyển Ngữ Pháp Việt-Nam viết bằng tiếng La-Tinh G/sĩ ĐẮC-LỘ đã viết cùng lúc vào giữa Thế kỷ XVII, ta đọc vẫn thấy xa lạ đến trời vực. Nhiều Mẫu tự La-tinh không còn giống như ngày nay, Chữ V thay thế chữ U, chữ I thay J… cấu trúc chia Danh và Tính từ cũng khác hẳn. Danh và Tính từ La-Tinh ngày nay chỉ chia với 6 Thể cách (Cas), ngày trước chia đến 8 Thể cách. Như thế, có thể trong mẫu tự tiếng Việt đã có chữ “V”, nhưng thợ sắp chữ lúc bấy giờ đã ngộ nhận là chữ U, nghĩ là trùng lặp, nên họ bỏ vần V chăng? Ngay trên trang bìa Từ Điển Việt-Bồ-La họ vẫn sắp chữ V thay cho mọi chữ U trong DICTIONARIVM, ANNNAMITICVM, LVSITANVM, LATINVM, EDITVM. Ngoài lỗi dư một chữ N trong ANNAM, còn lại tất cả các chữ U được in là V cả.

Bản thân chúng tôi cũng chỉ tập tò học được vài tiếng Pháp do chính các Thừa sai Pháp dạy, và biết được đôi tiếng Anh trong tuổi học trò. Xét ra cũng mới hơn 60 năm, nhưng nghe như văn chương Pháp ngày nay đã khác trước khá nhiều. Tiếng Anh cũng không giống tiếng Mỹ về ngữ nghĩa một số Danh từ và Thành ngữ, tuy 2 quốc gia cùng sử dụng một loại Ngữ pháp như nhau “English Grammar”, và một thứ Từ Điển “English Dictionary” rất Anh. Người ta không tìm thấy một quyển “American Grammar” hay “American Dictionary” nào khác. Như thế ta có thể hiểu na ná âm ngữ Hà-Nội vào Thế-kỷ XVII, có lẽ không giống âm ngữ Hà-Nội ngày nay, càng không giống Âm giọng các địa phương khác có cùng một Ngữ pháp và một Từ Điển như nhau và cũng đã cách đây non 4 Thế kỷ rồi.

Vì thế, tuy đã có Bộ Ngữ Pháp Việt-Nam và Từ điển Việt-Bồ-La ra đời cùng với Phép Giảng 8 Ngày là một Văn bản tiếng Việt được hoàn thành đầu tiên để làm khuôn mẫu. Nên từ khoảng thập niên 60 của Thế kỷ XVII về sau, các văn bản, thư từ, tài liệu Giáo lý mới có đủ các dấu giọng “Chữ Tượng Thanh” có hệ thống và đồng bộ hơn.

Trong Bref Aperçu Sur L’histoire De L’étude Des Parties Du Discours Vietnamien của mình, Ts. ALAIN GUILLEMIN, Viện Nghiên cứu Xã hội học Địa-Trung-Hải, Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp, cũng đã có một nhận xét: “Các cuốn “Dictionarium Anamiticum Lusitanum et Latinum” và “Catechismus Pro iis qui volunt suscipere Batismum”, xuất bản ở Roma năm 1651, trên thực tế, là hai tác phẩm nền tảng và không thể thay thế, đặt cơ sở cho việc ký âm tiếng Việt bằng chữ cái Latinh và ngoài ra còn cho chúng ta biết được hình trạng tiếng Việt thế kỷ XVII cùng sự tiến hóa của nó……… bám rất sát “thực tiễn ngôn ngữ của người An Nam trong các tầng lớp xã hội khác nhau….. Nhưng ông đã ép cú pháp tiếng Việt vào cái khuôn khổ cứng nhắc của cú pháp Latinh: “Ta có thể tìm thấy những khái niệm ngữ pháp được sử dụng để mô tả tiếng Latin như cách, thì, thể, số, giống, và các giới từ. Trên thực tế đó là ngữ pháp tiếng Latin mở rộng, với khuôn khổ đã đông cứng từ nhiều thế kỷ, được áp đặt để mô tả một ngôn ngữ mới”. Với quan điểm thứ hai, Tiến sĩ đã cho rằng G/sĩ ĐẮC-LỘ đã ép cú pháp tiếng Việt vào cái khuôn khổ cứng ngắc của cú pháp La-Tinh thì các Nhà Ngôn ngữ học Việt-Nam đã không chấp nhận, vì cho rằng Tác giả đã không công bằng khi phê phán như thế. Là người Pháp, nên Tác giả không cảm nhận được những những cái tinh tế đối với các đặc điểm của cú pháp tiếng Việt.

3) Có thể do lỗi của thợ sắp chữ? Ngay cả trên mặt Hình Bìa Quyển Từ Điển đã in rất rõ nét “ANNNAMITCUM” to tướng, thay vì ANNAMITCUM (xem hình, thừa một chữ N).

Điều chắc chắn là G/sĩ ĐẮC-LỘ không thể viết sai ngay cả trên hình Bìa Quyển Từ Điển Đồ sộ mà G/sĩ đã dồn hết mọi nổ lực và công sức vào đó như thế dược.

Nhưng lợi dụng vào điểm sai sót dễ hiểu nầy, GsTs. PHẠM-VĂN-HƯỜNG đã nắm lấy, biến thành một đề tài khai thác. Ông ta kịch liệt đả kích với một câu văn rất xuyên tạc và mĩa mai trong Bài báo (đd): “Hành vi “đạo” (Gs. đóng ngoăc kép chữ “đạo”)công trình rất rõ, vì không am hiểu người Việt nên Alexandre viết sai chữ độc nhất trên bìa: Annam viết là Annnam (Gs. nhấn mạnh). Có người nói rằng đó là chữ quốc ngữ độc nhất sáng tạo bởi Alexandro Rhodes cũng không xa sự thật lắm”. (!)

May thay, Họ PHẠM chỉ thấy được mỗi mặt Bìa quyển Từ-Điển Việt-Bồ-La (5.2.1651) trên một Trang Mạng, và “nghe lóm” đâu đó Phép Giảng “8 Ngày” (2.10.1651), nhưng không hiểu mô tê gì trong đó, đã vội vơ lấy như một chứng lý vững chắc rằng ĐẮC-LỘ dốt đến độ phông phân biệt được “Mỗi Tuần chỉ có 7 ngày”, và chỗ in lầm thừa một chữ N, để đưa ra khai thác và kích bác! Phải chi Tác giả Bài báo có may mắn hơn, đọc được nội dung Quyển Từ Điển và Phép Giảng 8 Ngày, cũng biết đọc được đôi chữ La-Tinh, có lẽ Ông ta còn cho G/sĩ ĐẮC-LỘ là dốt, không biết tiếng La-Tinh, nên viết V thay U không ai đọc nổi. Ông ta còn phát hiện hàng trăm vần ghép không giống chữ viết có trình độ Giáo sư như Ông ta ngày nay. Chắc chắn không ai có thể “bụm miệng” ông ta nổi!

Tạm khép lại Tg. Họ PHẠM. Để đặt lại vấn đề như một giả thuyết, thì ta có thể cảm nhận được sự thật nào đó, nếu không quá định kiến, không do vẽ vời,cũng không vì tưởng tượng.

Ta có thể nghĩ Thợ sắp chữ tại các Nhà In La-Mã thời bấy giờ, nói chung cả Tây Âu và toàn thế giới, cũng không hề có một ai “đọc được”và tưởng tượng nỗi một loại chữ phức tạp chưa bao giờ nhìn thấy trên đời. Nó còn xa lạ hơn cả ta xem loại cổ ngữ Ai-Cập được khắc trên đá ở Kim-Tự-Tháp còn sót lại ngày nay! Mặc dù Thợ sắp chữ đã được Tác giả kiên trì hướng dẫn đến độ tưởng chừng như đã “làu thông” (know thoroughly), cũng phải ngồi căng mắt, nhận diện để phân biệt được một số dấu, số chữ xa lạ tương đối giống nhau, nhất là bản chữ viết tay, càng khó phân định rõ hơn Mẫu Chữ In gấp bội, dù Tác giả có đủ kiên trì viết nắn nót cẩn thận đến mức nào đi nữa, thì với một loại chữ kỳ lạ của 2 tác phẩm họ không biết đọc, không biết nghe, âm giọng không biết phát! Liệu các Thợ-Sắp-Chữ người Âu có đủ khả năng tránh được những lầm lẫn với một loại chữ họ không hề biết để tưởng tượng là đúng hay sai? Không ai nghi ngờ trình độ uyên bác của G/sĩ ĐẮC-LỘ, tuy nhiên chữ viết của Ngài như thế nào, tốt hay xấu, dễ hay khó đọc, cho dầu không đến nỗi như hầu hết đơn thuốc một số Bs. viết tay chỉ có có giới y khoa và các chuyên viên đứng quày Âu dược mới đọc ra! Nếu chữ có dễ đọc, cũng không thể viết nắn nót trọn một bộ sách hàng nghìn trang giấy kiểu như Chữ in để dễ đọc.

Sắp bản in với tất cả sự vận dụng trí tưởng tượng của người “dốt chữ” trước những Bản Thảo cũng non trăm quyển vở bằng Chữ viết tay như thế, đã là một kỳ công! Phần Tác giả, sau khi giao việc đã “biến mất tăm”, không còn một ai khác biết hơn để tìm hỏi rõ một chữ quá xa lạ, không thuộc dạng Chữ in. Không khác ai đó, một chữ Đức “bẻ đôi” không biết, lại phải ngồi đánh vi tính chép một bản thào tiếng tiếng Đức viết tay! Ta thử tưởng tượng trong đó sẽ để lại bao nhiêu lỗi, dù là một văn bản không dài, dẫu đã được hưỡng dẫn tận tâm nhất.

Như thế, Thợ sắp chữ lúc bấy giờ đã để lại trong 2 Tác phẩm khá đồ sộ của G/sĩ ĐẮC-LỘ chỉ chừng ấy lỗi, đã là điều quá sức con người, khó tưởng tượng nổi.

Vậy, những sai lỗi do thợ sắp chữ, G/sĩ ĐẮC-LỘ có phát hiện ra không, sao không chỉnh sửa? Đó là một vấn nạn ta cũng cần đặt ra. Ta có thể suy luận:

a) Cứ tưởng tượng, khi vừa đặt chân trở lại La-Mã, G/sĩ ĐẮC-LỘ đã tất bật lo vận động Thánh Bộ Truyền Giáo khẩn cấp duyệt xét đề xuất Phương án đã được soạn hoàn chỉnh cho việc thành lập một Giáo Hội Truyền Giáo mới tại Đông-Nam-Á (Việt-Nam), hầu thỉnh cầu ĐGH y chuẩn, là một việc không mấy dễ dàng. Đồng thời G/sĩ cũng phải nghĩ đến việc xuất bản cho bằng được bộ sách tiếng Việt, cốt lõi cho công việc phát triển Giáo Hội VN.

Nhưng không một Nhà Xuất bản nào chịu đầu tư in ấn một loại sách có thứ chữ mà Thế giới chưa từng biết tới. Nó không phải loại sách có tính thực dụng cho Âu Châu đọc được để nghiên cứu. Tất nhiên khó có “Thượng Đế” quan tâm, không thể có thị trường tiêu thụ, làm sao hoàn vốn, chư chưa nghĩ đến kinh tế thị trường. Hỏi ai dám liều thân để gồng mình chịu chơi như vậy? Điều đó đã quá rõ ràng. Muốn ấn loát được, chỉ có cách G/sĩ ĐẮC-LỘ phải tự hy sinh, dám bỏ tiền túi “in chơi”, chưa hẵn sẽ được một “Bảo Tàng Viện” nào thèm lưu trữ, chịu dành cho một không gian vài tấc để đặt Bộ sách nầy làm kiển, để Tác giả của nó vui lòng!

Nhưng một sự không ngờ, sau khi thuyết trình sự hữu dụng về Tác phẩm nầy, G/sĩ ĐẮC-LỘ đã được ĐGH INNOCENS X nhanh chóng đón nhận một cách âu yêm và nhiệt tình, Người đã lệnh cho Bộ Truyền Giáo xuất ngân sách Tòa Thánh thực hiện. Cái mà Thánh Bộ Truyền Giáo cũng phải ngạc nhiên, vi trước đây ĐGH cũng đã hơn một lần không chấp nhận cho xuất bản 2 quyển Từ điển Việt-Bồ và Bồ-Việt của 2 cố G/sĩ BARBOSA và AMARAL. Một sự vui mừng khôn tả, vì Bộ Từ điển nầy có cả tiếng La-Tinh, thuận tiện cho hàng Giáo Phẩm và Giáo sĩ sưu tra tiếng Việt sau nầy, nó không có tính cục bộ, chỉ dành riêng cho Giáo sĩ người Bồ với giáo dân Việt-Nam.

Còn nữa, nguyên việc tìm đặt cho được một bộ chữ theo âm tiết Việt-Nam có lắm dấu “Sắc, Huyền, Nặng, Hỏi, Ngã. Có dấu mũ (dành cho các ê, ô, â),còn dấu “Mặt Trăng Lưỡi Liềm” nằmngữa(dành cho chữ ă)” và các chữ “Đđ, Ơơ, Ưư” “phi La-Ngữ”, chẳng giống Âu-Châu. Tìm ngay cả trong Anh, Pháp, người ta cũng chỉ có mỗi dấu mũ, sắc, huyền. Người Tây-Phương chưa hề tưởng tượng nổi một loại hình để tạo mẩu đúc riêng. Có lẽ còn khó mường tượng hơn đặt đúc bộ Chữ Cao-Mên, Lào, Chiêm-Thành tại Âu-Châu lúc đó!

Vì thế G/sĩ ĐẮC-LỘ phải thuyết phục cho bằng được thợ chuyên nghiệp nhẫn nại nghiên cứu tỉ mỉ để đúc một khuôn chữ hoàn toàn xa lạ ấy do chính Giáo sĩ canh kẽ, vẽ mẫu, hướng dẫn các dấu Hỏi, Ngã, Nặng… và cho phù hợp với tỷ lệ của nó ở mỗi kích cỡ! Ấy thế, loại khuôn đúc và mẫu chữ nầy có thể cũng chỉ dùng được mỗi một lần duy nhất, rồi cho hưu trí dưỡng già với đồ phế phẩm ngay ở tuổi mới chào đời. Ai đủ tin sẽ có một lần được in lại, được tái xuất gian hồ như các loại Tác phẩm thông dụng khác? Một công việc làm không Nhà in nào thích thú, chẳng mấy ai ham. Vì thế kinh phí của Tòa Thánh cho công việc in ấn có một không hai nầy bằng một ngân khoản gấp nhiều lần.

b) Sau khi giao nhận bản thảo với một loạt chỉ dẫn chi li xong, G/sĩ ĐẮC-LỘ còn phải bôn ba nhiều nơi. Sau khi in ấn hoàn tất bộ sách được Bộ Truyền Giáo đệ trình lên ĐGH, mà G/sĩ ĐẮC-LỘ chưa hề một lần đọc được “Bản In Thử” (épreuve), thậm chí cũng không hề thấy được khuôn mặt đứa con tinh thần mình đã cưu mang ôm ấp qua bao năm tháng miệt mài đã được chào đời như thế nào.

Đợi đến một dịp triều kiến ĐGH 1651, và bất ngờ G/sĩ ĐẮC-LỘ đã được ĐTC trao tận tay bộ sách, và Ngài chỉ kịp ôm vào lòng với một câu nói run run đầy xúc động: “Con xin dâng 3 công trình nầy cho Thiên Chúa. Vì Chúa đã ban cho con được một đất nước mà ở đó sự lao khổ của dân chúng đang ở chỗ tận cùng của đen tối. Nhưng cũng tại nơi nầy con đã nhìn thấy lòng từ ái của Chúa. Con đã nghe được những âm thanh có nhạc điệu của giọng nói con ngườiVới 3 công trình nầy, con nghĩ trong tương lai, đó sẽ là ngọn lửa dẫn dân tộc nầy ra khỏi vòng tăm tối. Từ giờ phút nầy, con có thể trở về trong vòng tay Chúa mà không một ân hận gì…” Còn nội dung đúng sai, và sai đến mức độ nào, Ngài không hề biết, thậm chí cả chữ ANNNAMITICUM trên bìa Sách, có thể Ngài cũng không kịp nhìn thấy cho tường.

Nói thế, không có nghĩa là G/sĩ ĐẮC-LỘ không xem đi, đọc lại, không ôm ấp, ngắm nhìn khuôn mặt 3 đứa con tinh thần thân thương và tôn quý nhất đời mình và khoiong tìm thấy những sai lầm đau đớn như những vết thương tâm, như những cố tật trầm kha trên thân thể chúng.

Nếu hầu hết đều đúng với âm ngữ và cấu trúc vần tiếng Việt vào Thế kỷ XVII như thế đi nữa, tưởng G/sĩ ĐẮC-LỘ cũng không thể ghép vần “cu”, “co” thay qu như “cuên”, “coen”, “sóũ”, “đòũ”, “khoũ”……. mà các Nhà nghiên cứu “giải mã” là quên, quen, sống, đồng, không, tưởng tượng theo cách “đọc thơ phải cầu lý”. Theo thiển ý chúng tôi có thể là những sai lỗi ngoài ý muốn của Thợ sắp chữ do không nhận diện được nét chữ viết trong một ngôn ngữ lạ, hoặc do sự nhầm lẫn của G/sĩ như chúng tôi đã trình bày ở tiết 1, thì ít nhất G/sĩ cũng nhận ra chữ ANNNAMITICUM với 3 N là không đúng. Vậy tại sao tất cả đều được để yên, G/sĩ ĐẮC-LỘ không yêu cầu Nhà In chỉnh sửa một Tác phẩm có tính nghiêm trọng bạt nhất trong Lịch sử Văn học một Dân tộc mà chính G/sĩ đã  soạn thảo bằng cả tâm huyết mình?

Phải chăng G/sĩ ĐẮC-LỘ cũng không tránh khỏi xót xa với những hạt sạn quá cấn cái gây ra sự đau đớn tinh thần nầy! Nhưng xét về phương diện tâm lý, trước một kết quả không dám mơ rằng Thánh bộ Truyền Giáo đã đặt biệt quan tâm, Thợ sắp chữ đã dồn hết mọi nỗ lực với hết sức mình để hoàn chỉnh cách cao nhất. Nhà In cũng đã sử dụng hết kỷ năng in ấn đến hàng trăm quyển, đóng bìa “xi-mi-li” chắc, bền, đẹp, có hình thức trang trọng nhất tại La-Mã lúc bấy giờ với “Gáy nổi”, “Chữ mạ vàng” thuộc loại Sách Quý, đắc tiền. ĐGH cũng đã tỏ ý rất hài lòng với thành quả xem ra mỹ mãn nầy.

Thử hỏi một khi gạo đã thực sự thành cơm, trong hoàn cảnh ấy, liệu G/sĩ ĐẮC-LỘ con làm gì được hơn, để đủ can đảm kêu ca, phiền trách, đòi hỏi phải bổi thường, tháo gở, in ấn đóng bìa lại không?

G/sĩ ĐẮC-LỘcó nhất thiết phải trình xin ĐGH ra lệnh cho in lại? Yêu cầu Thánh Bộ Truyền Giáo buộc Nhà In hủy bỏ toàn bộ công sức in ấn cách thận trọng nhiệt tình, dù là in miễn phí, in không công, in không trà nước, không cà phê, không thuốc cộng cho cả Chủ, Thầy cai, lẫn thợ và cả công nhân phục vụ! Không giống như những Ông Chủ thừa tiền, nặng túi, đã bỏ ra cả một ngân khoản kết sù cho một cơ sở thương mại ăn thuê? Đấy! Liệu G/sĩ ĐẮC-LỘ có đáng cho ta có thái độ khắc khe, nặng lời, trách mắng, thuộc dạng tầm cỡ GsTs. Họ PHẠM không? Dám xin Quý Vị xem đây, tất cả như một giả thuyết để ta có thể dành cho G/sĩ ĐẮC-LỘ một chút lòng “thương hại” của những kẻ trượng phu, dù là thành phần tử đối đầu, nhưng đều là trí thức cả thôi!

Nói chung sự hình thành các cấu trúc quy mô chủ yếu chỉ là Từ Điển Việt-Bồ-La và Phép Giảng 8 Ngày của G/sĩ ĐẮC-LỘ là duy nhất. Chưa hề có một Nhà Văn hóa vĩ đại nào khác nữa đã có trình độ củng cố, hiệu đính cho hoàn chỉnh hơn, kể cả Nhóm Tự-Lực Văn-Đoàn và Nhân-Văn Giai-Phẩm 1955.

Nhưng cho có được một phương pháp ghép vận chuẩn xác, cũng phải mất cả 2 Thế kỷ sau, nhờ công trình nghiên cứu kế tiếp của Nhà Đại Ngữ Học TRƯƠNG-VĨNH-KÝ (1837-1898) mới sưu tra những quy tắc thành văn và bất thành văn của G/sĩ ĐẮC-LỘ để có căn bản áp dụng chuẩn xác bởi Quyền Vần Quốc Ngữ do Tiên sinh soạn thảo theo ngữ âm chính của tiếng Việt vào cuối Thế kỷ XIX và đã được các Nhà Giáo Dục, các nhà Văn Hóa bảo vệ cách nghiêm ngặt về Chính tả cho đến ngày nay. Nhờ đó, đã hơn Thế kỷ qua, âm vận và mọi cấu trúc Văn Học Việt-Nam không hề bị lệch lạc, sai trái, tùy tiện như từ mấy chục năm trở lại đây.

Đó là hậu quả xuát phát từ “Đại Học giả Thiên tài” NGUIỄN-NGU-Í đã quyết tâm loại trừ, tiếp đến là sự thay đổi khá thông minh của Bà NGUYỄN-THI-BÌNH, và ngày nay có thêm “Nhóm Sáng Tạo Mới” với tổ chức quy mô gồm Bộ ba LANH-CUNG-BÁO, cộng với sự đồng tình của Cơ quan Kiểm duyệt Nhà Nước Đà-Nẵng. Họ đã quyết tâm loại bỏ tận gốc rễ mọi cấu trúc ghép vần Chữ Tân-Quốc-Ngữ bằng cách chính thức đưa vào hệ thống Giáo Khoa Đất nước mình trong “Niên Khóa 2012-2013”, cũng đã bị phát hiện và phản đối kịp thời ngay từ trong trứng nước.

Theo Nhà khảo cứu nổi danh ĐỖ-VĂN-XUYỀN đã phát hiện cách viết thời Giao-Chỉ, cũng thuộc hệ thống Chữ Tượng âm, vẫn không hề xuất hiện ký hiệu nào tạo ra âm sắc tiếng Việt, nghĩa là không thuộc hệ thống Chữ Tượng Thanh. Không rõ Tổ tiên ta ngày xưa đã thể hiện thanh sắc tiếng Việt như thế nào, để đọc không lẫn lộn các từ Nhân, Nhấn, Nhần, Nhẩn, Nhẫn, Nhận? Chỉ có Bộ Từ Điển Việt-Bồ-La và Phép Giảng 8 Ngày của G/sĩ ĐẮC-LỘ mới được xem là Bản mẫu chữ Tượng Thanh của tiếng Việt đầu tiên, đã thực sự hoàn chỉnh tính cả đến ngày nay. Tuy có những vần không phù hợp như Blời thay vì Trời, mà nhiều người nghĩ rằng G/sĩ vẫn còn sử dụng sai vần, chưa đủ độ hoàn chỉnh, như những giả thuyết chúng tôi đã đặt ra.

Nhưng thực tế G/sĩ ĐẮC-LỘ đã ghi lại nhiều lối phát âm của nhiều địa phương khác nhau, Tuy nhiên, các nhà Nghiên cứu cũng đã tìm thấy một số thư từ và tác phẩm của 2 Thầy I-GIÊ-XI-CÔ (IGESICO) VĂN-TÍN còn được lưu trữ tại Âu-Châu trong Thư Viện Arsi thuộc danh bạ Js. số lưu trữ F. 247, cũng có thư tay Thầy BEN-TÔ THIỆN, số F. 246rv đều viết cho Thầy MARINI vào khoản 1658-1660, như: “Lạy ơn Đức Chúa Blời blả cỗn cho thầi…” (Lạy ơn Đức Chúa Trời trả công cho thầy). Khi trở về La-Mã tháng 7/1658, Thầy MARINI cũng xin Thầy BEN-TÔ THIỆN viết một tập Lịch sử Việt-Nam cũng đã có những chữ “Bua Than Nôõ”(Vua Thần-Nông), “Bua Kinh dương Bương” (Kinh-Dương-Vương), nói chung cả hai Thầy cũng đều viết Blời thay vì Trời, Blả thay vì trả, cỗn thay vì công, Bua thay vì Vua, Nôõ thay vì Nông, Dương Bương thay vì Dương-Vương…. Như thế đã đủ chứng minh cho các Nghiên cứu thấy rõ âm ngữ tiếng Việt từ cuối Thế Kỷ XVII về trước đã phát âm “Blời”, “Blả”, “Bua” vv… chứ không có Trời, Trả, Vua như từ Thế kỷ XIX về sau. Có nghĩa rằng G/sĩ ĐẮC-LỘ không hề ghép sai vần theo âm ngữ lúc bấy giờ như ta thương lầm tưởng, ngoại trừ mỗi chữ ANNNAMITICVM đã thừa một N, do sơ sót của thợ sắp chữ mà thôi. Đã đến đầu Thiên Niên kỷ thữ III, ta vẫn còn nghe quá nhiều dị biệt các âm ngữ địa phương như “thuộc nòng”, “Phát-Riệm”, “cây lêu”…!

Khi so sánh chữ viết thời Giao-Chỉ, nhà Khảo cứu ĐỖ-VĂN-XUYỀN cũng đã không ngần ngại – theo Tác giả PHẠM-NGỌC-DƯƠNG – xác định không úp mở rằng: “Chữ tượng thanh là chữ của thời hiện đại, vượt xa thứ ngôn ngữ tượng hình của Trung Quốc. Theo quan điểm của thứ chữ tượng hình của Trung Quốc là loại chữ lạc hậu, cổ hủ nhất thế giới. Bởi vì, người học phải mất mười năm dùi mài kinh sử, mới nhớ được một lượng chữ nhất định và tất nhiên học cả đời cũng không nhớ hết được mặt chữ. Trong khi đó, với loại chữ tượng thanh chỉ cần chú tâm học 7 đến 10 ngày là có thể viết  thành thạo, ghi lại được ngôn ngữ nói”

Rõ ràng nhất, người Trung-Quốc hiện nay, chỉ cần học hơn 10 ngày, đã thuộc làu mặt chữ La-Tinh và cách ghép vần các từ Quan thoại, thì họ đã tự viết được bất cứ từ ngữ nào người Hoa các Tỉnh nói hay nghe đọc, dù có hiểu nghĩa hay không, mà không cần phải rà theo từng nét của mỗi chữ trong từng “chữ tranh”. Học Mẫu tự tượng âm, tượng thanh tiến bộ và đốt giai đoạn là ở đó.

Từ đó ta có thể suy ra, chính vì mẫu chữ Ô vuông tượng hình, đã cầm chân Trung Quốc lạc hậu cho đến ngày nay. Đã nhờ chính sách “Hoa-Hóa Mẫu Tự La-Tinh” do Cộng Đoàn Dòng Tên nghiên cứu, hiện nay họ đã áp dụng cho hệ thống Giáo Khoa tiếng Quan Thoại, nên người Hoa mới trực tiếp hội nhập được văn hóa Tây phương, tiến thân nhanh hơn trong các ngành Khoa học hiện đại, có thể không còn cần phải học Anh văn, Pháp ngữ, mượn chữ viết Âu Mỹ để vào được Đại học. Nhờ đó Trung-Quốc mới gượng dậy được nền kinh tế rách nát, què quặt sau Việt-Nam hàng Thế kỷ, dù họ đã được thừa hưỡng đươc hòa bình sớm và ổn định phát triển kinh tế thuận lợi hơn, trong khi VN còn bị chiến tranh tàn phá đến tận 1975.

Hiệu quả thực tế của Chữ Việt-Nam-Hóa Mẫu Tự La-Tinh đã tạo nên nền Văn hóa hiện đại ngang tầm Tây phương từ Thế kỷ XIX, nếu Vua GIA-LONG đã không tiếp tục bị quân Tàu khống chế, không loại bỏ Con Trưởng Nam của Hoàng Tử NGUYỄN-PHÚC-CẢNH, không truyền Ngôi cho MINH-MỆNH để tiếp tục 3 đời tàn sát Công-Giáo, tru diệt hàng loạt mạng người với cả một dãy 5 số không kế tiếp, thì đất nước ta cũng đã phát triển không kém nước Pháp bao nhiêu. Cũng không bị mất nước dưới thời TỰ-ĐỨC. Đó là điều phải khẳng định không do chủ quan. Nó đã quá rõ nét, nhiều Sử gia cũng đã đánh giá và khẳng định rõ trong Lịch sử Việt-Nam. Người ta đã cảm nhận được điều đó nhưng không ai dám mạnh dạng ghi nhận cách cụ thể vào thời điểm lúc bấy giờ, thậm chí còn nhiều người vẫn muốn lập lở ngay cả ngày nay.

Có Sử gia đã so sánh Thái-Lan thức thời trước, mở cửa giao thương Quốc tế từ xưa, nên không một Đế quốc nào dám khinh thường dòm ngó, kể cả Tàu. Thái-Lan đã hội nhập Kinh tế và Văn minh thế giới trong an bình thịnh vượng và tự chủ trước ta hàng bao Thế kỷ. Phải chăng Thái-Lan đã biết ngẫn đầu, không để Tàu Ô khống chế, không hành động cách ngu ngốc theo chính sách “Đóng Cửa Tri Dân” của người Tàu. Họ không Bế môn Tỏa cảng, không sát Tả bình Tây, không Kỳ thị Tôn Giáo. Không bao giờ tự coi Đất nước họ là một “Nha Phủ” lệ thuộc Bắc Triều như An-Nam Đô-Hộ-Phủ chúng ta, để triền miên cúi đầu vâng dạ, triều cống bằng cả nhân tài, vật lực và đất đai!

Tuy nhiên, Dân tộc Thái-Lan kém thông minh, thiếu năng lực và không nhạy bén như ta. Khi Miền Nam được đặt dưới chế độ Việt-Nam Cộng Hòa, chỉ thời gian ngắn, mặc dù còn phải chịu nhiều sự tàn phá của chiến tranh, Miền Nam cũng đã bóp còi qua mặt Thái-Lan đến hơn 20 năm Kinh tế!

Nói ngoa ư? Sau những ngày Giải Phóng Miền Nam, đã một lần tại Sài-Gòn, Cố Trung tướng TRẦN-ĐỘ, Quân Đội Nhân Dân Việt-Nam (QĐNDVN) Miền Bấc vừa vào, cũng đã đã xác nhận điều đó. Trung Tướng TRẦN-ĐỘ là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt-Nam, từng kiêm nhiệm các chức vụ tầm cỡ Quốc Gia: Phó Chủ  nhiệm Tổng cục Chính trị, Thứ trưởng Bộ Văn hóa kiêm Phó Ban Tuyên huấn Trung ương, Trưởng ban kiêm Thứ trưởng Bộ Văn hóa (Tác giả nghị quyết số 5, đã củng cố tiến trình cởi mở Văn hóa trong chính sách Đổi Mới Tư-Duy), Phó Chủ tịch Quốc hội khóa 7, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội, cũng là một Ủy viên Hội đồng Nhà nước. Trước Quần chúng Miền Nam và Báo chí, Trung Tướng đã công khai xác định rằng nền Kinh Tế Miền Nam trước Giải Phóng đã vượt hơn Thái-Lan 20 năm, nhưng hiện nay ta phải mất 20 năm sau mới theo kịp nền kinh tế của họ.

Chúng tôi cũng may mắn được tiếp xúc với Cựu Đại Tá QĐNDVN, người Quảng-Nam – Đà-Nẵng. Vị Đại tá nầy đã tâm sự rất chân tình và cởi mở: “Miền Bắc chúng tôi đã Giải Phóng Miền Nam về mặt Quân sự, giành được chủ quyền Độc lập, Tự do và Thống nhất Toàn vẹn Lãnh thổ, nhưng bù lại Miền Nam cũng đã giải phóng Miền Bắc trên nhiều Lãnh vực khác, Kinh Tế, Văn hóa, Chính trị, Xã hội…”

Riêng về Văn Hóa, Ts. NGUYỄN-KHÁNH-LAN, nghiệp tại Liên-Xô, đã nhận định: Chính vì sự lạc hậu của Trung Quốc đã cầm chân và đẩy Miền Bắc thụt lùi cách đáng lo ngại. Chỉ xét về Văn hóa và Nghệ thuật thì Miền Bắc hầu như trống rỗng, vô cùng lạc hậu, kể cả Hà-Nội ngày nay, từng được gọi là Thủ Đô Nghìn năm Văn Vật.

“Chỉ nghe mấy vần thơ châm biếm phát xuất tại Miền Nam:

“Rớt tú tài, anh đi Trung sĩ,

“Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con.

“Chờ khi đất nước vuông tròn,

“Trở về, anh có Mỹ con anh bồng”.

 “Nghe những câu thơ biểu hiện một Xã Hội Miền Nam dưới gót giày Đế quốc Mỹ mà cảm thấy chua chát. Nó vừa khôi hài vừa châm biếm, cũng đã diển tả mộtphần nào cái thực tế ấy. Vợ Quân đội đều lấy Mỹ nuôi con. Nhưng hãy gạt bỏ qua bên một thời quá khứ! Tuy nhiên nó cũng làm cho chúng tôi ray rứt về thực trạng Văn hóa Miền Bắc của mình. Bốn câu thơ trên đã nói lên một  một thực tế rằng thanh niên miền Nam muốn ra Sĩ quan bắt buộc phải có Tú tài. Rớt Tú tài là ra thân Trung sĩ! Trong khi Sĩ quan Bộ Đội Bác HỒ chúng tôi không hề có một trình độ văn hóa nào! Các cấp Sĩ quan hầu hết chỉ mới “Tốt nghiệp” Binh Dân Học Vụ, có khi chưa được “xóa nạn mù chữ”! Sau ngày Giải Phóng, quần chúng Miền Nam không nuốt trôi các loại sách vở, văn học, nghệ thuật, phim ảnh từ miền Bắc đưa vào. Trái lại nhân dân miền Bắc, chỉ tranh nhau xem các loại Phim ảnh từ Miền Nam đưa ra. Hoặc giới Văn nghệ sĩ miền Bắc, tối thiểu cũng phải đóng chung với giới Nghệ Sĩ Miền Nam mới được nhân dân miền Bắc đón nhận. Đã một thời tại miền Bắc từng nở rộ cụm từ phổ biến “Phim Tổng Hợp Tp. HCM” và chỉ hướng đến mộc loại phim ảnh nầy, thì đủ rõ! Có nghĩa rằng không còn tìm ra nền một nét Văn Hóa nào của Hà-Nội nữa. Nếu không có Miền Nam, thì không rõ trình độ Văn hoá nước nhà đã đi về đâu, và còn đi đến đâu!” Chắc chắn phải đi váo con đường NGUYỄN-THI-BÌNH, tận diệt Văn hóa Việt!

Bị bắt buộc phải đi theo vết xe đổ của các cuộc “Cách Mạng Văn Hóa” MAO-TRẠCH-ĐÔNG, một phiên bản TẦN-THỦY-HOÀNG. Cũng bị áp đặt tại Việt-Nam vào thời Bao cấp. Người ta đã từng sao chép mô hình “Cách Mạng Văn Hóa” của Mao Vương. Tuy chưa đạt đến mức độ “Chôn Học Trò” nhưng cũng đã từng “Đốt Sách”! Mọi tác phẩm Văn hóa, Văn học, nghệ thuật toàn dân đều bị thu gom hỏa táng. Một thời tẩy chay, loại bỏ mọi hình thức phát triển Văn Học nghệ thuật, Văn Hóa Dân tộc, Đạo Đức Tôn Giáo! Người ta đã truy quét, thu gom mọi loại Văn Hóa Phẩm làm giấy pháo, giấy vệ sinh và xé đốt. Mọi loại sách Văn Học, Nghệ Thuật, Giáo Khoa, Lịch Sử, Từ điển, Triết lý, Thần Học, Đạo đức… đều là những báu vật tinh thần vô giá của Nhân loại, được tích lũy qua bao đời Tiên Tổ, nhưng không mang tư tưởng Mao Vương, đều bị thủ tiêu, hủy diệt! Đều bị ghép một Tội danh “Văn Hóa Nô Dịch”, “Văn Hóa Đồi Trụy”. Đồng loạt bị đưa lên đoạn đầu đài vô cùng oan uổng! Nhưng không tìm thấy một ai giao động, không thấy một vẻ mặt nào dưới thời LÊ-DUẪN đã tỏ ra thương tiếc!

Nếu không nhờ sự sáng suốt của Cố Tổng Bí Thư NGUYỄN-VĂN-LINH, một Lãnh Đạo Đảng, đã chủ trương “Đổi Mới Tư Duy”, loại bỏ Chế độ Bao Cấp, kịp thời chận đứng tội ác “Đốt sách”, “Kiểm kê”, “Cưỡng bức mua Trái phiếu”! Dẹp bỏ chủ trương khai triển “Cách Mạng Văn Hóa Mao Vương”, phá hoại các giá trị tinh thần Tôn Giáo và Dân tộc, ngu dân hóa để trị. Thì ngày nay không có nhiều sự thay da đổi thịt, quần chúng cũng đã bớt lầm than đói khỗ hơn cả thời vong nô Bắc thuộc.

Có điều đáng tiếc, TBT. NGUYỄN-VĂN-LINH đã bỏ quên việc “Đổi mới Tư duy thuộc diện Giáo Dục Quốc gia”. Không thay đổi một Bộ Trưởng Giáo Dục từ thời Bao Cấp với trình độ Gia Sư, thuộc ảnh hưởng Văn hóa Cao-Mên của đầu Thế kỷ XX! Vì thế, bộ mặt Văn hóa đất nước ngày nay càng thêm da diết, manh nha phá hoại toàn bộ nền tảng Văn học Nước nhà,tạo nên một hậu quả như ta thấy ngày nay. Người ta vẫn tiếp tục thi hành chủ trương NGYỄN-THỊ-BÌNH không có BÌNH. Ngày càng rạng sáng, càng rộ nở một hình thức xây dựng tập đoàn Giáo Khoa phi văn học, như một bằng chứng cụ thể đã quá hùng hồn. May mắn thay giới Phụ huynh Học sinh cũng đã nhận diện được, đã kịp thời lên tiếng và đã “tạm dừng”! Chúng tôi chỉ nói “Tạm Dừng” chứ không dám chủ quan cho là “chấm dứt”. Rất có thể, ngày mai, một khi Công luận bỏ qua, có cơ hội ai cấm họ không được ngóc đầu?

Tuy Đảng đã có chủ trương Đổi Mới nhiều mặt, nhưng về mặt Đào tạo Văn hóa, Bộ GD&ĐT vẫn chưa nhận thấy được toàn diện tinh thần đổi mới Văn hóa theo kịp đà văn minh xã hội. Nếu không có ý thức rõ ràng, mô hình đạo tạo Văn Hóa NGUYỄN-THỊ-BÌNH từ thời Bao cấp sẽ còn đưa Dân tộc và Đất nước đi vào vực thẵm! Bộ GD&ĐT còn bảo vệ Chủ trương Chính sách Loạn chữ Ngu dân NGUYỄN-THỊ-BÌNH tồn tại là điều khó hiểu trước Thiên chức cao cả của một Nhà Văn Hóa Quốc gia có trình độ tầm cỡ Quốc tế, không thuộc hàng Gia sư cổ điển. Loại bỏ Văn học Dân tộc, là đưa Tổ Quốc đến chổ diệt vong! Có lẽ cũng đã đến lúc đánh động tâm hồn các Sử Gia Người Việt Chân Chính sẽ không quên ghi nhận cụ thể trong những trang Văn Học Sử ngày mai.

Lãnh đạo và phát triển Văn hóa Dân Tộc, không phải là hình thức mang những khuôn mặt bất tài, là chuyên viên chép Từ điển. Không phải ăn cắp Bản cũ soạn lại, với “sáng kiến bớt một thêm hai”, bỏ gạch nối (trait d’union), thay đổi cách viết i ngắn thay y dài. Đó không phải là một nét đẹp đột phá mới trong dân gian. Tự nó đã cho thấy là lớp người “văn dốt, võ dát” (!) tưởng chừng mọi người đều đui điếc, không ai nhận diện được, người ta sẽ đời đời tôn xưng mình là Nhà Văn Hóa Siêu Phàm.

XIII. SỰ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC THỪA SAI HẢI NGOẠI VÀ NHIỀU                                                        HỌC GIẢ CÔNG GIÁO PHÁP CHO NỀN VĂN HỌC VIỆT-NAM

Ngoài G/sĩ ĐẮC-LỘ và Nhà Toàn Cầu Bác Học Danh Gia TRƯƠNG-VĨNH-KÝ, còn có nhiều công sức đóng góp của bao nhiêu G/sĩ thuộc Hội Thừa Sai Hải Ngoại Ba-Lê. Các Ngài đã tiếp tục công việc xây dựng và phát triển Văn hóa Việt. Nhiều Tác phẩm nghiên cứu ngôn ngữ bản địa, đặc biệt là các công trình soạn thảo nhiều Từ điển tiếng Việt khác. Người nối tiếp G/sĩ ĐẮC-LỘ đầu tiên, là Đức Cố Gm. BÁ-ĐA-LỘC (PIGNEAU DE BÉHAINE), vào cuối Thế kỷ XVIII cũng đã soạn Bộ Từ điển “Hán-Việt-La” (Hán-Tự – Việt-Nam – La-Tinh) dày 906 trang với sự trợ giúp của Lm. HỒ-VĂN-NGHI, và bộ khác là Từ điển “Dictionnarum Annamitico-Latinum” (Việt-Nam – La-Tinh) dày 732 trang. là cuốn từ điển đầu tiên bao gồm các ký tự La-Tinh và chữ Nôm, không có trong cuốn từ điển của G/sĩ ĐẮC-LỘ. Bằng cách hợp lý hóa hệ thống phụ âm và thanh điệu, Đgm. BÁ-ĐA-LỘC đã điều chỉnh, sửa chữa và làm phong phú thêm. Hàng thức giả đã đánh giá cao 2 bộ Từ Điển nầy có nhiều tiến bộ, hợp âm ngữ hơn Bộ Từ Điển của G/sĩ ĐẮC-LỘ. Điều đó không lạ. G/sĩ ĐẮC-LỘ hoàn tất việc soạn thảo Từ Điển Việt-Bồ-La vào thượng bán Thể kỷ XVII. G/sĩ đã viết theo cách phát âm của Thế kỷ XVII về trước. Tác phẩm của Đức BÁ-ĐA-LỘC được soạn sau một Thế kỷ rưởi, tất nhiên cách viết phải tiến bộ hơn, hợp với âm ngữ của Thế kỷ XVIII đã có nhiều thay đổi.

Càng không thể quên công lao của Cố Gm. JEAN LOUIS TABERD (1827-1840) tên Việt là Đức Cha TỪ. Tại Lái-Thiêu, Ngài cũng đã soạn Bộ Từ điển Việt – La còn dang dở và đã hoàn tất công trình nầy tại Địa phận Calcutta, Ấn-Độ một thời gian sau khi nhậm chức với sự trợ giúp của Thánh Lm. Tử Đạo PHAN-VĂN-MINH. Tác phẩm nầy đã biểu hiện có nhiều tiến bộ hơn. Từ Diển của Ngài đã soạn thảo cuối Thế kỷ XIX, sau Tác phẩm của Đức Cố Gm. BÁ-ĐA-LỘC non Thế kỷ. Các nhà Văn hóa đã đều thừa nhận Từ điển Gm. JEAN LOUIS TABERD có nhiều tiến bộ hơn. Vì Từ điển nầy phù hợp với ngôn ngữ Thế ký XX hơn cũng là lễ thường tình.

Theo tài liệu của MOUSSAY thì Từ điển Gm. JEAN LOUIS TABERD được in năm 1838 tại Serampore, Bengale, dưới nhan đề “Dictionarium  annamitico latinum”. Trong cuốn từ điển này, “sự đóng góp của Đức Cha TABERD không xác định rõ được… chứa khoảng 10.000 mục từ, mô tả chi tiết các nghĩa khác nhau của mỗi từ.”

Năm 1868, Lm. LEGRAND DE LA LIRAYE cho ấn hành cuốn “Dictionnaire Élémentaire Annamite-Français” (Từ điển cơ sở Việt-Pháp). Cuốn từ điển Việt-Nam – La tinh của Đgm. TABERD được chỉnh lý và hoàn thiện bởi Đgm. JOSEPH THEUREL, khâm mạng tòa thánh (vicaire apostolique) vùng Tây Bắc-Việt, nhưng ông qua đời vào năm 1868, trước khi hoàn thành dự án. Lm. CHARLES LESSERTEUR hoàn thành nốt công việc và công bố cuốn từ điển tại Nhà xuất bản của Mission de Kẻ-Sở, năm 1877. Lm. Thừa sai GÉNIBREL, xuất bản cuốn từ điển lớn “Dictionnaire Annamite-Français” (Từ điển Việt-Pháp) năm 1898. Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1928, nhiều nhà Truyền giáo thuộc Hội Thừa Sai Ba-Lê công bố một loạt các cuốn từ vựng nhỏ: như những cuốn của các Lm. RAVIER, DRONET, PILON, BARBIER, MASSERON. Năm 1937 xuất hiện cuốn từ điển đồ sộ Dictionnaire Annamite-Chinois-Français (Từ điển Việt-Hoa-Pháp) của Lm. Hue, Hội Thừa Sai.

Chữ Quốc ngữ cũng được xuất hiện ở Cộng đồng Công giáo, trong các Tác phẩm của hai Học giả lớn, TRƯƠNG-VĨNH-KÝ (1837-1898) và HUỲNH-TỊNH-CỦA (1834-1907), học trò Ông, một Ðốc phủ sứ đầu tiên của tỉnh, đã dịch các Sắc lệnh của chính quyền Sài-Gòn ra tiếng Việt, phổ biến chữ Quốc ngữ trên tờ báo tiếng Việt “Gia Định Báo”, dùng chữ Quốc ngữ đầu tiên, xuất bản các truyện cổ và thần thoại sưu tầm trong khoảng 1880 – 1887 và soạn một cuốn từ điển tiếng Việt vào năm 1897, phỏng theo từ điển tiếng Pháp. Nhưng một trong những đại kiến trúc sư của sự truyền bá chữ Quốc ngữ là TRƯƠNG-VĨNH-KÝ. Nổi tiếng là một thiên tài đa ngữ, ông học các tiếng Xiêm, Miến-Điện, Lào, Miên, Trung-Hoa, Nhật, Hindi, Hy-Lạp, La-Tinh, Bồ-Đào-Nha, Pháp, Singapore, Tây-Ban-Nha, Đức, Ý, Nga, Ấn-Độ, In-Đô-Nê-DiA, Ba-Lan, Úc-Đại-Lợi…. Trong số trước tác đồ sộ của con người đa tài ấy – Sử gia, Nhà Tiểu luận, Nhà Chính trị, Nhà Văn, Nhà Thơ và Dịch giả – đáng chú ý hơn cả là quyển Ngữ Pháp tiếng Việt đầu tiên do một người Việt viết (1863); Quyển “Petit Dictionnaire Franco-Annamite” (Tiểu từ điển Pháp-Việt); các bản phiên âm Quốc ngữ một số kiệt tác văn học chữ Nôm, như Kim-Vân-Kiều, Phan-Trần, Lục-Vân-Tiên; một số tác phẩm tự sự văn xuôi, đặc biệt là “Đông Kinh Du Ký”, xuất bản năm 1887.

Điều đáng ghi nhận hơn nữa, trong cuốn Từ điển La-Tinh – Việt Nam của Cố Giám mục JEAN LOUIS TABERD xuất bản năm 1838, còn có một Bản đồ Việt-Nam được gọi là “An-Nam Đại-Quốc Họa-Đồ” (ANĐQHĐ) do chính Người vẻ, trong đó có quần đảo “Paracel seu Cát Vàng” (Paracel hay Cát Vàng), phiên Hán-Việt là Hoàng Sa hiện nay. Đức Gm. TABERD đã khẳng định “Bãi Cát Vàng” (Hoàng-Sa) là của Việt Nam. Nó đã ăn khớp với Tác phẩm “Chủ Quyền Đối Với Quần Đảo Hoàng-Sa Và Trường-Sa”. Quý vị còn tìm thấy nữ Giảng Sư Đại Học tại Ba-Lê MONIQUE CHEMILLIER-GENDREAU đã đơn dẫn tài liệu nghiên cứu Địa lý học Trung-Hoa của Gm. TABERD. Bản thảo các tác phẩm nầy hiện còn lưu giữ tại Văn khố Hội Thừa Sai Hải Ngoại Ba-Lê. Quyển Từ điển của Đức Cha TỪ cùng với quyển Từ điển của Đức Cha BÁ-ĐA-LỘC, đã được chính Đức Thánh Giáo Hoàng PIUS IX ưu ái trao tặng tận tay cho Nhà Văn hóa Tiền bối TRƯƠNG-VĨNH-KÝ ngày 4.12.1868 tại Giáo đô La-Mã.

Cùng với những bộ Từ điển của Nhà Ngôn Ngữ Học Tiền Bối TRƯƠNG-VĨNH-KÝ, môt Bậc Thầy nhân loại đã soạn thảo, ta còn phải kể đến các Tác giả PAULUS HUỲNH-TỊNH-CỦA cũng đã soạn quyển “Đại-Nam Quốc-Âm Tự-VỊ” in năm 1896… Ngoài các Học giả trong nươc, còn nhiều nhà Văn Hóa Công Giáo lớn nước ngoài cũng đã soạn thảo các Bộ Từ điển hổ trợ bổ sung và canh tân nền Văn Học Việt-Nam được đầy đủ và phong phú hơn theo từng thời, như JOSEPH THEUREL có Từ điển Việt-Nam – La-Tinh và Việt-Nam – Pháp. JEAN GÉNIBREL có các bộ “Pháp – Việt”. GUSTAVE HUE có bộ “Việt – Hoa – Pháp” v.v… có lẽ chúng tôi không đủ trình độ để biết và lược kê đầy đủ danh sách các Nhà Từ Điển thời xưa.

Năm Nhà Truyền Giáo BARBOSA, AMARAL, DE RHODES, DE BÉHAINE, TABERD, là những Nhà Biên soạn Từ điển Tiếng Việt đầu tiên. Rất tiếc Tác Phẫm của hai Giáo Sĩ BARBOSA và AMARAL chúng ta không được may mắn thừa hưởng, nó đã bị thất lạc, không để lại một dấu vết. Tuy không biết được cái giá trị của 2 Từ điển nầy đến mức độ nào. Nhưng đối với những Tác Phẫm đầu tiên, dù có sơ sài đến đâu chăng nữa cũng vẫn là những công trình vĩ đại mà các Ngài đã dày công sưu tập trong thời sơ khai đó, đáng cho Dân tộc ta muôn đời tri ân, cũng như Dân Tộc người Hoa không thể phủi ơn Dòng Tên cũng đã để lại cho họ một “Hệ thống Cấu trúc Hoa-Tự”, đã được Nhà Nước Trung-Quốc trân trọng áp dụng vào chương trình Giáo Khoa Quan Thoại ngày nay.

Lịch sử còn ghi nhận Lm. GIROLAMO MAJORICA, Tác giả của 45 tác phẩm lớn nhỏ bằng chữ Nôm, khoảng dưới triệu rưởi chữ, chưa có một nhà Văn hóa người Việt nào từ cổ chí kim đã đạt được những công trình chữ Nôm đồ sộ đến mức kỷ lục như thế. Lm. LÉOPOLD CADIÈRE, một Học Giả khảo cứu Tu từ học và Phong tục Tập quán Việt-Nam, người được tôn vinh tại cuộc Hội Thảo mở rộng tại Huế vào tháng 9/2010. Cử tọa bao gồm các nhà Văn hóa, gồm Học Giả, Sử gia, Nhà Nghiên cứu, Văn gia, Thi sĩ tài danh. Có thể nói chung là hàng Trí giả trong và ngoài Công-Giáo, không thiếu những khuôn mặt Văn Hóa lớn của XHCN. Ngoài ra người ta còn nhận thấy có những Học giả nước ngoài. Tất cả cùng đồng tôn nhận cố Lm. CADIÈRE như một Bậc Thầy Văn Hóa của Dân Tộc Việt-Nam. Mọi người đều cung kính Dâng hương trước Lăng mộ Linh mục tại Nghĩa trang Giáo Sĩ Giáo Phận Huế.

Tất cả các Ngài đều xoay quanh việc bổ sung công trình Văn Hóa, quyết hoàn chỉnh nền Văn Học cho Dân tộc và đất nước Việt-Nam. Cũng cần phải ghi nhận rằng, ngoài công trình nghiên cứu Văn hóa Việt, nhiều Giáo sĩ Pháp cũng đã để lại những công trình nghiên cứu Địa lý Việt-Nam kể cả nhiều tấm Bản Đồ như G/sĩ ĐẮC-LỘ, trong đó có Đgm. TABERD mà Bà MONIQUE CHEMILLIER-GENDREAU, nữ Giảng Sư Đại Học tại Ba-Lê, trong Tác phẩm “Chủ Quyền Đối Với Quần Đảo Hoàng-Sa Và Trường-Sa”, cũng đã đơn dẫn tài liệu nghiên cứu Địa lý học Trung-Hoa, thì cũng đã từng ghi nhận quần đảo Hoàng-Sa đã được Hoàng Đế GIA-LONG chinh phục và tuyên bố chủ quyền Việt-Nam năm 1816. Đó cũng là một dữ liệu Lịch Sử mà mọi thể chế Quốc gia đều phải trưng dẫn và ghi nhận như một chứng từ cụ thể, một khi ta dám đương đầu với Quân Bành trướng Bắc-Kinh.

Mãi đến Thượng Bán Thế kỷ XX mới có phong trào đóng góp của các nhà Từ điển người Việt có cả ngoài Công Giáo, ngày càng tăng. Trong thập niên 30 có các Nhà Từ điển BỮU-CAN, “Hán-Việt Thành Ngữ” (Hà-Nội, 1933), ĐỖ-VĂN-ĐÁP, “Từ Điển Hán-Việt” (Nam-Định, 1933), ĐÀO-DUY-ANH, “Việt-Pháp Từ-Điển”, có chua chữ Hán các thuật ngữ Hán Nôm (Hà-Nội, 1936), Qua Thập niên 40 có LONG-DIEN NGUYỄN-VĂN-MINH, “Từ Điển Điển Tích Văn Học Sắp Xếp Theo Bảng Chữ Cái” (Hà-Nội, 1941), ĐÀO-VĂN TIẾN, “Từ Vựng Khoa Học” (Paris, 1945), HOÀNG-XUÂN-HÃN, “Từ Vựng Khoa Học” (Sài-Gòn, 1948); Đến thập niên 50 có LÊ-BÁ-KÔNG, “Từ Điển Anh-Việt” và “Từ Điển Việt-Anh” (Hà-Nội, 1950), ĐÀO-VĂN-TẬP, “Từ Điển Tổng Hợp Việt-Pháp”, “Từ Điển Tổng Hợp Pháp – Việt-Nam” (Sài-Gòn, 1950) và“Từ Điển Tiếng Việt” (Sài-Gòn, 1951). ĐÀOVĂN-TẬP, TRẦN-VĂN-HIỆP, “Từ Điển Trung-Việt” (1951); THANH-NGHỊ, “Từ Điển Việt-Pháp” (Sài-Gòn, 1952); ĐÀO-ĐĂNG-VĨ, “Từ Điển Pháp-Việt” (Sài-Gòn, 1952).

Tất cả các Bậc Tiền bối trên đều là những nhà nghiên cứu tầm cỡ có tính Quốc Tế trên phạm vi văn hóa loài người. Các Ngài cũng đã nhgiên cứu kỹ về ngữ học, cũng đều bổ sung và củng cố nền Văn Học Việt-Nam. Thế mà các nhà Ngôn ngữ học nầy không thể tìm ra một thiếu sót hay dư thừa nào về cấu trúc hệ thống Chữ Tân-Quốc-Ngữ để tu chỉnh, sửa chữa, thay đổi ngoài việc bổ sung cho được phong phú hơn mà thôi. Đã thế thì NGUYỄN-THI-BÌNH và Hàng Quan chức Bộ Giáo Dục ngày nay tự đặt mình vào được vị trí nào trong hệ Văn học nước nhà?

Nếu phải nói rằng mọi cấu trúc chữ Tân-Quốc-Ngữ trong nền Văn học Việt-Nam, đã là một Viên Ngọc Toàn Bích, không tìm ra một vết rạn để có thế dũa mài, đánh bóng sáng hơn, đẹp hơn, tưởng không hề cường điệu chút nào. Nó đã trở thành nền tảng căn bản xây dựng một nền Văn học tiến bộ Việt Nam cách vô tiền khoán hậu cho đến ngày nay và vĩnh viễn không có khả năng thay thế và thay đổi được, nếu không muốn hủy hoại một Đất nước và Dân tộc có Bốn Nghìn Năm Văn Hiến.

Nhờ các công trình nghiên cứu trên, đã mở đường cho các nhà Văn Hóa Dân Tộc đẩy lùi được mọi thứ Văn học ngoại lai hóa, hủy bỏ hẵn loại Văn học Từ chương, mở màng việc thay thế dần các hủ tục Đa thê, loại bỏ Đạo Quân Thần Phong Kiến có tính độc tôn đã ăn thâm vào cốt tủy giới cầm quyền thống trị. Nó đã tồn tại từng thời trong các giai đoạn văn hóa lạc hậu hàng nghìn năm trước, và mỗi thời còn được chế độ tô bồi sâu đậm hơn để mị dân, tự Thánh hóa mình ngay cả hành động chà đạp nhân dân trong một khung rào thép. Điều đó Lịch sử đã chứng minh đầy đủ, không một ai có khả năng phủ nhận.

Xét ra thời Ông cha ta ngày trước không hề dốt nát hơn ngày nay, nếu không nói là Bậc Thầy của mọi thời là đó!  Dù còn ai đó có hằn học, có nguyền rủa và cố tình xuyên tạc vì định kiến, cũng không thể nào khỏa lấp một Thực tại Lịch Sử Văn hóa Tỏa sáng trong dân gian đã quá hiển nhiên nầy.

XIV. NHỮNG VẤN NẠN

Đã có đôi nhà nghiên cứu Văn học Việt-Nam từng thắc mắc, theo Vần Việt chỉ có nguyên âm a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư đều được TRƯƠNG-VĨNH-KÝ tạo thành hợp âm, Cách, riêng nguyên âm i đã có iu, in, ít, iên, ích, còn hợp âm y thì không…. Trong Chữ Tân-Quốc-Ngữ  không từng có các vần hợp âm ya, yu, ynh, ych… Như vậy, trên nguyên tắc, một khi viết ynh, yu, ya đều sai định luật cấu trúc ghép Vần Tân-Quốc-Ngữ. Thì hiện nay với Quy định lấy i thay y của Bộ GD&ĐT là đúng nguyên tắc hợp âm của TRƯƠNG-VĨNH-KÝ.

Ta cần đặt lại vấn đề, lấy giả thuyết rằng, trong quyển Vần Quốc-Ngữ nếu thực tế đã có hợp âm ya, yu, ynh, ych… Thì người ta đã viết “cái đynh”, “tỳnh cảm”, “lyu đyu”, “đých thực”, “đỵa lý”, “Bỳnh an” thay cho cái đinh, tình cảm, liu điu, đích thực, địa lý, Bình an.

Vì thế đã không một ai đặt tên cho con gái rượu là NGUIỄN-THỴ-BỲNH, vì cấu trúc ghép vận nầy đã không có trong Từ Điển Việt-Bồ-La và Phép Giảng 8 ngày của G/sĩ ĐẮC-LỘ….!

Cũng vì đã không có các hợp âm ya, yu, ynh, ych, nhưng không một ai tìm gặp các chữ  “Huình tộc”, “Nguiễn tộc”, “Huinh đệ”, “canh khuia”, “khuỉu tay”, “uình uịch”, “iết kiến”, “iến anh”, “iên ổn”… cả! Vì thế, nếu căn cứ vào Vần Quốc-Ngữ để viết là HUÌNH-TỊNH-CỦA, NGUIỄN-THỴ-BỲNH là là sai với cấu trúc ghép vần G/sĩ ĐẮC-LỘ đã áp dụng trong Từ Điaản Việt-Bồ-La và Tác phẩm Phép Giảng 8 Ngày do Ngài biên soạn! Vì thế người ta đã viết “Nguyễn tộc”, “Huynh đệ”, “canh khuya”, “khuỷu tay”, “uỳnh uỵch”, “yết kiến”, “yến anh”, “yên ổn” là những hợp âm không tìm thấy trong Tập Vần Quốc-Ngữ của TRƯƠNG-VĨNH-KÝ. Vậy ai đúng ai sai? Nên căn cứ vào Họ TRƯƠNG hay phải theo ĐẮC-LỘ cho cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ được hợp lý, thống nhất, để không lẫn lộn và mâu thuẩn giữa i và y?

Căn cứ vào cách ghép chữ của G/sĩ ĐẮC-LỘ có sự khác biệt về chữ y, nhưng không thể nào chỉnh đổi được. Điều đó đã khiến Nhà Ngữ học TRƯƠNG-VĨNH-KÝ phải nghiên cứu ti mỉ và thận trọng hơn. Do đó các hợp âm y đã có một Quy Tắc riêng xác định rằng, tuy không có hợp âm ya, yu, yê…, nhưng khi các hợp âm ia, iu, iê, inh… “đứng đầu từ ngữ” (iên), hoặc nối kết với một nguyên âm khác trước “i” (uiê, uiu) thì “i” phải đổi thành “y”. Chính vì thế, ta đã viết uỳnh uch, chứ không viết “uình uịch”, Nên ta phải lấy y thay cho i trong Hunh, Nguyễn, canh khuya, khuu tay. Đó là một Quy ước đã trở thành Quy tắc, Tiên sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ đã xem đó là một trong những “Luật Trừ Bất Thành Văn” trong cấu trúc ghép Vần Chữ Tân-Quốc-Ngữ.

Xưa nay chưa từng có một Nhà Văn hóa, một Học giả tiền bối phản bác. Luật Trừ Bất Thành Văn là những thực tại không thiếu ở mọi nền Văn Học trên thế giới. Chưa một Nhà Trí  thức nào từ cổ chí kim đã dám chỉnh đổi Quy tắc nầy, ngoại trừ Bộ GD&ĐT VN ngày nay. Những Định luật bất thành văn trong Văn hóa đều bất di bất di bất dịch ở mọi thời và mọi nước.Cách riêng Văn học Âu-Tây còn nhiều luật trừ rất nhiêu khê và phức tạp hơn gấp nhiều lần, nhưng không một ai dám đơn giản hóa, như đã đơn cử trên.

Không chi có mỗi giai đoạn đầu phát triển, khi Chữ Tân-Quốc-Ngữ chưa thành hình cụ thể là một hệ thống Văn Học, thì cách viết luôn biến chuyển thiên hình vạn trạng. Thậm chí  đến cả Thế kỷ XIX, khi Từ điển Viêt-Bồ-La của G/sĩ ĐẮC-LỘ chưa được phổ biến rộng khắp và chưa được nghiên cứu kỹ để được áp dụng đồng nhất. Phải đợi đến khi quyển Vần Quốc-Ngữ của Nhà Đại ngôn ngữ học TRƯƠNG-VĨNH-KÝ chào đời, cùng với sự cộng tác đắc lực của các Học giả kế nghiệp Tiên sinh đã tích cức đầu tư công sức khai thác sâu rộng, phát triển đầy đủ, mới trở thành một Quy Luật Chính Tả nghiêm ngặt, buộc mọi thành phần Văn Nhân Học Sĩ phải tuân hành tuyệt đối, hầu thống nhất một nền Văn Học Dân Tộc, là manh nha thống nhất Dân trí một đất nước, quy tụ thành một ý chí Dân tộc đồng nhất có ý thức quật cường, mới mong củng cố được một tinh thần tiến đến giai đoạn đòi hỏi Chủ quyền Độc lập cho Tổ Quốc Việt-Nam, loại cho bằng được cả Thiên Triều lẫn Mẫu Quốc. Khi đó mới mong thoát khỏi ách nô lệ triền miên luôn đặt trên đầu trên cổ Dân ta từ ngày trái đất mới hình thành, chưa chừng còn kéo dài đến “Ngày Tận Thế” cũng nên, (!) một khi ta chưa có được nền Văn học Độc lập và thống nhất.

Ý thức đó đã được hàng Trí giả bảo trọng và tuân hành thống nhất cho đến ngày nay. Cố Chủ Tịch HỒ-CHI-MINH và Cố Tổng thống NGÔ-DÌNH-DIỆM cũng đã thấy và đặt trọng tâm vào đó từ những ngày còn bôn ba Hải ngoại để tìm con đường cứu nước.

Ngoại trừ sự xuất hiện những phần tử thiểu số thất học, hay vô ý thức mới có biểu hiện phá hoại sự thống nhất Văn học Dân Tộc, còn muốn kéo dài và nhân rộng trong Giáo Khoa cho đến một ngày hoàn toàn đổ nát cả Tiền đồ Tổ Quốc mới thôi.

Tạp chí Văn nghệ, số 11 tháng 4 năm 1958 cũng đã thao thức và nhắc đến những tác phẩm của Tiên Sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ: “Kể cho đến bây giờ, ít có cuốn sách nào cung cấp cho ta nhiều thông tin về ngữ pháp tiếng Việt như mấy cuốn sách không lấy gì làm dày của ông (T.V.KÝ, MV. chú thích). Trong mấy cuốn này không thiếu những phát hiện quan trọng mà ngày nay chẳng mấy ai nhắc đến, trong khi lẽ ra nó phải được những người đi sau tiếp thu và khai triển, đào sâu hơn nữa“. Thay vì phải được nghiên cứu kỹ để khai thác, đào sâu hon nữa, hầu tiếp thu thêm những điều chưa tìm thấy hết, nhưng vì “quá thông thái”, người ta đã sớm đi vào phá hoại, loại dần những nét đẹp tinh tế của nền Văn học Việt-Nam vì không có đủ trình độ hiểu biết cả những nét sơ đẳng nhất của Cái Cốt Lõi trong Văn Học Nước Nhà!

Văn học là một cái gì thâm thúy, tinh vi, tỉ mỉ và tế nhị. Nó được hình thành qua nhiều Thế kỷ, người ta có quyền đề nghị bổ sung để được hoàn chỉnh hơn. Nhưng nếu không qua một quá trình nghiên cứu lâu dài và thật sâu rộng, chưa được thông qua nhiều cuộc Hội Thảo Văn Học quy mô có tầm cỡ Quốc gia, gồm các Bậc Thông thái có đủ tư cách đại diện khối Trí thức Cộng Đồng Dân Tộc, phải có tính hợp lý và đủ sức thuyết phục, được mọi người xác định là sự cần thiết phải thay đổi, thì không một ai được phép tùy tiện tạo ra một sự phá rào về các cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ đã trở thành Nguyên tắc, dù đó là những “Định Luật Bất Thành Văn”.

Luật lệ các nền Văn Học mọi Quốc gia, đầu tiên cũng chỉ là thói quen dụng ngữ và dụng tự ở từng địa phương, lâu ngày tập hợp lại, trở thành Quy ước, dần dà, vô hình chung đã biến Quy tắc Cộng Đồng, sau đó mới trở thành những Luật lệ “Bất Thành Văn” và “Thành Văn”. Những Luật nầy đều có một giá trị như nhau qua từng thời và cho mọi thời. Đó là những Quy Luật tự nhiên từ Bản làng, Bộ Lạc, Dân Tộc, Quốc gia và Quốc tế. Những Định luật tự nhiên đó hầu như bất di bất dịch đối với Nhân Loại. Những Quy Tắc Bất Thành Văn nói chung, đều thuộc phạm vị kinh nghiệm, ăn sâu trong tâm tư tình cảm con người, nên không bao giờ có một ai được quyền tùy tiện ra lệnh thay đổi.

Tôn trọng và bảo vệ Luân Lý, Đạo Đức, Thuần Phong Mỹ Tục, Huyết thống, là những quy tắc đời đời vẫn giữ, đều là những “Quy Luật Bất Thành Văn” của loài người.  Các Quốc gia đã dựa vào đó ban hành những Đạo Luật thành văn. Nhưng Đạo luật thành văn, vẫn là những Luật luôn thay đổi tùy thời, lệ thuộc theo Chế độ Chính trị và theo từng giai đoạn phát triển Xã hội theo ảnh hưởng Kinh tế, Chính trị, Tôn Giáo. Có tội danh là tử hình theo Luật pháp hôm qua, nhưng là án tù hữu hạn hôm nay (tội thâm lạm, biển thủ). Bên nầy là Anh Hùng Dân Tộc được tôn vinh ca tụng, bên kia là Tội Phạm Chiến Tranh bị đưa lên đoạn đầu đài! Những Quy luật Bất thành văn trong Phong tục, Tập quán, Đạo đức, Công bình, Bác ái… không bao giờ thay đổi theo thời.

Như thế các cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ cũng đã bị nhiều Quy tắc Bất thành văn  do kinh nghiệm gọt dũa qua thời gian dài, đã trở thành niêm luật tuyệt đối. Các Nhà Văn Hóa Tiền Bối, các Nhà Thông Thái tầm cao, các Học Giả thời danh, các nhà Trí thức kiệt xuất, đã vẫn tuân hành đúng quy tắc bất thành văn của G/sĩ ĐẮC-LỘ để lại. Học giả NHẤT-LINH và Nhóm TLVĐ của Ông đã không hề dám thay đổi quy tắc truyền thống cấu trúc bất khả xâm phạm của Chữ Tân-Quốc-Ngữ, một nguyên tắc bất di bất dịch xưa nay. Nhóm Thất-Tinh-Hội nầy chỉ nghiên cứu thêm nguyên tắc sử dụng “gạch nối” trong Danh xưng, như đã sử dụng gạch nối thống nhất trong các danh từ Việt hóa và Địa danh, họ đã đề nghị bổ sung “gạch nối” cho các “Tên, Họ, và Chữ Lót” của các Nhân vật. Tuy không một ai dám chấp nhận, nhưng cũng không bị đối kháng (Antagonistic), nên dần dà đã được sử dụng gần như đều khắp trên cả nước từ trước thập niên 40 của Thế kỷ XX.

XV. CÔNG-TỘI VỀ AI ?

Qua 2 Bài Báo, một của “GsTs” PHẠM-VĂN-HƯỜNG với nhan đề “Đi Tìm Nguồn Gốc Chữ Quốc Ngữ” trên báo Lao Động Chủ Nhật 7.1.2007, và một của Tác giả BÙI-KHA, thuộc Nhóm “Trí Thức” Giao Điểm, với nhan đề “Alexandre de Rhodes: Công và Tội?”, đăng trên báo Hồn Việt số 17, tháng 11.2008. Cả 2 Tác giả đều đã sử dụng một giọng văn xúc phạm, cộng thêm hàng loạt từ ngữ thô lỗ, hỗn tạp đến vô văn hóa như nhau. Cũng kẻ một cân, người 8 lạng! Dẫu muốn phô trương, cũng cần phải chừng mực, nếu tự cho mình là người trí thức. (Xin đọc thêm “Trang Phụ Lục” đính kèm, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn).

Gần suốt 4 Thế kỷ qua, Văn Học Sử Việt-Nam đã đánh giá thế nào về quá trình xây dựng nền Văn Học Viêt-Nam của G/sĩ ĐẮC-LỘ? Với 21 năm trách nhiệm truyền giáo tại Viêt-Nam, G/sĩ ĐẮC-LỘ dồn hết tâm lực, nghiên cứu Mẫu tự La-Tinh để viết thành Chữ Việt như các Giáo Sĩ Dòng Tên đến trước đã khởi động ở giai đoạn đầu. Nhưng thực sự G/sĩ ĐẮC-LỘ chỉ truyền giáo trực tiếp trên Lãnh thổ Việt-Nam chưa quá 11 năm. Như thế G/sĩ đã có 10 năm lơi bơi tại Áo Môn, là thời gian để Ngài đầu tư nghiên cứu Chữ Việt sâu rộng hơn các Giáo sĩ đồng thời. Nhưng tính đến ngày Tàu cập bến La-Mã 1649 để được triều yết ĐTC INNOCENS X, là cơ hội rà soát Công trình nghiên cứu Chữ Việt cũng đã 25 năm. Vì thế G/sĩ ĐẮC-LỘ đã hoàn chỉnh trọn vẹn một hệ thống ghép Vần tiếng Việt rất tỉ mỉ, chi li, súc tích, còn đơn giản hóa Văn phạm Việt-Nam thật gọn nhẹ, tránh mọi công thức rườm rà như các hệ thống Văn Phạm Tây-Âu đã có, rõ ràng là điều các G/sĩ khác không thể thực hiện trọn hảo hơn Ngài.

Văn Phạm G/sĩ ĐẮC-LỘ soạn thảo, không có quá nhiều Quy tắc và rất ít Luật trừ. Điều đó đã được các Nhà Ngôn ngữ học trong cũng ngoài nước ở mọi thời cảm nhận được, cách riêng là Tiên sinh TRƯƠNG-VĨNH-KÝ, một Nhà Đại Ngôn Ngữ Học Thế giới. Điều đó đã đủ trả lời cụ thể. Hàng Trí giả đương thời như PHAN-PHÁT-HUỒN, BÙI-ĐỨC-SINH, HOÀNG-LẠI-GIANG, PHẠM-ĐÌNH-KHIÊM, THANH-LÃNG, NGUYỄN ĐÌNH-ĐẦU đều đã ca tụng, tôn vinh G/sĩ ĐẮC-LỘ là một Bậc thầy duy nhất của Dân Việt.

Nếu còn phải kể thêm hàng loạt Nhà Nghiên cứu khác – chỉ trừ các lớp bình dân vô học mới không nghe danh biết tiếng – đều là những Nhân vật vượt trổi hơn hàng Sư phụ của Tập đoàn nhóm GsTs Giao Điểm nầy, như NGUYỄN-VĂN-TỐ, DƯƠNG-QUẢNG-HÀM, LÊ-NGỌC-TRỤ, NGUYỄN-VĂN-NGUYÊN, HOÀNG-XUÂN-VIỆT, HỒ-TUYẾT-MAI, vv… Đặc biệt Cố Thủ-Tường VÕ-VĂN-KIỆT và Phó Thủ Tướng NGUYỄN-KHÁNH cũng đã từng đánh giá rất cao Nhân cách cũng như trình độ uyên thâm có tính Bác học của G/sĩ ĐẮC-LỘ đã thể hiện trong các Tác-Phẩm của Ông. Đã hơn một lần các Ngài từng phát biểu trong hội thảo và nhiều nơi khác với tất cả lòng ngưỡng mộ, tôn kính và khâm phục.

Chỉ so với các nhà nghiên cứu nói trên thì “GsTs” PHẠM-VĂN-HƯỜNG và Tg. BÙI-KHA, cộng với Nhóm Giao Điểm Hoa-Kỳ đã chẳng là gì. Chưa đáng xếp bút nghiên, mài mực, chế trà, dâng nước! Chưa tính đến các Bậc Thầy thuộc hàng Tiền bối của Xã Hội Chủ Nghĩa ngày nay như Gs. CAO-XUÂN-HẠO, NGUYẾN-LÂN, NGUYỄN-DUY-QUÝ, VŨ KHIÊU…… là các Nhân vật Văn hóa Dân tộc tầm cao thời nay, cũng đã không tiết kiệm danh từ và dè dặt lời nói khi đề cao G/sĩ ĐẮC-LỘ.

Xin lỗi, chúng tôi bắt buộc phải so sánh với những ngôn từ cụ thể như thế, để chứng minh lối ăn nói quá hồ đồ, trịch thượng của BÙI-KHA đối với hàng Sư phụ của các Bậc Sư phụ BÙI-KHA và TRẦN-CHUNG-NGỌC, mà không biết tỷ thân, cũng như lối ăn nói hồ đồ xúc phạm đến cả Cố G/sĩ ĐẮC-LỘ ngay cả trên tạp chí Hồn-Việt số 17, tháng 1/2008. Thực tâm chúng tôi không hề muốn hơn thiệt với BÙI-kHA, cũng không có đủ trình độ để hơn thiệt với nhóm Giao Điểm, chỉ muốn nhắc nhở họ phải biết tỷ thân, đồng thời cũng để rộng đường dư luận.

Bởi lẽ BÙI-KHA đã viết một cách thẳng thừng rằng: “Hầu hết các Nhà Nghiên Cứu chưa đọc hết các tác phẩm của Đắc Lộ. Đặc biệt là cuốn Hành trình và Truyền giáo, Lời nói đầu cuốn Từ điển Việt-Bồ-La và cuốn Phép giảng tám ngày…” Thì chúng tôi có là gì còn dám vung đao múa bút! Cũng thế, trong “Nguyễn-Trường-Tộ: Thực Chất Con Người Và Di Thảo” của NGUYỄN-KHA và TRẦN-CHUNG-NGỌC(NTT: NK&TCN), Giao Điểm xuất bản năm 1998 cũng với giọng văn quá tự tin và trịch thượng: “Chúng tôi tin rằng, trong cuốn NTT: NK&TCN, với nhiều tài liệu dẫn chứng mà có lẽ quý vị học giả bên nhà chưa biết đến (!!!). Chúng tôi xin lặp lại rõ nét hơn!

Với cái nhìn của NGUYỄN-KHA và TRẦN-CHUNG-NGỌC đã đánh giá quá ngây thơ và chủ quan trên đây, đã tỏ ra rằng, ai muốn làm thầy thiên hạ, ít nhất phải có trình độ như KHA-NGỌC và nhóm Giao Điểm. Ngoài nhóm Giao Điểm ra, các “Học giả bên nhà” cũng tầm tầm là “cá mè một lứa”. Tất cả kiểu làm thầy thiên hạ hiện nay, cũng chỉ là sự học đòi kiểu viết lách nhà vườn ở tận vùng sâu vùng xa, thì không cần trình độ trí thức căn bản nào, nên không hiểu thế nào là Văn Học, Văn Hóa, Văn Dốt, Văn Lùi. Đó là những kẻ ngu ý hơn cả NGU-Í Dưỡng Trí Viện của Thế Kỷ XX vẫn làm được, không cần phải có đủ trình độ mới là Bộ Trưởng nầy, Tổng Trưởng nọ. Vì theo họ, thực chất đã có nhiều tài liệu dẫn chứng mà có lẽ quý vị học giả bên nhà chưa biết đến”. Sự đánh giá nầy, có thể là đúng với Tập Thể Học Giả Bộ GD&ĐT, nhưng không thể vơ đủa cả nắm đối với hàng chục Nhà Văn hóa Bậc Thầy như chúng tôi sẽ đơn cử phần sau.

Xét về phương diện nào, ta cũng  có thể thấy đó là một trong những biểu hiện thoái hóa “xã hội trí thức”! Không trách Cụ LƯU-CÔNG-THÀNH, đại diện lớp Cán bộ Hưu trí Cách Mạng và những người quan tâm đến sự tồn vong của đất nước, đã phải thét lên: “…..băng hoại đạo đức xã hội, lối sống suy đồi, đánh mất bản sắc văn hiến cha ông… những thứ mất đi là không thể nào lấy lại, hoặc có lấy lại cũng mất rất nhiều thập kỷ, thậm chí là hàng thế kỷ. Điều đau đớn là những thứ mất đi này chính là cội rễ, là nguồn lực để đất nước phát triển đã bị mất đi. Đất nước mất đi những điều thiêng liêng quý báu đó, để đổi lại gì? 

Truyền thống các vị Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục đều có Học hàm Học vị Cao Học xuất thân từ các Viện Hàn Lâm Tây Âu cả. Kể đến GsTs NGUYỄN-VĂN-HUYÊN làm Bộ Trưởng lâu năm nhất trong ngành Giáo dục, vẫn là một Nhà Sử học, Nhà Dân tộc học, Nhà Giáo dục, Nhà Nghiên cứu Văn hóa Việt-Nam, cũng đã nhận định được Nền Văn Học Hiện Đại có giá trị đến mức nào. Vì thế GsTs NGUYỄN-VĂN-HUYÊN đã hết sức bảo toàn Giá trị thiêng liêng của nó cho đến ngày trao ngôi cho người kế nhiệm Gia sư NGUYỄN-THỊ-BÌNH, thì quả là không tưởng! Cờ đã về tay, Bà mặc tình phất theo trình độ văn hóa của mình trong Thiên chức điều hành một Bộ Giáo Dục Quốc Gia! Hậu quả sẽ thế nào là điều không cần thắc mắc.

Phải chăng Bà BÌNH đã cảm nhận được đó là loại “Chữ Ngoại Lai”, bị áp đặt theo một phong cách phi dân tộc, với lối ghép vần ngớ ngẩn không giống ai, khác với hàng nội hóa, phải biến tất cả thành cây nhà lá vườn? “Ta về ta tắm ao ta, dù trong, dù đục, ao nhà đã quen”? Chúng tôi nhớ mang máng như cố Ct. HCM có nói một câu bất hủ: “Tích cực cộng với ngu dốt là phá hoại”!

Có những câu khẩu hiệu được canh vẽ trên nhiều trường trại rất đáng trân trọng: “TẤT CẢ VÌ MỘT NỀN GIÁO DỤC TIÊN TIẾN, MANG ĐẬM BẢN SẮC DÂN TỘC”. Chương trình Cải cách Bộ GD&ĐT ngày nay là tạo một nền Giáo dục Tiên tiến hay thụt lùi? Hơn ai hết, G/sĩ ĐẮC-LỘ là người duy nhất đã hoàn chỉnh một hệ thống cấu trúc Chữ Việt tiến bộ đến vượt bậc có đầy đủ “Bản Sắc Dân Tộc Việt-Nam” đến tuyệt đối. Đạp đổ nó đi để theo chương trình cải cách Giáo dục THỊ-LANH : “Dỗ Tổ”, “Cây Lêu”, còn thêm “Fan”, “Logo”, “Việt-Nam Đồng”… có là “Tất Cả Vì Một Nền Giáo Dục Tiên Tiến, Mang Đậm Bản Sắc Dân Tộc” hay “Mang Đậm Bản Sắc Phi Việt”?Một nền Văn học Tiên tiến và mang nặng một bản sắc Dân tộc là đây sao ? Mĩa mai thay! Chủ trương cải cách của Bà Bộ trưởng Giáo dục NGUYỄN-THỊ-BÌNH đã đưa đến kết quả ngày nay, thừa đủ chứng minh trước bàng quan thiên hạ.  

Tiếp đến Vị Kế nhiệm Bà là Giáo sư PHẠM-MINH-HẠC, một Viện sĩ, Chủ tịch Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt-Nam, xứng đáng là một Bậc Thầy của các Bậc Thầy, nhưng tiếc thay, Giáo sư Viện sĩ cũng không cảm nhận được cái tinh túy cách ghép vần Chữ Việt hơn vị Tiền Nhiệm, với trình độ chưa đáng học trò mình! Đã không điều chỉnh lại nề nếp Chính tả trên nguyên tắc Giáo Khoa mình đang là Lãnh đạo! Vẫn buông xuôi bỏ lửng để bảo vệ một chức danh hư ảo, để mặc tình ai lộng hành phá hoại, đó mới là điều lạ dây chuyền!

Với trách nhiệm Lãnh đạo trên lĩnh vực Văn Hóa, Đạo Đức phải gạt bỏ mọi hình thức nể nang bạc nhược, đừng lặp lại lời than trách của Nữ sĩ HỒ-XUÂN-HƯƠNG:

“Cả nể cho nên sự dở dang!

“………………………………………..

“Quản bao miệng thế lời chênh lệch,

Vâng, chỉ vì cả nể nên Ngài Bộ Trưởng cũng chẳng cần gì đến miệng tiếng, cũng không quan tâm mấy đến sự tai hại của một nền Giáo Dục Nước nhà!

Họa hiếm lắm trên thế giới mới may ra có một tư tưởng thông thoáng và tiến bộ về việc bổ nhiệm Bộ Trưởng, kể cả Bộ “Giáo Dục và Đào Tạo” không nhất thiết phải xuất thân từ Đại học. Chỉ cần có trình độ tầm cỡ “Học Giả” như MINH-VÂN đã đủ sức bao trọn gói một nền Văn Hóa Nước Nhà! Nhưng tiếc thay, với tầm cỡ Văn hóa nầy, thì tìm đâu ra cái nhìn xa hơn lỗ mũi và thoát ra khỏi họp sọ bé tí teo của một Vị Bộ Trưởng “phi thường”!

Mong sao các Ban bệ Bộ ngành Giáo Dục cần biết rõ khả năng trình độ bản thân, đừng giơ tay quá với, đừng dài tay xâm xỏ đến những lãnh vực vượt quá trình độ của mình và quyền hạn cho phép, đừng vẻ vời hình ma bóng quỷ. Các Cô Thầy phải là những nhà “Mô Phạm” đúng nghĩa có trình độ chuyên môn, có ý thức đào tạo thế hệ trẻ trở thành lớp con em trí thức. Đừng biến lớp trẻ thành người ngợm, chỉ biết chạy mánh, làm dịch vụ bán chữ theo kiểu thầy đồ nhà vườn. Chấm dứt việc sáng tạo những bức tranh Văn học lố lăng ô nhục, vô văn hóa để ngày mai con em khỏi nhớ đời và ghi tên vào những “Trang Sử Văn Học Việt-Nam”.

Như chúng tôi đã trình bày, việc viết lách và nhất là phát âm tiếng Việt – mặc dù không cố ý đề cao địa phương nầy, bôi bác địa phương khác – thì giới trí thức cũng đều phải nhìn nhận rằng, ngoài Cư dân Nội thành Thủ Đô Hà-Nội, còn cư dân các Đô thị Miền Bắc, kẻ cả dân cư ngoại ô và ven ranh Thủ đô, cũng chỉ phát âm tiếng Việt tương đối đúng hơn người Miền Trung và Nam Bộ phần nào mà thôi. Đặc biệt chỉ có hàng “Trí thức tầm cỡ” trên mọi miền đất nước, tuy không phát âm được chuẩn xác, nhưng cũng đã nhận định rõ ngữ âm trong cách viết Chính tả xưa nay. Không bao giờ lẫn lộn giữa iy, có g và không g được hình thành như G/sĩ ĐẮC-LỘ đã phát hiện. Chúng tôi không hề dám múa rìu qua mắt thợ trước Tiến sĩ PHẠM-VŨ-LUẬN, Bộ Trưởng GD&ĐT đương nhiệm. Tiến sĩ đã cảm nhận cách sâu sắc, chính xác hơn chúng tôi cả trời vực ở điểm nầy rồi.

Đã thế, nhưng hiện nay vốn không thiếu những phần tử lợi dụng sự dễ giải của Quy dịnh i và y, đâm ra chơi ngông, đã cải đổi nhiều Phụ Âm đến phức tạp, gọi là đơn giản hóa Chính tả như “Kải Kách” (cải cách),  “Kó kông” (có công), “qanh qẩn” (quanh quẩn), “fân fát” (phân phát), “ỷa đái” (ỉa đái), “i thỵ” (y thị) … (!!!) thật vô tư ! Họ rất đầy tỉnh táo với một vẻ mặt hao hao tự đắc, rất ư là hãnh tiến khi viết như thế trong các công trình Nghiên cứu, như đòi phải được đưa vào Hệ thống Giáo Khoa theo sáng kiến của họ trong đào tạo Văn hóa, Văn học Dân Tộc. Thay vì nghiên cứu (to research) Giáo khoa, Tập đoàn ĐẶNG-THỊ-LANH ta đã biến thành “ngâm kiếu” Giáo Khoa, biến Văn hóa thành “Văn Lùi”. Họ muốn “trở về nguồn” cùa thời Chữ Việt sơ khai, họ muốn ngu dân hóa để trở về với Bản sắc Dân tộc của Nghìn năm Nô lệ!

Trên một vài Trang Mạng giao lưu Quốc tế cũng đã xuất hiện những văn bản Việt ngữ loại nầy, mà Tác giả của nó có lẽ cũng không thiếu học thức, như :

“Một hình ãnh dang gây sự tò mò cũa khách xem zã thú.

 “Tại một trại chăn nuôi thú vật hoang zã, tới bữa ăn, chú beo dang dược người ta ném thức ăn vào, nhưng từ dâu không biết một chú chuột nào dó koai bộ doái lắm dã dến ăn miếng thịt cũa mèxừ beo to gấp trăm lần chú chuột kia.

“Mèxừ beo kãm thấy lạ chĩ dưa bàn tay gạt chú chuột mấy lần nhưng chú chuột chẵng lưu tâm..kứ tiếp tục zùng bữa.

“Chú chuột muốn cho mèxừ beo biết anh ta không fãi là xếp ỡ dó”.

Chỉ bài viết nầy, chúng tôi cảm nhận được ý Tác giả muốn lấy phụ âm Z thay D và lấy D thay Đ, điều nầy xem ra hợp lý, nhưng chưa được chấp nhận, có thể Tác giả muốn sử dụng để gây sự chú ý của Cộng Đồng người Việt. trong khi tác giả lấy K thay C như koai (coi), kãm, kứ, lấy dấu Ngã thay Hỏi như cũa kãm. Chúng tôi không dám đánh giá Tác giả nầy có phải là Học trò nhóm Cải Cách Văn Học hiện đại trong chương trình Giáo Khoa của nhóm ĐẶNG-THỊ-LANH, hay Tác giả cũng là thành phần đối nghịch NGU-Í NGUIỄN-THỴ-PỲNH? Nhưng dù gì, đây cũng vẫn là một dấu ấn đáng phải quan tâm.

Nếu viết sai bậy vì cô chấp, tạo sự phá hoại hệ thống Chính tả Việt-Văn, ngoại trừ mọi sơ sót vô tình, thì không còn là vấn đề cho ta phải đặt ra nữa. Sau ngày có Quy định lấy i thay y của Bộ GD&ĐT ra đời. Còn có nhiều “Tác phẩm” nên thơ hơn, quái đản (monstrous) hơn, chúng tôi không dám trích dẫn thêm, đau lòng lắm! Họ đã xé nát Chữ Tân-Quốc-Ngữ theo những cách viết tự do của họ… Điển hình nhất là các Ban bệ trong hàng ngũ Giáo dục đã soạn thảo Sách Giáo Khoa và Cơ quan Kiểm Duyêt Nhà Nước đã đưa loại sách nầy vào chương trình Giáo Khoa 2012-2013, Họ đã để lộ nguyên hình là một Tập Đoàn “Thông Thái”.

XVI. TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN HẠN CỦA BỘ GD&ĐT

Đành rằng Chính tả tiếng Việt khá chi li, các Văn hào, Thi sĩ lắm khi cũng vẫn mắc phải đôi thiếu sót vô tình khó tránh trong Chính tả. Nên việc đơn giản hóa cách viết, mới nghe ra cũng là điều hợp lý.

Ngày nay đã xuất hiện một “Nhân vật Thiên tài”! Tuy ít học nhưng đã lãnh đạo được một Bộ GD&ĐT, đã có thừa bản lĩnh dám cải cách, thay đổi các cấu trúc Chữ Tân-Quốc-Ngữ cho đơn giản hơn, văn minh hơn, tiến bộ hơn. Tưởng chừng với quyền hạn sẵn có, mình có đủ tư cách buộc mọi người, toàn khối Dân Tộc phải cúi đầu tuân phục. Tất cả Đất nước này sẽ tôn xưng là “Thầy các Bậc Thầy Thiên hạ”, tên tuổi sẽ sớm được đi vào Lịch sử Văn Hóa Việt-Nam!

Dẫu có những sáng kiến tuyệt diệu hơn, lý giải hợp lý hơn, súc tích hơn, thâm thúy hơn, gọn nhẹ hơn, Bộ GD&ĐT cũng không có quyền tùy tiện thay đổi một quy tắc nào trong cấu trúc chữ Việt một cách đơn phương ngoài trách nhiệm duy nhất là phải bảo toàn nền Văn học của Đất nước chu toàn. Mọi thay đổi đơn phương là xâm phạm tinh thần Dân tộc nặng nề và nghiêm trọng. Một khi Tác giả, hay người thừa kế Quyền Tác giả chưa chấp nhận, không một ai được phép nhúng tay bôi bẩn Tác phẩm đó bằng bất cứ hình thức nào và dưới bất cứ quyền lực nào. Như chúng tôi đã trình bày trước: “Việc biếu tặng, bán mua không có nghĩa đã mất quyền Tác Giả. Một Bức họa, một Bản nhạc, Bài thơ do mua bán hay biếu tặng, thậm chí đã bán Bản quyền cho Nhà Xuất Bản, chủ sở hữu có quyền xé đốt, bỏ sọt rác, gói bánh kẹo, thậm chi làm giấy vệ sinh, nhưng không được quyền tùy tiện canh vẻ, bôi phết, chỉnh sửa, thêm bớt vào tác phẩm đó bằng bất cứ hình thức nào. Đó là hành động vi phạm Quyền Tác Giả. Chưa nói việc  phá hoại một hệ thống Văn Học Dân tộc là một tội phạm nghiêm trọng, Công luận không thể bỏ qua, Luật Pháp không thể buông tha, Lịch sử không thể ém nhẹm”.

Tính tôn trọng Quyền Tác giả, trước khi chọn bản nhạc Tiến Quân Ca làm Quốc Thiều Việt-Nam, có sửa một vài lời trong bản nhạc, cố Ct. HỒ-CHI-MINH cũng đã triệu vời Nhạc sĩ VĂN-CAO đến để hỏi ý kiến, đúng nghĩa là “xin phép”. Đó là những hiện tượng cụ thể và nổi bật nhất của một Danh nhân, một Yếu nhân, một Nhà Trí thức.

Một Bộ Trưởng GD&ĐT nhà nước CHXHXHCNVN lại dám xâm phạm Quyền Tác-Giả của G/sĩ ĐẮC-LỘ. Quyền tác giả xưa nay vẫn được bảo vệ một cách nghiêm ngặt trên phạm vi Quốc Tế. Bà NGUYỄN-THỊ-BÌNH đã bất chấp tinh thần tôn trọng quyền Tác giả theo tinh thần Cố Chủ Tịch HỒ-CHÍ-MINH, Vị Lãnh Tụ một Đất nước, quả thật “Con hơn Cha, bao giờ cũng là Nhà có phúc”!

Bất cứ Quốc Gia nào đã có giao dịch Quốc tế, có một Cộng đồng Dân Trí cao, vượt ra ngoài ranh giới Bộ Lạc, đều hiểu rõ sự ràng buộc Công Pháp Quốc Tế về Quyền Tác giả, cách riêng là các nước thành viên LHQ. Đó là nguyên tắc mà hàng Trí thức, các Nhà Văn hóa, các Cơ quan Giáo Dục, dù tồi tệ đến mức nào trên nguyên tắc cũng phải biết căn bản tối thiểu Quyền Tác giả đã được Công Pháp Quốc Tế bảo vệ.

Người ta đã không lường trước được rằng việc đơn giản hóa hệ thống Văn Học nước Nhà như một hình thức Cách Mạng Văn Hóa, thiếu chuyên môn, vô nguyên tắc, cả vô tình lẫn cố ý, đều dẫn đến sự đổ vỡ nền Văn Học Nước Nhà. Đã lắm “Học Giả” không vì tính khôi hài như một Tác Giả đã viết nhại: “Rân ri cư như ra đình tui” (Dân di cư như gia đình tôi)…. nhưng trái lại, họ đã, đang và sẽ còn viết rất ư là thật trong nhiều văn bản với nhiều kiểu cách Cải Tổ Chữ Tân-Quốc-Ngữ không chỉ mỗi việc lấy “i” thay “y” như Quy định của Bộ GD&ĐT, nhưng còn sinh ra nhiều phức tạp khác. Quy định vô nguyên tắc đó đã đưa đến nhiều hậu quả ngày nay.

Là các nhà trí thức tầm cao đã được đào tạo văn hóa đến nơi đến chốn và các Nhà Giáo được “xuất lò ” từ các trường Sư Phạm Hà Nội mới phát đúng âm tiết tiếng Việt, ít nhất là khi đọc chính tả. Còn dân các tỉnh khác, đều phát âm tùy tiện và hầu như sai lệch đến 20-30% thậm chí còn hơn thế nữa. Lớp người it học thường viết theo âm giọng bản địa, lẫn lộn các phụ âm đầu giữa dr Phát-Diệm thành Riệm, theo dõi thành rõi ; l = nh, chẳng lẽ thành nhẽ ; l = n đi làm thành nàm ; s = x và ngược lại x = s, tr = ch, r = gi như rời rả thành giời giả, … Phụ âm c và t. n và ng sau nguyên âm đều phát lẫn lộn như nhau. Đã đánh mất sự chuẩn xác “âm giọng tiếng Việt”.

Nhà Trí thức kỳ cựu HOÀNG-XUÂN-VIỆT, một trong các nhà nghiên cứu Lịch sử Chữ Tân-Quốc-Ngữ, trong Tác phẩm “Tìm Hiểu Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ”, Tiên sinh đã phân tích: “Từ điển của Đờ Rốt (DE RHODES, tức ĐẮC-LỘ, MV chú thích) được đánh giá cao về ngữ âm là vì qua 10 năm sống ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoàiông đã tỉ mỉ ghi lại cách phát âm tiếng Việt từ giọng nói phổ thông, giọng nói thành thị cho đên giọng nói khác nhau ở các địa phương. Trong nhiều tác phẩm khác, kể cả cuốn Phép giảng tám ngày, Đờ Rốt chỉ dùng một cách viết cho một cách phát âm nào đó thôi. Nhưng trong Từ điển Việt-Bồ-La, ông đã dùng hệ thống âm vị Ý-Bồ để ghi âm chính thức trước, rồi phụ chú thêm về những cách phát âm khác có thể có. Chẳng hạn, khi xem chữ Muaai (cột 487), thì thấy có ghi thêm: “V. muối” (V. chữ tắt đt. Vide, La-Tinh có nghĩa hãy xem. MV)… hoặc chữ đất có ghi thêm: “Alii. đết” (người khác đọc là Đết)……

“Về mặt ngữ âm, từ điển của Đờ Rốt không chỉ cho ta  biết về tiếng nói từ  thế kỷ 17, mà còn là tiếng nói từ trước thế kỷ 17 nữa. Qua cuốn từ điển nầy chúng ta có thể biết được những cách phát âm sai biệt ở các địa phương để phục vụ việc nghiên cứu ngữ âm đồng đại và xuyên đại“.

Từ điển Việt-Bồ-La chẳng những đã phân tích rõ ràng và tỉ mỉ ngữ âm của các địa phương, còn cộng thêm nhiều nội dung ít tìm thấy trong các Từ điển khác, nên các nhà nghiên cứu đã gọi đó là một quyển Từ điển Bách Khoa tiếng Việt và cũng lần đầu tiên một Từ điển tổng hợp tiếng Việt xuất hiện trên thế giới.

Xin nhấn mạnh một lần nữa, ta phải xác định cách rõ ràng, chỉ có cư dân Nội thành Hà-Nội không lai tạp luôn phát âm chuẩn xác âm giọng tiềng Việt mà thôi. cách riêng từng âm “i” (với đoản thanh, ngắn và nhẹ) khác với “y” (có trường thanh, dài và nặng hơn). Dấu “hỏi” có âm tiết “khứ” (cao và vút đi), dấu “Ngã” có âm tiết “hồi” (trầm và lùi lại).

Các phụ âm đứng sau nguyên âm là “c”, “t”,“g” không “g”, đều được phân biệt rất rõ ràng rành mạch với âm ngắt và âm buông. Nếu ai chủ ý, thử lắng nghe người Hà-Nội chưa lai tạp âm giọng, chắc chắn sẽ phát hiện rõ ràng được từng chữ “i” và “y”, “c” và “t”, “có g” và “không g” cũng như các dấu “hỏi”, “ngã” trong âm ngữ tiếng Việt.

Ngoài cư dân gốc nội thành và sanh trưởng tại Hà-Nội ra, còn cư dân ngoại ô và ven đô thành phố, cũng như các địa phương khác không mấy ai có căn bản phát âm chuẩn xác tiếng Việt, nếu không được các Nhà Sư phạm Hà-Nội đào tạo.

Bản thân chúng tôi cũng chỉ biết nghe, cảm nhận và phân biệt được như thế, nhờ kinh nghiệm qua giao dịch và tiếp xúc, nhưng nói và viết cũng sai bét không khá hơn ai, ngay cả trong bài viết nầy, không hẳn đã hoàn toàn tránh khỏi nhiều sai sót. Viết chính tả đúng sai,  nếu không do người Hà-Nội đọc, đều tùy thuộc vào căn bản học Vần của các em, chứ không do sự cảm nhận giọng đọc của các Thầy Cô. Điều đó, đại đa số các nhà Văn hóa chuyên biệt và hàng Trí thức tầm cao, có trình độ nghiên cứu văn học đều nắm vững.

Tuyệt đối không phải do ngẫu hứng mà Giáo sĩ ĐẮC-LỘ đặt ra nhiều quy tắc rắc rối, để rồi ai muốn tùy tiện thay đổi theo ý thích. Mong Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cần nghiên cứu lại kỹ hơn và điều chỉnh gấp lối viết Chính tả trong Giáo trình Học Đường cho chuẩn xác. Nếu các Quan lớn trong ngành Giáo Dục không được sinh ra tại “Hà-Nội Nghìn Năm Văn Vật”, hãy thăm dò các Nhà Giáo Hà-Nội để nắm vững nguyên tắc phát âm giữa I và Y, thì Quý Ngài sẽ hiểu. Không có vấn đề phát âm bừa bãi, viết lách tùy tiện như dân ít học. Không có quyền buộc mọi người phải tuân hành một luật lệ vô nguyên tắc, soạn sách Giáo Khoa như tùy tiện, chận đứng mọi sự lộng hành lộ liễu sự dốt nát trong ngành Giáo dục, để không phải tự thẹn với chính bản thân và con cháu mình trong chức danh nghiệp vụ Giáo Dục, cả khi về bên kia thế giới.

Tại Pháp, chỉ có người dân Ba-Lê mới phát âm đúng giọng Pháp, chỉ có các nhà trí thức xuất thân tại các trường học tại Thủ đô Pháp mới nói được giọng “Parisien”, giọng nói chuẩn của nước Pháp! Nước Pháp đã có một “Hàn Lâm Viện Văn Chương” (HLV/VC)Pháp.Các Thành viên Viện nầy đều được bầu chọn từng nhiệm kỳ trong hàng Học Giả, các nhà Văn hóa, các nhà Ngôn ngữ học, các Viện sĩ Hàn Lâm. Viện Hàn Lâm nầy, trên mặt pháp lý, đã chính thức hình thành là một Cơ quan “Lập Pháp” Văn học Nước Pháp. Một cơ quan duy nhất có quyền hạn (authority) định đoạt việc bổ sung, chỉnh sửa, thêm, bỏ hoặc thay thế một danh từ trong Từ điển Pháp mà thôi. Không một Quốc Hội, một Bộ Văn Hóa, một Bộ Giáo Dục, một Chính Phủ nào có quyền động đến Văn Học Pháp như Bộ Trưởng NGUYỄN-THI-BÌNH thời “A Còng” nầy.

Đơn cử danh từ người Pháp chỉ về trọng lượng, ngày trước vốn là “Pois”. Các nhà nghiên cứu cho rằng nguyên gốc La-Tinh vốn là pondus, nên phải thêm d vào sau i để giữ nguồn cội, nên pois đươc đổi thành “poids”. Sau đó người ta tìm gặp từ “pensum” (cũng có hàm nghĩa trọng lượng, không có d), thì pois ngày trước thiếu d vẫn không sai. Nhưng Hàn Lâm Viện Văn Chương Pháp không có quyết định thay đổi lại. Poids vẫn còn sử dụng như một nguyên tắc bắt buộc. Dù Bộ Giáo Dục, Quốc Hội, Chính Phủ Pháp có muốn đổi lại vẫn vô quyền. Pois chỉ còn một nghĩa là Đậu Hà-Lan mà thôi.

Bộ Giáo Dục & Đào tạo Nhà Nước CHXHCNVN, nói chung, về phương diện Văn học, cũng chỉ là một Cơ quan “Hành pháp” trong phạm vi Giáo Khoa mà thôi, không có quyền hạn như một Cơ quan “Lập pháp” thuộc hệ Văn học. Không có một quyền hạn gì để thêm, bớt, thay đổi, đồng ý hay không trong mọi cấu trúc Chữ Tân Quốc-Ngữ. Đó là một nguyên tắc tất yếu. Xin hãy phân định rõ ràng, đừng nên dài tay quá thành lố bịch như một cầu thủ lộn sân chơi, dễ bị người đời coi thường khinh dể!

Quả nhiên một NGU-Í, sinh quán tại Tam Tân (nay là xã Tân Tiến), thị xã La-Gi, Bình-Thuận. Cũng như các tỉnh thành khác xa Hà-Nội, truyền thống chưa bao giờ có một căn bản phát âm chuẩn Việt. 20 tuổi, đã phải nhập Bệnh viện Chợ Quán, và vĩnh biệt cỏi đời tại Dưỡng Trí Viện Biên-Hòa. Thì chuyện chơi ngông chả mấy ai quan tâm, không ai thèm phê phán. Một “Nhân Vật” như thế, làm gì có đủ sáng suốt, đủ lý trí tham khảo nghiên cứu một nền Văn học thuộc phạm vi các Nhà Văn hóa chuyên nghiệp. Hội Chứng NGU-Í chỉ dành cho lớp người có biểu hiện thất thường  đã khá nặng!

Đã không thiếu Tác giả đánh giá cao tinh thần NGUYỄN-HỮU-NGƯ nặng tình yêu nước cao độ, rất quan tâm vấn đề phát triển văn hóa cho lớp Bình dân thất học. Nhưng không ai không thấy rằng bởi “bất bình vì cách học vần từ thuở nhỏ”, cho nên ông đã hăng hái đề nghị cải cách như Chữ Tân-Quốc-Ngữ. Ông đòi lấy một âm i không sử dụng y, âm gi chỉ viết một chữ j, âm qu chỉ viết mỗi chữ q mà thôi v.v. và v.v… Nhưng công trình Cách mạng Văn hóa của Ông không được ai chấp nhận, ông trở nên uất hận, bất cần đời, khiến tâm bệnh Ông ngày thêm trầm trọng. Do đó mọi lời ca tụng về Ông thật trân trọng và chân tình của Tác giả, cũng đã biểu lộ sự pha trộn lòng thương hại và hối tiếc:

Trong Hồi Ký, Học giả NGUYẼN-HIẾN-LÊ đã viết: “Anh (Nguyễn Ngu Í) căm phẫn xã hội, căm phẫn thời đại, căm phẫn mọi người. Anh có nhiều lý tưởng, nuôi nhiều mộng cao đẹp mà gặp toàn những điều bất như ý, cứ phải cố nén xuống và sức nén càng mạnh thì sức bùng ra cũng càng mạnh… Ông là một cuộc đời đau khổ nhất và cũng đặc biệt nhất trong giới văn nghệ sĩ hiện đại”.

Nhà văn SƠN-NAM thì “Nguyễn Ngu Í là một nhà văn nổi tiếng yêu nghề và yêu nước, luôn xót xa vì chuyện đất nước chia đôi. Dường như cả một đời dạy học và hoạt động báo chí ở Sài Gòn, Nguyễn Ngu Í lúc nào cũng trong trạng thái nửa tĩnh nửa điên….”

Giáo sư TRầN-VĂN-KHÊ cũng đã viết: “Anh Ngư viết văn Pháp rất hay, nhưng anh yêu tiếng Việt, anh lại muốn cho người Việt ai cũng đọc được sách báo nên tham gia rất tích cực phong trào xoá nạn mù chữ. Nguyễn Ngu Í còn sáng tạo ra cách viết chữ quốc ngữ sao cho hợp lý hơn…”

Nhà thơ ĐỖ-HỒNG-NGỌC đã nói về Cậu mình: “Thơ của ông (NGUYỄN-NGU-Í, MV chú thích) có thể người ta thích, có thể người ta không thích. Nhưng đọc thơ ông bao giờ cũng có cảm giác rờn rợn. Ông làm thơ rất nhanh, thơ như túa ra, ứa ra, nhiều bài sần sùi; đọc cứ nghe ấm ách nhưng có bài đọc mượt như nhung. Đọc thơ ông mà hịểu ông thì thấy thương, thương một con người có chí, có lòng mà không đạt được những ước nguyện. Rồi thôi, rồi thành tro bụi như hai câu thơ ông viết sẵn cho đời mình : “Bao nhiêu chí trẻ rồi tro bụi / Một thoáng tình xa cũng ngậm ngùi!”

“Nguyễn Ngu Í không có những tác phẩm quan trọng, nhưng cả cuộc đời ông là một tác phẩm “kỳ dị” pha trộn lòng yêu nước với chữ nghĩa. Tư tưởng cách tân chữ viết đi đôi với ý chí giải phóng dân tộc ra khỏi cảnh dốt nát, nghèo đói, áp bức của người dân bị trị, ra khỏi cuộc chiến tàn khốc, ra khỏi những bất công của xã hội mà tiền bạc, tham nhũng, phản bội, lừa lọc là những yếu tố chủ đạo. Suốt đời (Nguyễn Ngu Í) xông vào cuộc đấu tranh đó với một ý chí quyết liệt của “người hùng”, nhưng tất cả đều vô hiệu,không ai nghe“. (Từ điển Văn Học Bộ mới).

Nếu một Vị Bộ Trưởng Giáo Dục nào đó, dù có là danh nhân, nhưng trình độ văn hóa hạn hẹp, lại xuất thân ở các địa phương phát âm không đúng âm tiết ngôn ngữ Van học Việt, làm sao cảm nhận được cái tinh tế trong các cấu trúc ghép Vần của G/sĩ ĐẮC-LỘ và các nhà Văn hóa Tiền bối. Làm sao không tôn thờ NGUIỄN-NGU-Í là Đệ nhất Sư phụ Đại tài!

Lớp người nằm trong tầm ảnh hưởng thổ âm, “Tui đến Quãng Nom dồ nhòa bạn en xòi, ê cả hòm reng” (tôi đến Quảng-Nam vào nhà bạn ăn xoài, ê cả hàm răng) hoặc “Bắt con cá gô bỏ vào cái gổ” (bắt cá rô bỏ vào rổ), thì việc phân biệt nổi âm giọng giữa i và y, là cả một vấn đề ngoài sức tưởng tượng con người. Còn nòi chi đến những người chưa thoát được trình độ Văn hóa phổ thông, ngưỡng cửa Đại Học còn quá xa tầm với!

Chúng tôi còn nhớ mang máng đã một thời dư luận từng phê phán, đánh giá các Nhà Cách mạng Tiền bối NGHIÊM-KẾ-TỔ, NGUYỄN-HẢI-THẦN, về nước sung vào Chính Phủ Lâm thời 1945, do Ct. HỒ-CHÍ-MINH lãnh đạo, nói rất chuẩn tiếng Tàu, không xuôi tiếng Việt! Nhưng trên phạm vi Chính trị, chỉ đòi buộc cấp Lãnh đạo phải hiểu biết lòng dân muốn gì, hiện tình đất nước cần gì, phải có Đường lối, Chủ trương Chính sách xây dựng đất nước cụ thể thế nào để phát triển Dân sinh. Về Quân sự, đòi hỏi cấp Chỉ huy phải nắm vững chiến lược, biết rõ Địa hình địa vật, am tường chiến thuật tác chiến, biết sáng tạo chuyên môn tác chiến trong cách nghênh địch và diệt địch. Không đòi buộc phải có Học hàm, Học vị, không cần đọc hay, nói giỏi. Không cần phải có trình độ văn hóa, thông thạo văn chương, chữ nghĩa.

Đã từng có những Cấp Lãnh Đạo dốt chữ vẫn làm nên Lịch sử, ĐINH-Bộ-LĨNH, Việt-Nam, TRỊNH-GIẢO-KIM, Trung-Hoa, Nữ Thánh JEANNE D’ARC, Pháp, nhưng “không thể có người kém văn hóa làm nên Văn Hóa”. Chưa có một con vật đẻ ra một con người. Không thể có một Thư ký, Kế toán không Nghiệp vụ có thể phục vụ tốt một Công ty, cơ hồ Bộ Trưởng Giáo Dục chưa từng bước chân vào một ngưỡng cửa Đại Học nhà vườn nào!

Sử dụng người không đúng chỗ như ALBERT EINSTEIN, Nhà Bác Học lừng danh thế giới, một bậc thầy Khoa học trong thiên hạ, nhưng với một nhiệm kỳ Quốc Hội, nhà Khoa học thời danh nầy chỉ phát biểu ý kiến duy nhất một lần: “Gió lồng quá, đóng hộ cửa sổ lại”! Người ta bắt Ông vào ngồi làm kiểng cho Quốc Hội thêm sáng giá, nhưng Ông không thuộc phạm vi Chính trị. Cũng như một số Linh Mục, Thầy Chùa, Sư Cô, Mục Sư, Khâm Châu ngồi vào Nghị trường Quốc Hội để làm nhiệm vụ gật đầu và đồng ý! Vô bổ, phí phạm chổ ngồi, tranh địa vị người khác có năng lực hơn mình. Quý vị thuộc phạm vi Tu hành, xin hãy lo việc Tu hành, Thuyết pháp. Đừng tham quyền cố vị, đừng tranh nhau một miếng Đỉnh chung giữa chợ đời. Nhục lắm!

Với tư cách Lãnh đạo một Tôn Giáo, Quý Vị có quyền can thiệp Chính trị, tỏ rõ thái độ để bảo vệ Luân lý, Đạo đức, Thuần phong Mỹ tục. Có quyền phản bác bất cứ thể chế Chính trị nào vi phạm Nhân Quyền, đòi hỏi quyền Sống, quyền Tự do, quyền bình đẳng cho con người. Nhà nước có những chủ trương vô nhân đạo, không phù hợp lòng Dân và ý Trời, trách nhiệm các cấp Lãnh đạo tinh thần Tôn Giáo phải tỏ rõ thái độ mình để đóng góp công việc xây dựng Quốc Thái Dân An là ở đó, chứ không phải bon chen giữa Chính trường Xôi thịt. Xin tuyệt đối đừng nhúng tay tham gia hoạt động Chính trị, vì các Vị đã chọn con đường Tu hành, khắc kỷ, vị tha, đã chọn cuộc sống Tâm linh, Hướng thượng.

Chính thế, một Nhân vật đầu não Của sở Giáo Dục Quốc Gia, lại chưa hề qua một trường lớp đào tạo Sư phạm nào, thậm chí, nếu nói không sợ lầm, may lắm cũng chỉ mới học hết lớp “vở lòng” Chữ Tân-Quốc-Ngữ! Phần còn lại đã trưởng thành qua sự đào tạo nước ngoài, trên một đất nước lạc hậu, thì rõ ràng không thể có đủ trình độ phân biệt được âm tiết đúng sai như các nhà Văn hóa Dân tộc, các Nhà Sư phạm tầm cao, thì ngoài việc phá hoại, họ còn làm gì được trong công cuộc phát triển và bảo vệ sự toàn bích một nền Văn học Nghệ thuật Quốc gia?

Sự sai lầm của một Bác sĩ, giết hại một mạng người, sự sai lầm của một nhà Giáo dục, giết hại nhiều thế hệ con người, nhưng sự sai lầm của một Bộ Giáo dục đã non nửa Thế kỷ, thì lớp trẻ được đào tạo vừa qua phải đi về đâu? Nghề Thầy thuốc là một Thiên chức bảo vệ mạng sống thể xác một con người, không phải một nghề nghiệp, một nghiệp vụ kiếm sống. Giáo dục còn cao cả hơn, là một Thiên chức bảo vệ cả khối óc Cộng Đồng Dân tộc, không thể là nghề buôn gánh bán bưng chỉ lo rao hàng lớn tiếng, đánh lận người mua! Giáo dục thiếu Tâm huyết, thiếu Trái tim, thiếu trình độ, không đặt nặng chương trình Công Dân Giáo Dục, chỉ biết thu tiền và bán chữ. Học sinh đóng góp nhiều và đều đặn, được phê “Học sinh Giỏi”, “Đạo Đức tốt”. Lớp 40 em đã có 35 “Học sinh Giỏi” thậm chí có lớp Giỏi 100%. Tình trạng nầy đã xuất hiện đều khắp, Công luận báo chí đã từng lên trang, nhưng không được mấy ai biết chữ đủ để đọc! Giá trị Giáo Dục đã bị đánh mất, uy thế Nghiệp vụ đã bị rơi rụng tận Nguồn cội từ Bộ Giáo Dục! Văn hóa Cao-Mên từ Thượng bán Thế kỷ XX đã thâm nhập vào hệ thống Giáo dục Việt. Vì thế Dân trí đến đâu, tinh thần Dân tộc thế nào, còn ai thấy? Swj xô bồ đó là con đườngdẫn đến mất nước, dẫn đến nô lệ không xa.

Vâng, đừng ai nghĩ trong thời đại Cách Mạng ngày nay, nền văn hóa Dân tộc phải cải cách bằng mọi giá và trên mọi mặt, kể cả cách mạng xô bồ, mới đẩy mạnh Dân Trí Đất nước đi lên, mới chạy theo kịp với đà văn minh các nước Đàn Anh Siêu Cường Vĩ Đại! Phải vì thế, mà Bộ Giáo Dục đã nghiễm nhiên “Đánh mất Cội nguồn” (perdre la demeure) Văn học Dân tộc, như một điều kiện hội nhập Văn Hóa Loài người? Đánh mất thế đứng độc lập Văn học, sẽ đánh mất ý chí truyền thống bảo vệ quyền tự chủ, tự quyết Dân tộc. Văn học Dân tộc đã tự mình thụt lùi trở về con đường lạc hậu, sẽ bị đè đầu cỡi cổ qua muôn thế hệ, nối tiếp nghìn năm Lịch sử ô nhục. Nhà Nước ta không kịp thời chận đứng, thì hiển nhiên phải đi đến con đường tự diệt.

Nhiều địa phương đã tổ chức những ngày Lễ Hội linh đình, vượt cả những ngày Quốc Quốc Khánh, Độc lập, Thống nhất đất nước, để kiệu rước tôn vinh Thổ Địa, Thần Hoàng. Hình ảnh lớp Văn quan phục dịch, lùn lụy dưới thời Phong kiến, được nhà Vua phong thần!  Nhưng tất cả quá khứ oai hùng của Tổ Tiên để lại, người ta từng né tránh, gạn bỏ sang bên! Đã ai vẽ lại những bức tranh tuyệt mỹ các Bà TRƯNG, Bà TRIỆU, NGÔ-QUYỀN, TRẦN-HƯNG-ĐẠO, QUANG-TRUNG, LÊ-LỢI, LÝ-THƯỜNG-KIỆT… để kiệu rước, nhớ ơn? Thậm chí chưa có một lễ hội nào trang trọng uy nghi để tôn vình Chủ Tịch HỒ-CHI-MINH trong công cuộc cứu nước được ngang tầm các Lễ hội vu vơ phù phiếm! Thì ra Bọn tôi đòi nô dịch thởi Phong kiến, Tàu phù vẫn đáng đặt trên các Anh Hùng, Liêt-Sĩ đã xả thân vì Tổ quốc!

Khi chia sẻ về “thảm họa” môn Lịch sử với Báo Điện Tử Giáo Dục Việt-Nam, Bà Phó Chủ tịch nước NGUYỄN-THỊ-BÌNH đã hơn một lần đặt câu hỏi: “Môn Lịch sử nên chăng chúng ta cứ nói về chiến tranh này, chiến tranh kia hay không, trong khi đó về mặt “văn hóa lịch sử” thì chúng ta để đi đâu?”

Phải chi Bà đã thể hiện ý tưởng đó ngay trong thập niên nắm giữ Bộ GD&ĐT! Đó là Quyền hạn trong tầm tay Bà, sao ngày nay phải ray rứt? Sao Bà không thể hiện điều đó? Đã cầm cờ sao không biết phất, lại phất chuyện tào lao thay i và y còn “văn hóa lịch sử” thì Bà để đi đâu?Hơn ai hết, chỉ có Bà mới là người duy nhất có đủ tư cách trả lời câu hỏi của mình! Bà còn đang ray rứt cho Lịch sử về sự mất mát của đất nước mình, vậy bao giờ Bà mới nhắc nhở các Vị Bộ Trưởng kế nhiệm phục hồi lại Văn Hóa Lịch Sử đã được Bà quan tâm? Hay chỉ nói để mà nói, để rởm đời?

Ngay trong ngành Giáo Dục, tại Thị Xã Long-Xuyên hai trường học sát vách nhau, mang chung một tên nhưng khác chữ (đồng âm, đồng nghĩa, dị tự). Ban Giám Hiệu Trường cấp 1, ít học hơn, quê mùa hơn lấy tên trường là “Mỹ Long”, trường cấp 2 Ban Giám Hiệu, trình độ cao hơn, chơi đúng điệu hơn, đặt tên trường là “Mĩ Long”! Bị quá nhiều lời phê phán, đàm tiếu, đả kích của cư dân, không chịu nổi với dư luận phủ đầu, các Thầy “cấp tiến” đành phải sửa lại là “Trường cấp 2 Mỹ Long” như trường Cấp 1! Một cơ sở Giáo dục Quốc Gia!!! Cơ sở Giáo Dục dùng chữ còn thua hàng tôm cá chợ trời! Con đẻ Bộ Trưởng GD&ĐT NGUYỄN-THỊ-BÌNH đã làm nên Lịch Sử Cách mạng Văn học, tạo được một thành tích vĩ đại tại đây!

Đó là hậu quả xuất phát từ bộ Giáo dục bởi “Quy định ngày 30.11.1980”! Thương thay Linh Hồn của một Dân tộc có 4 nghìn năm văn hiến đã bị xé nát trong khoảnh khắc! Đã chà nát nguyên tắc “Pháp Quy Văn Học Dân Tộc”. Ai đã xé bỏ mọi Quy tắc chuẩn xác của nền Văn Học Việt-Nam!

XVII.MỘT BỨC TƯỜNG SIÊU THÉP, BẤT KHẢ XÂM PHẠM

Bài viết nầy hãy còn nhiều thiếu sót, dẫu có được mọi người chấp nhận đi nữa, không bị đánh giá là thiên kiến, nhưng nếu không được hàng Trí giả và Cộng đồng Người Việt trong cũng như ngoài nước cùng lên tiếng, thì ý kiến chúng tôi cũng không đáng được một em bé quan tâm, không khác hạt sương rơi trong vùng sa mạt.

Đã hàng trăm phản ứng xưa nay vốn có. Bao Học giả, bao Nhà Văn hóa đã lên tiếng đều đều. Gs.Ts. NGUYỄN-ĐỨC-DÂN, một Nhà Ngôn ngữ học đã có thái độ với một sự đánh giá về Quy định lập lờ, rất lơ tơ mơ giữa iy. Giáo Sư đã viết: “Có một quy tắc bất thành văn về tính thẩm mỹ trong chữ Việt: hình chữ phải đẹp. Điều này dẫn tới hiện tượng “phá rào” với quy định viết i/y hiện nay”. Gs. còn nêu rõ một loạt điều sai khuyết, như “Quy định đã không đề cập tới quy tắc viết bằng chữ y. Cách viết i/y trong quy định không phù hợp với tâm lý người Việt và thực tế tiếng Việt v.v. và v.v…, nên chúng ta thường “vượt rào” hoặc mắc lỗi trước quy định này.

Trong bài “Thử Nghiên Cứu Chữ Quốc Ngữ Bằng Cái Nhìn Hoàn Toàn Việt Nam”, Tác giả NGUYỄN-PHƯỚC-ÐÁNG (NPĐ) cho rằng.  “…… phe ‘tự coi là tiến bộ’ thì thích dùng i thay y. Có kẻ xu thời còn mạnh dạn khẳng định rằng viết phi nguyên tắc như vậy mới “văn minh”, mới “trí thức”, mới “sành điệu”. Quả nhiên những biểu hiện đó đã tỏ ra rất ư là Ngu ý phart xuất từ Chợ-Quán + Biên-Hòa!

Tg. NGUYỄN-PHƯỚC-ÐÁNG. cũng đã phân tích: “Thí dụ: Viết lý” trí và “lí” nhí, 2 chữ lý, lí (khác mặt chữ, khác nghĩa) thì hay hơn là viết lí trí và lí nhí (giống mặt chữ, khác nghĩa)”. (ngoặc đơn của Tg, đóng ngoặc kép và gạch đít do MV).

Tác giả NGUYỄN-PHƯỚC-ÐÁNG (NPĐ) còn đánh giá: “Giáo Sư Nguyễn Ðình Hoà không coi y dài là một nguyên âm trong hệ thống mẫu tự quốc ngữ. Có lẽ G/s coi y dài chỉ là biến thể của i ngắn.

“Có người còn “lạc đề” khi tham chiếu văn phạm Anh ngữ, coi y là phụ âm. Tôi nói đó là lạc đề, vì nghiên cứu chữ Việt mà lấy chữ Anh vào, để buộc chữ Việt phải như chữ Anh. Những vị nầy nghiên cứu chữ Việt mà lệ thuộc, chịu ảnh hương chữ Anh thậm tệ”. Tg. còn ray rứt: Người xưa(3) ỡm ờ, vừa bóp xiết, giới hạn chức năng của y, lại vừa mở cửa ngách cho y thoát ra, nên gây phiền phức, gây tranh luận trong đám con cháu về chuyện y-dài-i-ngắn triền miên, chưa biết đến bao giờ mới dứt”.

Tg. NPĐ cũng đã cay đắng:Cho đến nay chưa có cơ quan hay cá nhân nào đủ uy tín định đạt được qui tắc sử dụng “i” ngắn, “y” dài. – Phần lớn đang sử dụng theo nếp cũ, coi y dài có 4 công dụng tạo chữ như các nguyên âm khác. Họ dùng y dài nhiều bình thường. Một số khác, được đào tạo từ miền Bắc, và một số ít theo thời, ở miền Nam, lại sử dụng rất ít y dài. – Câu nói “Miền Tây, dân cày cấy mà hát hò rất hay”, đâu có ai viết là“Miền Tâi , dân cài cấi mà hát hò rất hai”.– Qui tắc: Khi chữ có iê đứng đầu, thì i phải đổi thành y.

“Vậy iêu = yêu, iến = yến, iết = yết, iểm = yểm… (phát âm giống nhau) Những người muốn cải cách chữ Việt lấy cớ viết với y hay với i đều đọc giống nhau, nên họ đòi viết iêu, iến, iêng, iết, iểm.…. (Có chữ tàu vị iểu, từ trước tới giờ ai cũng viết với i. Không có ai viết tàu vị yểu cả. Không biết tại sao!) – Tuy có vài người có tên Nguyễn Dy Niên, Trần Văn Ry, tác giả Thy Thy, nhạc sĩ Đynh trầm Ca… Nhưng những chữ Dy, Ry, Thy, Đynh không có nghĩa gì trong tiếng Việt”.

Nếu không bị xem là mạo phạm, chúng tôi mạng phép xin chia sẻ một ý nhỏ về chữ “Tàu-vị-iểu” đã không dùng y như Tg. NPĐ. đã đề cập. Có lẽ đây là tên một loại nước chấm của người Tàu, được Việt âm như một “tên riêng” chăng? Hơn nữa cũng đã có những Luật trừ bất thành văn về một số từ vựng đã quen dùng, thì không buộc thay đổi, như ì ạch, ỉa vãi, ầm ĩ, là những chữ i (ngắn) đứng đầu hay đứng riêng vẫn không bao giờ thay qua là “ỳ ạch”, “ỷa vãi”, “ầm ỷ” theo như các từ “ý thức”, “yêu đương”, “ỷ lại”… Nếu có gì sai trái hay thiếu sót mong được Tg. và Bạn đọc chỉnh sửa, bổ sung để được sáng nghĩa hơn.

Còn điều đáng được quan tâm hơn nữa, vừa rồi, vietmamnet trao đổi với GsTs. TRẦN-TRÍ-DÕI (TTD), khoa Ngôn ngữ học thuộc Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà-Nội. Ban Biên Tập vietmamnet hỏi:“Tiếng Việt được sáng tạo trên việc sử dụng ký tự Latinh để ghi âm tiếng Việt nhưng có phải tiếng Việt đã phức tạp hóa các chữ cái Latinh là W, Z, J, F thành các chữ kép? Đây có phải là lý do khiến tiếng Việt khó hòa nhập quốc tế?”

GsTs. TRẦN-TRÍ-DÕI trả lời tóm gọn một ý tổng quát, đại để rằng: “Sao phải thêm vào tiếng Việt khi đã đủ?”

Giáo sư đã xác định thì: “…nếu nói rằng Tiếng Việt được sáng tạo trên việc xử dụng ký tự Latinh để ghi âm tiếng Việt, đã phức tạp hóa các chữ cái Latinh là W, Z, J, F thành các “chữ kép” là nói ngược bản chất của vấn đề. Đúng ra “tiếng Việt là như vậy, khi sáng tạo ra chữ viết bằng ký tự Latinh, người đặt chữ viết đã dùng những con chữ tương thích đã có để phản ánh tiếng Việt” Do đó, hoàn toàn không có chuyện “tiếng Việt đã phức tạp hóa các chữ cái Latinh là W, Z, J, F thành các chữ kép”. Nói như thế là một kiểu “bốc lửa bỏ bàn tay”, đổ vạ cho chữ viết của tiếng Việt. Cho nên việc đặt tiếp câu hỏi ‘Đây có phải là lý do khiến tiếng Việt khó hòa nhập quốc tế?’ thì mọi người có thể tự trả lời.

“Nhân đây, tôi xin nói rằng về mặt ngôn ngữ học không có chuyện “tiếng Việt và chữ viết của nó” lại là trở ngại cho việc nó hòa nhập quốc tế.

“Cái trở ngại là do người sử dụng nó, người nhận nhiệm vụ làm cho nó hòa nhập thế giới không đủ hiểu biết để thực hiện nhiệm vụ nên đã đưa ra lý do để biện minh cho mình mà thôi. Nhiều chữ viết trên thế giớicó thuận lợi bằng chữ viết của tiếng Việt đâu mà người ta vẫn không đặt ra vấn đề “khó hòa nhập quốc tế”…… định đưa các ký tự này vào bảng chữ cái, để từ đó làm thay đổi cách cấu tạo chính tả các từ trong tiếng Việt hiện nay, theo ý kiến riêng của tôi, sẽ là một “thảm họa” đối với chữ viết tiếng Việt. Và thảm họa này nó sẽ kéo theo thảm họa kép về giáo dục, về xã hội, về in ấn, về sự tiếp nối truyền thống văn hóa v.v.

“Chúng ta nên nhớ, hậu quả của quy định về cách viết “i” hay “y” trong chính tả tiếng Việt….. hành hạ giáo dục ba mươi năm nay và vẫn sẽ chưa biết đến khi nào kết thúc (MV. gạch đít và nhấn mạnh)…… nếu chỉ là việc “thêm các ký tự này” dùng cho “công nghệ thông tin” thì không liên quan gì đến bảng chữ cái tiếng Việt. Môn học này, hay tài liệu giới thiệu về “công nghệ thông tin” chỉ cần nêu “phàm lệ” là đủ, không cần phải điều chỉnh bản chữ cái của tiếng Việt làm gì.

“Nhân đây, tôi xin nói thêm rằng tiếng Việt là một vấn đề của ngôn ngữ học nên bản chất của nó là một vấn đề xã hội chứ không đơn thuần là một vấn đề của kỹ thuật. Cách suy nghĩ xuất phát từ kỹ thuật và nói rằng ngôn ngữ không đáp ứng cái yêu cầu của mình nó gần giống như việc người đóng giầy yêu cầu khách đẽo chân cho vừa với giầy mình đóng”.

Quả nhiên sự so Sánh của Gs. rất rõ nét, cô đọng và sâu sắc không có cách so sánh nào có tính dí dỏm, gợi hình và xác thực hơn. Một số trưng dẫn cụ thể của hàng trăm Tác giả tầm cỡ như thế, đã chưa là bằng chứng hùng hồn đủ chứng minh được điều chúng tôi vừa khẳng định trên đây là hoàn toàn đúng đắn, không đi ngược lại quan điểm và sự xác định của toàn thể các Nhà Văn Hóa đúng nghĩa và chân chính của Dân tộc ta xưa nay. Nhưng thực tế, mọi nhận định, góp ý, đánh giá của các Học Giả, các Nhà Ngôn Ngữ Học, các Nhà Văn Hóa xưa nay, cũng chỉ là nước chảy bèo trôi, không khác “nước xao đầu vịt” ngẫm lâu nực cười!

Vì thế chúng tôi bắt buộc phải dài dòng, phải nói đi, phải lặp lại, phải xới lên, phải đào lại, phải nói tới nói lui, phải kêu to, phải la lớn, thì may ra mới nhồi nhét được chút nào vào nơi khô cứng, để góp tay cùng Cộng Đồng, kịp thời “Cứu nguy Tổ Quốc Việt-Nam” tưởng cũng là điều bắt buộc.

Chúng tôi đã ghi nhận được một vài nét chấm phá vể GsTs TRẦN-TRÍ-DÕI (TTD) đến cuối 2011 trên ussh.vnu.edu.vn/gs-ts-tran-tri-doi/1900, thì Giáo sư hiện là Chủ nhiệm Bộ môn “Ngôn ngữ và Văn hoá kiêm nhiệm Giám đốc Trung tâm “Nghiên Cứu Phát Triển Các Dân Tộc Thiểu Số – Miền Núi Và Lưu Vực Sông Hồng”, Trường ĐH KHXH & NV (Đại học Quốc gia Hà Nội). Gs. đã từng:

a.- Xuất bản: 77 Bài báo đã công bố, 22 đầu sách Nghiên cứu Văn Hóa, Giáo dục, Ngôn ngữ học các Dân tộc.

b.- Hướng dẫn: 1- 6 Học viên Cao học, trong đó có 2 Học viên người nước ngoài. 2- 28 Học viên Cao học bảo vệ luận văn Thạc sĩ, gồm 8 Hoc viên người nước ngoài. 3- 3 NCS bảo vệ Luận án Tiến sĩ. 4) 2 NCS bảo vệ Luận án Tiến sĩ (Cấp Cơ sở), như “Nghiên cứu ngữ âm tiếng Sán Dìu ở Việt-Nam”. 5- Đang hướng dẫn 4 NCS thực hiện Luận án Tiến sĩ về các đề tài, trong đó có: – Những đặc điểm về ngôn ngữ và văn hoá của thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt. – Nghiên cứu đặc điểm các thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm tiếng Hán (có so sánh với tiếng Việt) theo cách nhìn của ngôn ngữ học tri nhận….

c.- Chủ trì 6 đề tài đã được nghiệm thu: 1- Nghiên cứu nhóm ngôn ngữ Việt Mường. 2- Điều kiện sinh thái nhân văn làm luận cứ định cư tộc người Arem ở Quảng Bình. 3- Giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi một số tỉnh của Việt Nam. Cấp Đại học Quốc gia. 4- Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía bắc Việt Nam. Cấp Trọng điểm Đại học Quốc gia. 5- Vấn đề lịch sử thanh điệu tiếng Việt. Cấp Đại học Quốc gia. 6- Nghiên cứu một số vấn đề so sánh lịch-sử nhóm ngôn ngữ Việt Mường, Đề tài “Đặc biệt cấp Đại học Quốc gia”.

d.- Chiếm 6 Giải thưởng khoa học với Bằng chứng nhận về NCKH: 1- Giải Khuyến Khich 1993.2- Giải Khuyến Khich1996.3- Giải Ba B 1998. 4- Giải Nhì B 2008. 5- Giải Nhì B 2010. 6- Giải Nhì B 2011. Tất cả đều thuộc phạm vi nghiên cứu về các lãnh vực Văn Hóa, Giáo dục, Học thuật, Ngôn ngữ.

e.- Hợp tác khoa học: 1- Tại Khoa Đông phương, Đại học Paris VII Pháp (Unité Orientale , Université de Paris VII, France), 1986. 2- Tại trường Cao học KHXH Paris Pháp (École des Hautes Etudes en Sciences Sociales, Paris – France), năm 1995

f.- Thực tập khoa học: Tại Trung tâm Nghiên cứu các ngôn ngữ Đông Á thuộc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (Centre de Recherches Linguistiques sur l’Asie Oriental – CNRS), 1992.

g.- Dạy Việt ngữ học: 1- Tại Ban Việt học, Khoa Đông phương, Đại học Paris VII Pháp (Section vietnamienne, Unité Orientale, Université de Paris VII, France) các năm 1993, 2004. 2- Tại Học viện Ngôn ngữ và Văn hoá Phương Đông, trường Đại học Ngoại ngữ – Ngoại thương Quảng Đông Trung Quốc năm 2002 – 2003. 3- Tại Học viện Ngoại ngữ Đại học Dân tộc Quảng Tây, 2009, 2010, 2011.

h.- Tham dự Hội nghị Quốc tế Ngôn ngữ học Liên Á (Pan Asiatic linguistic): 1Tại Đại học Chulalongkorn, Bangkok, Thailand (Chulalongkorn University, Bangkok, Thailand), 1992. 2- Ngôn ngữ học Hán – Tạng lần thứ 33 (33 rdICSTLL) tại Đại học Ramkhamheang (Ramkhamheang University, Bangkok, Thailand), 2000. 3- Ở thượng nguồn sông Hồng tại Đại học Dân tộc Vân-Nam (Yunnan University for Minorities) Côn-Minh, Vân-Nam Trung-Quốc, 2001. 4- Nghiên cứu Văn hoá Tai-Dai tại Đại học Dân tộc Vân-Nam (Yunnan University for Minorities) Côn-Minh, Vân-Nam Trung-Quốc, 2004.

i.- Hội thảo Quốc tế: 1- “Các ngôn ngữ nguy cấp” tại Đại học Dân tộc Quảng-Tây (Guangxi University for Minorities), Nam-Ninh (Trung-Quốc) 2005. 2- “Tôi không hiểu” tại Đại học Maryland (Maryland University), USA,1-3/4/2007. 3- “Nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ văn hoá Việt-Nam – Trung-Quốc” tại Đại học Dân tộc Quảng-Tây (Guangxi University for Minorities), Nam-Ninh (Trung-Quốc), 2007. 4- “The First International Symposium on Kam – Tai languages” (Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất về các ngôn ngữ Kam – Tai) tại Đại học Dân tộc Quảng-Tây (Guangxi University for Minorities), Nam -Ninh (Trung-Quốc), 2008. 5- “Humanity, Development and Cultural Diversity” (The 16th World Congress of IUAES) tại Đại học Vân-Nam (Yunnan University) Côn-Minh, Vân-Nam (rung-Quốc), 2009. 6- “2010 IC on Vietnamese and Taiwanese Studies” National Cheng Kung University, Taiwan, 2010. 7- “Diễn đàn quốc tế lưu vực sông Hồng” (Hội thảo Quốc tế lần thứ III), 2010, Honghe University, Yunnan China. 8- “Giao lưu văn hóa biên giới Việt-Trung”, Đại học Sư phạm Nam-Ninh, Ninh-Minh Quảng-Tây (Trung-Quốc), 2011.

k.- Tham gia: 1- Symposium on The Universe of World Languages and Literatures, RIWL Osaka University, 2010, Osaka Japan. 2- “Nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ văn hóa VN-TQ” lần thứ III, ĐH Dân tộc Quảng-Tây, Nam-Ninh TQ, 2011………..

Nói chung Từ năm 1978 đến nay, ngành Ngôn ngữ học (NNH) đã đào tạo 118 tiến sĩ. Đang quản lý 42 nghiên cứu sinh (NCS), trong đó có 15 NCS nước ngoài thuộc các nước Trung-Quốc, Mỹ , Nga, Nhật, Hàn, Thái.

Với trình độ bình dân như chúng tôi, thì GsTs TRẦN-TRÍ-DÕI đã là một Quả núi vĩ đại đang đứng sừng sững trước mặt mình! Là một trong những đỉnh cao trí tuệ Văn-Hóa tầm cở Việt-Nam và Quốc Tế. Nếu xét về Quyền hạng và Địa vị, thì Giáo Sư cũng chỉ là “thuộc hạ” của Bộ Trưởng GD&ĐT NGUYỄN-THI-BÌNH trên cương vị là một “Bậc Thầy của các Bậc Thầy Đất nước”! Nếu vì chức danh và địa vị đó, Bộ GD&ĐT cần phải bảo vệ Quy-Định iy của Bà Nguyên Bộ Trưởng NGUYỄN-THI-BÌNH, như một “Uy Tín hảo huyền bất khả xâm phạm”. Nếu xét về trình độ Văn hóa, thì Bà BÌNH chưa đáng là học trò của các Nhà Văn hóa xưa nay, như thế Bộ GD&ĐT cần phải có cái nhìn khiêm tốn, thông thoáng và hợp lý, không chỉ mỗi Quy dịnh ghi trên và với riêng Bà NGUYỄN-THI-BÌNH, nhưng có lẽ còn phải nhìn lại trong mọi lãnh vực tổ chức Giáo dục khác, để vượt qua được sự lạc hậu cố hữu, tối thiểu cũng phải ngang tầm Bộ Quốc Gia Giáo Dục dưới thời Đệ I và Đệ II Cộng Hòa Miền Nam cách đây đã non nửa Thế kỷ, dù cũng đã quá cổ lỗ sĩ đối với thees giới ngày nay. Nhưng giữ được mức độ đó, cũng đã được là hàng Văn học tiên tiến cao so với một số nước chung quanh tại Á-Châu nầy!

Rất mong Bộ GD&ĐT quan tâm đọc một chút những ray rứt của nhiều Nhà Văn Hóa tầm cỡ như thế để tham khảo, dù họ không đủ tư cách để Quý Quan Chức Văn Hóa Nhà nước phải vâng nghe, nhưng tối thiểu cũng nên tỏ ra thức thời, để tỏ ra là hàng Trí giả, tự giáo hóa mình và ngăn chặn KHẨN CẤP mọi Tổ chức Loạn Văn trong hàng ngũ Quan chức, đã có hiện tượng cụ thể muốn ngóc đầu cách quy mô, rộng khắp và manh nha tiến vào hệ thống Giáo Khoa của Bộ đã cụ thể. Họ đã có chủ trương tiến nhanh vào con đường phá hoại chữ nghĩa Ông Cha. Đừng quá quan liêu hẹp hòi không dám thấy cái sai cục bộ phải sửa, cái đúng phải nghe. Đừng xem đó là bổn phận kẻ Kế thừa phải bảo tồn danh dự Vị Tiền nhiệm, dù đó là một sự phá hoại Đất nước, là hành động thiếu Văn hóa của một Bộ Trưởng! Không biết phải hỏi, không giỏi phải học, năng học năng hỏi, nên giỏi thành tài. Người quá thông minh, biết thêm một chút không thừa. Người qua dốt nát, biết thêm một chút càng hay. Các Nhà Bác Học Thế giới trong đó có cả Cố Chủ Tịch HỒ-CHÍ-MINH cũng đã từng nói, họ mãi, học mãi, học hoài, càng học càng thấy mình dốt, học đến chết vẫn chưa đủ.

Xin Quý Vị cần phải khẳng định rằng, mọi quyết định thay đổi dù một nét nhỏ trong hệ thống cấu trúc Văn học, đều phải được Cộng Đồng Dân Tộc người Việt, tiêu biểu là các Nhà Văn Hóa tầm cao tại Quốc nội lẫn Quốc ngoại, qua Hội thảo có quy mô Quốc gia, đã trải qua thời gian dài nghiên cứu, và đã được mọi người chấp nhận. Một khi chưa có Hàn Lâm Viện Văn Chương hợp pháp, là “Cơ quan Lập pháp Duy Nhất” có quyền hạn đối với nền Văn học Dân Tộc, thì không một Cá nhân, một Tập thể, một Cơ quan, một Nhà nước nào được tự quyền ra Quyết định thay đổi dù chỉ “nửa chữ i”. Làm khác đi, đều là những hành động sai trái, xâm phạm Văn hóa Nước nhà, hủy diệt Linh hồn Tổ Quốc, phá hoại nền Văn hóa và tính Thống Nhất Ngôn Ngữ Dân Tộc của Cộng đồng Người Việt trong cũng như ngoài Nước.

XVIII. THẾ HỆ DỤNG NGỮ

Chúng tôi muốn đề cập đến sự không chuẩn xác về ngữ nghĩa trong cách sử dụng Danh từ tiếng Việt ngày thêm loạn ngữ và loạn nghĩa.

A. Các cách dụng từ không chuẩn xác thời nay :

Điển hình đầu tiên, Bộ GD&ĐT đã sử dụng danh từ tiếng Việt sai ngữ nghĩa đến đau lòng, đã không thấy được lại khoái dài tay nằm mơ việc cải cách chỉnh sửa cả một hệ thống Chữ Tân-Quốc-Ngữ ngoài tầm với, vốn dĩ đã thập toàn!

Chúng tôi xin đơn cử một trong nhiều hiện tượng khá phổ biến, cần phải được chấn chỉnh. Cụ thể, thay vì gọi là “Thi Văn Hóa” các cấp Tú tài, Trung học, Tiểu học, Bộ GD&ĐT ngày nay đã sử dụng cụm từ quá kêu: “Thi Tốt nghiệp”! Tốt nghiệp Tiểu học (Lớp V), Tốt nghiệp Trung học Cơ sở (Lớp IX, Cấp II), Tốt nghiệp Trung học Phổ thông (Tú tài, Lớp XII, Cấp III)!

Ngày xưa Học trò thi đậu “Sơ-Học Yếu-Lược” (Elémentaire), trình độ lớp Ba hiện nay, cũng đã được Quần chúng “xem trọng”, nên cư dân vùng rừng núi, thâm sơn cùng cốc, thường đôn đội lên hàng Tốt Nghiệp. “Tốt nghiệp Yếu Lược”! So ra với trình độ đó lúc bấy giờ, các “Sĩ tử Tốt nghiệp” nầy cũng đã có thể đảm nhiệm được các “chức vụ” Hương hào, Lý trưởng ở Làng. Từ Tiểu Học (Primaire, lớp 5), Trung Học Đệ nhất cấp (Brevet, Diplome, lớp 9), các “Học sĩ” nầy đã trở thành Thầy Giáo, Thầy đồ, Thầy Thông (thông dịch), Thầy Ký (Thư ký). Thời đó họ đã có căn bản tạo được cuộc sống sung túc cho mình, kể cả được vào chốn Quan trường. Cụ VƯƠNG-HỒNG-SẾN chỉ đỗ Trung học Đệ Nhất Cấp (Brevet élémentaire, Lớp 9) đã ra đời trong hàng Quan Nha. Hầu hết các Văn nhân, Thi sĩ, Cán Bộ, Công nhân, Viên chức cấp Cao thời trước, rất hiếm người trên Trung Học. Cố Nhạc Sĩ VĂN-CAO, còn là một Thi Sĩ, Họa sĩ, đặc biệt là một Văn Sĩ tài danh, cũng mới “Tốt nghiệp Tiểu Học” (Primaire), Tiên sinh thuộc dạng biệt tài thiên phú, ngoại lệ. Thí sinh thi đỗ đến Tú tài Toàn phần (baccalauréat complet, lớp 12), đã được mọi người tôn xưng là Cậu Tú, Ông Tú, Thầy Tú. Được trọng nễ hơn cả Bác sĩ, Kỷ sư ngày nay, nhưng Bộ Quốc Gia Giáo Dục qua các thời, vẫn không bao giờ xem đó là “Thi Tốt Nghiệp”. Khi xuất thân Đại Học đã được tôn gọi là Ông, Ông Cử (cử Nhân), Quan Bác (bác sĩ)… lúc đó mới được gọi là “Tốt Nghiệp”! Câu chuyện đời xưa là thế!

Đó là câu chuyện của ngày xưa! Nhưng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt-Nam Cộng-Hòa, vẫn không sử dụng cụm từ Thi Tốt Nghiệp dành cho các các kỳ thi Văn Bằng Trung Học và Tú Tài. Ngày nay đỗ Tú Tài, cũng chỉ là một Văn Bằng xác nhận trình độ Văn hóa Phổ thông, vẫn vô nghề (sans spécialité), chưa có một căn bản chuyên ngành để sống. Các “Học sĩ Tốt nghiệp” vẫn phải lang thang làm “thợ đụng” ngoài đời, đụng đâu làm đó, gặp gì làm nấy một cách rất ư là tạm bợ. Gặp may cũng làm tới cò mồi, chạy mánh. Còn lại, có vị bỏ báo, đạp xe bán cà-rem dạo. Như thế cũng đã được Bộ GD&ĐT gọi là “Thi Tốt Nghiệp”! Đúng sai, xin bạn đọc đánh giá.

Thi đỗ Văn bằng các cấp Phổ thông, cũng chỉ là một “Văn Bằng” chưa thể gọi là “Tốt nghiệp” như các Chứng chỉ Tốt nghiệp Cao đẳng, Đại Học, Cao Học. Với một Chứng chỉ Tốt nghiệp trong tay, người sở hữu đã có một năng lực nghề nghiệp cụ thể. Các Văn bằng thuộc dạng văn hóa phổ thông, thậm chí chưa so được với một Chứng chỉ Y Tá, Thợ Máy, Hớt Tóc, Đóng Giày, Thợ mộc, Thợ rèn, Tài xế…. Ai thi đổ lấy được các Chứng chỉ đó, đều là Chứng Chỉ Tốt Nghiệp. Họ đã chính thức sanh sống với nghề Tài xế, Thư ký, Đóng giày v.v… Đó, dù với khả năng nghề nghiệp cấp thấp, họ cũng đã tự đứng vững được trên đôi chân mình cách vững vàng với một Chứng Chỉ Tốt Nghiệp cụ thể!

Nhưng đến ngày nay, những dạng thi Văn bằng Phổ thông như thế, vẫn còn được Bộ GD&ĐT cho là “Thi Tốt Nghiêp”, kể cả Tốt nghiệp Tiểu học (lớp Năm)! Cũng có thể cả Tốt nghiệp Mầm non (lớp Lá) chăng? Ngành Giáo đục nước ta chưa vượt khỏi ý thức Cư dân Rừng núi ngày xưa!

B. Những cân não vọng ngoại hãnh tiến :

Ngày xưa đã không thiếu người An-Nam-Mít ta cầm tờ báo Pháp, báo Hoa ngồi đọc nơi ghế đá công viên, bờ hồ, bãi biển cách rất ư là hãnh diện, để người khác thấy mình thuộc Dân Tây, Dân Tàu, học cao, hiểu rộng. Không loại trừ dân buôn hương bán phấn, giả dạng có học, cũng vênh váo với quyển sách tiếng Tây, nhưng một chữ bẻ đôi không biết!

Trong đàm thoại, “Dân Thầy” thỉnh thoảng xì ra vài tiếng Tây, tỏ ra ta nói tiếng Việt không rành! “Việt Kiều Yêu Nước” từng về thăm Quê hương, họ mới vượt biên với độ tuổi “trên 40 mùa xuân vàng úa”, nhưng vài ba năm sau trở về thặm quê hương, cũng đã “quên” gần hết tiếng Việt! Trong những câu chuyện thăm hỏi qua lại, họ cũng phải pha trộn vài tiếng Mỹ! Vốn liếng tiếng Việt đã không đủ dùng! Thương thay, khi về lại Mỹ họ chỉ biết giao dịch, mua bán với mỗi người “Vietnamese” nhà mình! Ra tòa, đến Công sở, đi Khám bệnh, phải dẫn con cái đi theo hay nhờ người khác nói giùm. Vào cửa hàng, tiệm buôn, quán ăn không nói được một câu “tiếng bồi”, không kêu được một bữa ăn hợp với vài đồng Đô trong túi! Nhưng người ta đã hao hao tự đắc ta là dân Tây, đân Mỹ, dân Trí thức, dân Có học,!

Ngay tại đất nước mình hiện nay, trên các Bảng Hiệu ghép Chữ Vàng chói mắt đầy những hàng chữ phi Giao-Chỉ! Thậm chí trên mặt Báo, Đài Phát Thanh, Truyền Hình càng pha trộn Văn hóa lai căng. Họ in ấn hàng loạt tiếng nước ngoài nguyên gốc, mà Thượng Đế là 100% là người An-Nam-Mít, mũi tẹt, da vàng chính hiệu. Hơn 90% là dân lao động, dân buôn gánh, bán bưng đọc chưa xuôi chữ Việt! Thế mà họ phải đọc những tờ “Báo chí trí thức” hầu như dành cho dân ăn chơi chuyên nghiệp, các hàng quán cà-phê, bia ôm, đèn mờ!

Ngày nay tính phô trương Mỹ hoá đã quay đầu trở lại, còn rầm rộ hơn Tiếng Tây, Tiếng Tàu trong các thời nô lệ! Nhiều Độc giả có học, đọc Báo Chí cũng phải giật mình, không biết “nên cười hay nên mếu”, không biết mình đang đọc báo nước nào, vì lợn cợn trong đó có quá nhiều chữ đọc không ra, không hiểu nghĩa! Như “Tour”, “Fan”, “Logo”, “Teen”… Tìm hỏi khắp nơi, không một ai biết có loai từ ngữ nầy trong tiếng Việt! Có lẽ Độc Giả và Khán Thính Giả Việt-Nam, muốn đọc và hiểu được sách báo Việt-Nam ngày nay, còn cần phải bổ túc thêm Ngoại Ngữ tổng hợp! Đúng là thời buổi Văn Minh Phát triển có khác! Toàn dân phải lo học chữ nước ngoài để hiểu được sách báo tiếng Việt!!! Ngày nay Việt-Nam ta đã có ảnh hưởng rất sâu đậm của một nền Văn Minh Vọng Ngoại đầy bản chất Vong nô bán nước, không kém Dân nô lệ Tàu Tây! Báo Chí nước nhà bao giờ cũng tiêu biểu một Cộng Đồng Dân Việt Trí Thức Yêu Nước rất đáng tự hào, chỉ tiếc là chưa hội đủ ý thức  “Tự Tôn Dân Tộc”!

Thời Pháp thuộc còn để lại tại 2 Miền Nam-Bắc những vết nhơ lai tạp. Công Trường, Xí Nghiệp, Nhà Máy đều kẽ bảng hiệu bằng “Chữ Tây”. Còn Chữ Việt lai Tây, không hề có dấu sắc-huyền-nặng-hỏi-ngã. Một lần đứng trước Bảng Cổng một nhà máy kẽ chữ lớn “NHA MAY CO-KHI GIA-LAM”, Chủ Tịch HỒ-CHÍ-MINH đọc lớn tiếng giữa đám Quan chức Cao cấp tháp tùng “Nhà mầy có khỉ già lắm”. Các Bộ ngành liên quan (Nội Vụ, Thông Tin Tuyên Truyền) một phen tái mặt, vội ra lệnh mọi Cơ quan, Xí nghiệp phải sơn kẽ lại âm sắc tiếng Việt đầy đủ “NHÀ MÁY CƠ KHÍ GIA LÂM”.

Miền Nam cũng không thiếu Bảng hiệu  “CHO TAM-KY”, “GA TAM-KY”, khách đàng xa tìm hỏi mua “Chó tám ký”, “Gà tám ký”  không hề có! Chỉ có dạng Ngỗng, Gà Tây, Đà Điểu, chứ gà thì tìm khó ra! Sau họ mới ngớ ra đó là Bảng hiệu “CHỢ TAM-KỲ”, “GA TAM-KỲ”, chứ không phải cửa hàng bán gà, bán chó. Thì ra là vậy! nhưng đó cũng là chuyện đời xưa! Chuyện người dân nô lệ Tàu Tây!

Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM đã ký Sắc lệnh buộc phải sơn kẽ lại toàn bộ các Bảng hiệu bằng chữ Việt. Ra lệnh huỷ bỏ tất cả các Bảng hiệu “Lai Căng” hướng ngoại, như TAILLEUR NGOC, COFFEUR HOANG, HOTEL ĐONG KHANH, PHARMACIE THU-DUC, phải đổi lại bằng Tiếng Việt là “TIỆM MAY NGỌC”, “HỚT TÓC HOÀNG”, “KHÁCH-SẠN ĐỒNG-KHÁNH”, “HIỆU THUỐC TÂY hay TIỆM ÂU DƯỢC THỦ ĐỨC”… Dẫu Chủ nhân là người Pháp, Hoa, Anh, Ý, Mỹ cũng phải kẽ bảng hiệu bằng chữ Việt đậm nét. Chủ nhân chỉ có thể chua thêm Chữ nước mình (Pháp, Hoa, Anh, Mỹ) dưới hàng Chữ Tiếng Việt đó với kích cở nhỏ hơn. Chẳng hạng “CÔNG-TY DU-LỊCH ĐẠI-NAM” được chua ngay hàng dưới ĐẠI-NAM TOURIST AGENCY, cở chữ khoảng 2/3 mẫu chữ Việt. Không có kiểu “THANH THANH BOOK-SHOP” thay vì HIỆU SÁCH THANH THANH, “SOUTHERN BANK” (NAM-PHƯƠNG NGGÂN-HÀNG)như ngày nay. Nhục vong quốc cả ngàn năm Tàu Tây chưa đủ thấm đối với Dân Trí thức Đại Gia!

Các Tư Tưởng Lớn đều gặp nhau một điểm. Hai Nhà Lãnh Đạo Quốc Gia trên 2 vùng chiến tuyến, HỒ CHÍ MINH – NGÔ ĐÌNH DIỆM đều cảm thấy được cái nhục Văn hóa Vọng ngoại của người Dân chưa được giáo dục đầy đủ. Hai Vị đã tẩy sạch vết bẫn của bọn vong nô, khoái phô trương, hảnh diện ta đây dân có học, khoe ngoại ngữ. Họ thích kẽ Bảng hiệu chữ nước ngoài, tỏ ra Chủ nhân thuộc diện thông Tây, giỏi Tàu, làu Anh văn. Nhưng khi gặp phải khách Tàu, Tây, Anh, Ông bà Chủ đã tỏ ra lúng túng, nói không xuôi một câu ngoại ngữ với “Thượng đế” Tàu, Tây, Anh, Mỹ! Hầu như họ giao tiếp bằng những ký hiệu trường câm: gãi tai, gãi đầu, khoa tay… và cười ngượng, đến ngây ngô. Đôi cửa hàng có con cái hoặc nhân viên đứng quày biết đôi câu giao dịch đại khái, nhưng ngộ nhỡ gặp lúc họ đi việc cần, vệ sinh, tiểu tiện, thì Ông bà Chủ đành khanh tay chịu trận! Đó là biểu hiện của rất nhiều Đại gia Trí thức người Việt ta!

Nước Việt-Nam bị xem là “lạc hậu” nầy, đã vệ sinh sạch sẽ mọi loại bẩn nhớp trên đường phố, trước cửa nhà, trong tim óc dưới 2 triều HỒ – NGÔ. Những hơn nửa Thế Kỷ sau, Nhà Nước Mẫu Quốc Pháp, một Đất nước Văn Minh, mới giật mình bừng tỉnh trước cảnh ngoại lai, tạo nên cái nhục Dân tộc từ nhóm “Trí thức Pháp vọng Mỹ”. Họ lấy Anh Văn ra xài trong nước, trong đàm thoại, trên bảng hiệu, ngoài đường phố, trên báo chí, nơi sách vở, chổ nào cũng có một câu hoặc vài từ Anh, Đức chen vào. Nhìn sang cái nước thuộc địa “An-nam-mít” ngày nào đã có tính “Dân Tộc ” cao hơn mình, biết Tự tôn hơn mình, thật đáng gờm!

Thấy được tinh thần Văn hóa dân Pháp đã không giống ai, Quốc Hội vội vàng soạn thảo Đạo Luật cấm sử dụng mọi loại tiếng nước ngoài trong Đất Pháp trên mọi lãnh vực (Báo chí, Bảng hiệu, Hội họp, Bàn thảo, Thể thao, Du lịch), ngoại trừ khi giao dịch với người ngoại quốc qua đàm thoại trực tiếp hay bằng văn bản nước ngoài. Công dân một Quốc gia Văn minh tầm cỡ như nước Pháp lại đánh mất lòng Tự tôn Dân tộc chỉ vì chạy theo đồng tiền, thì không còn gì nhục nhã hơn! Vọng ngoại, lai căng là mất gốc. Coi rẽ tiếng Ông cha là phi trí thức, thiếu tinh thần tự trọng, là chà đạp Quốc Thế một dân tộc Độc lập Văn minh, có đầy đủ Chủ quyền tự quyết!

Bộ Văn Hóa, Bộ GD&ĐT, Hàn Lâm Viên Khoa Học, Chính Phủ, Quốc Hội nước CHXHCNVN chẳng mấy Cơ quan nào quan tâm đủ, để thấy rõ cái nhục Quốc thể quá lai căng nầy, không có thái độ dứt khoát để đề cao tính “Tự Tôn Dân Tộc” để bảo tồn Thể thống Quốc Gia!

Điều đáng hãnh diện ngày nay, tất cả Danh từ riêng tiếng Việt, dù được in ấn trên mọi Văn bản tiếng nước ngoài, đều có đầy đủ các dấu Sắc, Huyền, Nặng, Hỏi, Ngã, dấu Mũ (ô, â, ê), dấu Râu (ơ, ư). Có Dân tộc tính hơn cả thời Việt-Nam Cộng-Hòa! Lúc đó người ta không bao giờ dám viết đủ âm sắc các tên riêng tiếng Việt trên các văn bản tiếng nước ngoài. Ngược lại khi viết tiếng Pháp, tiếng Anh, không có ai bỏ sót một dấu Lược (Apostrophe), như L’enfant, Piter’s shop. Cũng không quên một dấu Mũ (Accent circonflexe) như Apôtre, đấu Sắc (Accent aigu) như Prénom, dấu Huyền (Accent grave) như Pemière… Còn tiếng Mẹ đẻ không dám viết đúng, “sợ tỏ ra là dân Giao chỉ, man di, dốt nát”!

Cũng thế, trong đàm thoại trước đây, dân ta cũng phải bẽ miệng, ép mồm, bỏ âm giọng Việt. Nói hay đọc Chef d’Etat BAO-DAI, Président NGO-DINH-DIEM cho ra giọng Tây tiếng Mỹ! Không như ngày nay, dưới Chế độ hiện tại đã có nhiều thay đổi rất đáng “trân trọng”. Trên Văn bản, Báo chí tiếng nước ngoài, tên Việt luôn được tôn trọng, viết đầy đủ NGUYỄN-TẤN-DŨNG, NÔNG-ĐỨC-MẠNH, phía thông dịch cũng đầy đủ âm sắc Việt-Nam. Dân mình nghe đở tủi. Ngay cả người nước ngoài giao dịch vớ ta ngày nay, họ cũng đã cố phấn âm giọng Việt, để tỏ ra sự tôn trọng trong giao tế. Đúng là một niềm hãnh diện Dân tộc, không ai còn cảm thấy viết và đọc có Âm sắc Việt-Nam còn có mặc cảm là quê mùa là dốt nát như xưa nữa.

Tuy nhiên, vẫn còn cấn cái một “hạt sạn” khá đau, đó là kiều nói và viết ngoại lai, đó là “Việt Nam Đồng”. Tưởng rằng ta cũng cần lưu ý. Anh-Mỹ viết “USD”, không ai dịch “Mỹ Đô-la”, nhưng là “Đô-la Mỹ”, còn “Mỹ-kím” là phiêm âm Hán-Việt. Tiếc thay, “Việt Nam Đồng” không phải là “Danh Từ Hán-Việt”. Trên văn bản tiếng Anh ta phải viết theo tiếng Anh “VNĐ” là đúng. không thể thấy sao dịch vậy là “Việt-Nam Đồng” khi nói bằng tiếng Việt hoặc viết trên văn bản tiếng Việt! Tỉnh từ (adjectif) Anh-Mỹ bao giờ cũng đứng trước Danh từ (nom). USD viết đủ là United States dollar, American dolla, dollar cũng có ký hiệu $, nên cũng viết US$. Theo Anh-Mỹ, US là tính từ phải đứng trước Danh từ là: USD hay VNĐ. Tiếng Pháp có khác hơn, tính từ đứng trước hay sau danh từ tùy theo tính từ đó ngắn hay dài hơn danh từ được bổ nghĩa (Modifi). Une jeune fille (một cô gái trẻ) nhưng une piastre vietnamiene ta dịch là một đồng Việt-Nam. Trên văn bản tiếng Pháp người ta vẫn viết “ĐVN” (Đồng Việt-Nam) chứ không phải VNĐ (Việt-Nam Đồng) như Anh-Mỹ. Vị trí tính từ Việt ngữ không giống Anh-Mỹ, “Danh Từ Phải Luôn Đứng Trước Tính Từ”, “Đồng Việt-Nam” không bao giờ có thể đổi ngược, nghe rất lai căng, chói tai, phi Việt. Hy hiếm lắm mới có trường hợp đổi ngược vị trí giữa Danh từ và tính từ như “NAM-PHƯƠNG HOÀNG-HẬU”, nhưng đó cũng thuộc dạng Hán-Việt! Trong đàm thoại và trên mọi văn bản tiếng Việt đều phải nói và viết Đồng Việt-Nam, Đồng quan Pháp, Đô-la Mỹ, Đô-la Đức, Đồng quan Thụy-Sĩ, Đồng Nhân dân tệ, không ai nói “Mỹ Đô-la”, “Đức Đô-la”, “Pháp Đồng quan”,  “Thụy-Sĩ đồng quan”, “Nhân dân tệ đồng”… bao giờ! Các Đài truyền thanh, truyền hình, báo chí, phát ngôn viên Nhà nước, xin đừng học đòi Mỹ-hóa tiếng Việt, nghe quá nghịch tai. Dân tộc ít người bao giờ cũng nói Đồng Việt-Nam, phải chăng do họ thất học, kém văn minh. Phải chăng họ không đủ trình độ để hội nhập Văn hóa Mỹ, hay vì họ thâm thù Mỹ hơn Giới Trí thức và Dân Tài phiệt người Kinh? Có thể đều đúng cả!

Sách vở, Báo chi Việt ngữ là cơ sở phát triển Văn hóa Dân tộc, nhưng nhân dân quần chúng chẳng mấy người đọc xuôi, hiểu nổi “Ngôn ngữ Báo chí” thời nay, nếu họ không thuộc lớp Trí thức dân chơi, trí thức nửa mùa, trí thức hãnh tiến vọng ngoại. Tác phẩn Văn học, nghệ thuật, Báo chí không cần biết độc giả là ai, trình độ văn hoá thế nào! Dẫu cho Dân trí người Việt đã đạt đến hàng Giáo sư Tiến sĩ toàn bộ, đọc thông viết thạo tiếng nước ngoài đi nữa, thì hàng GsTs cũng rất “dị ứng” với cách viết nầy trên báo chí. Tinh thần Tự tôn Dân tộc không cho phép ta mang tính Ngoại lai nhục nhã như vậy! Hãy nhìn lại nước Pháp ngày nay. Nếu chỉ phục vụ cho “dân chơi chuyên nghiệp” thì không thể gọi là “Vị-Văn-Hóa, Vị Dân Tộc”. Nó không hề biểu hiện “Văn Minh Thời Đại” nào cả, nhưng ngược lại! Nên gạt bỏ mọi ý thức phô trương, đua đòi không đáng có. Đừng trở lại thời nô lệ Tàu Tây, đánh mất lòng Tự Tôn, Tự Hào Dân Tộc. Hãy gọt bỏ hẳn tư tưởng Ông cha ta vốn là Thân Trâu ngựa như các triều đại phong kiến thời xưa.

Muốn Việt Hoá, phải Việt Hoá rõ ràng, muốn phiên âm, nên phiên âm cụ thể không sử dụng danh từ ngoại lai, với những từ ngữ mới xuất lò không giống ai để tự cho mình là tân tiến là Văn minh kiểu mới, để phân biệt với người Dân tộc dốt chữ hơn ta. Chưa hẵn! Đừng biến thành “Tiếng lóng” như phường điếm đàn, phường móc túi. Danh từ Việt Hoá như Nhà “Ga”, “Va-gông”, “Ga-ra”, Đường “Rầy”, “Căn-tin”, “Mét-tin”, được viết bằng “Vần Việt” theo “Âm Vận tiếng Việt” cho Đồng bào mọi giới đều đọc đươc và hiểu được. Nó phải đồng dạng với những danh từ Hán-Việt “Trực thăng cơ”, “Phi thuyền” đã trở thành tiếng Việt. Đừng viết Đường Rails, Nhà Gagare… Dân Việt-Nam rất hiếm người biết dọc và hiểu nghĩa!

Chỉ sử dụng những danh từ nguyên gốc nước ngoài là những Danh từ riêng chưa thể Việt hóa, và các ký hiệu Toán, Lý, Hóa, Âm nhạc, hoặc các Danh từ Khoa học từ Hy-Lạp, La-Tinh theo quy ước Quốc Tế, và cũng chỉ trong phạm vi khoa học và nghiên cứu chuyên biệt. Nên tạm ngưng sản xuất thêm những danh từ “nửa nạc nửa mở” nặng mùi và khó nuốt. Xem ra chẳng giống ai, không tạo cho Tiếng Việt thêm phong phú, chỉ có xu hướng cầu kỳ, vọng ngoại, biểu hiện những hiện tượng mất gốc từng ngày. Shop, Logo, Fan… không hề là loại danh từ Việt-Hóa.

Lúc còn sinh tiền, đã hơn một lần, HỒ Chủ Tịch đòi hỏi Báo giới và các Nhà Văn Hoá phải viết thế nào cho Đại Chúng, mọi người đọc được và  hiểu được. Đó là cách truyền đạt Văn Hoá trong Nhân dân, Quần chúng, đó là phương pháp truyền bá tư tưởng Thời đại của nền văn minh Văn Minh Thế Giới. Thế mà nước Pháp mới bắt đầu đi vào nề nếp văn minh Dân tộc, đã quá lạc hậu, nhưng muộn còn hơn không! Nếu không áp dụng cứng rắn như thế, thì nước Pháp đã tụt hậu, chậm tiến, lỗi thời hơn bất cứ ai.  Để cho nềnVăn hóa Dân tộc tụt hậu, là đẩy lùi tinh thần Độc Lập Tự Chủ của một Đất Nước.

Chẳng lẽ dân tộc tính của TRƯƠNG-VINH-KÝ, NGUYỄN-AN-NINH, HỒ CHÍ MINH, NGÔ ĐÌNH DIỆM thực sự là vô nghĩa, đã quá lỗi thời? Chẳng lẽ Đạo Luật Ngôn Ngữ do Quốc Hội Pháp soạn thảo ngày nay chẳng đáng để cho mọi Dân tộc Bán khai, Đang phát triển học hỏi, noi gương? Dám cầu mong Đảng, Nhà Nước, Chính Phủ và Quốc Hội Nước CHXHCNVN, ít nhất vì “Thể Diện Dân Tộc”, nên quan tâm, tôn trọng tinh thần ý thức các Nhà Văn Hóa Dân Tộc Tiền Bối, chính Chủ Tịch HỒ-CHÍ-MINH và Tổng Thống NGÔ-ĐÌNH-DIỆM cũng đã xem trọng, đã áp dụng cách triệt để kể từ ngày 2 Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Nước VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA miền Bắc và VIỆT-NAM CỘNG-HÒA miền Nam ra đời. Dân Việt, phải giao dịch với nhau bằng tiếng Việt, in ấn báo chí sách vỡ lưu hành nội địa bằng chữ Việt hay đã được Việt hóa cụ thể, nên tránh mọi hình thức tạp nhạp màu mè.

Xin đừng ngộ nhận nhiều trường hợp Tác Giả muốn giải thích một từ ngữ tối nghĩa, họ phải chua một từ ngữ nước ngoài trong hai ngoặc đơn (…). Cũng không khác khi phải trích dẫn một câu Ngạn ngữ nước ngoài, ý nhấn mạnh một quan điểm, xác định một sự việc, một ý thức, để được sáng nghĩa hơn, người ta thường chép câu nói nước ngoài y nguyên văn trong ngoặc kép (“…”) và chua nghĩa trong ngoặc đơn. Không có việc đệm pha lẫn lộn trong văn bản cũng như tropng đàm thoại, không giống ai! “Trời ơi Footballer VIỆT-TIẾN được dân Français ham mộ quá trời!”

Rất khôi hài khi đọc một quyển Tiểu thuyết nọ. Nội dung là sự “Giao lưu Văn hóa” giữa Sinh Viên Việt-Nam với Du học Sinh Quốc tế, Anh, Mỹ, Nga, Pháp… Trong giao dịch, đôi bên cũng sử dụng lối nói đa ngữ, như là cơ hội truyền thụ cho nhau cùng học hỏi qua lại nhờ giao lưu văn hóa trực tiếp để tập nghe, luyện giọng. Tất nhiên đó là điều quá tốt trong học hỏi lẫn nhau và thanh luyện cho nhau. Nhưng rất tiếc “Tác phẩm” nầy đã để lại một dấu ấn đáng kinh ngạc. Sinh viên “Quốc tế” trao đổi qua lại với nhau, không một câu tiếng Anh nào đúng Văn Phạm dù là những câu rất thông thường đơn giản, kể cả nhưng từ thông dụng, cũng không viết đúng chính tả tiếng Anh. (!) Còn buồn cười hơn, các Sinh Viên người Anh chính hiệu cũng nói trật cả tiếng mẹ đẻ mình, Anh ngữ! Kém hơn mấy cô cậu mũi tẹt đang học lớp vỡ lòng bập bẹ nói tiếng Anh! Có lẽ họ lo học tiếng Việt nhiều quá, mà quên luôn cả ngôn ngữ ông cha, như người Tàu sinh trưởng trên đất Việt và chưa được học tiếng Hoa! Thế mà loại tác phẩm đó vẫn được bày bán khắp vĩa hè thành phố! Thông thái, ra thông thái, dốt nát ra dốt nát, dở dở ươn ươn, ưa khoe mẽ, chỉ là chuyện khôi hài lố bịch!

C. Khi sử dng Ngôn ngữ chuyên bit, cần phân đnh rõ thế nào là Dân chủ, là Quân chủ :

Người ta còn lầm lẫn giữa Văn Hóa và Dân chủ. Việc hội nhâp Văn hóa hiện đại, ta cần phải điều chỉnh một số danh từ có tính phong kiến lỗi thời, không còn phù hợp ngày nay, như bẫm, trình, dâng, tấu. Nhưng không có nghĩa vì ý thức Dân chủ hóa mà thay đổi các Đặc ngữ cho “hợp thời trang”! Ngôn ngữ Cung Đình, là hệ Văn Hóa Thời Đại, Ngôn ngữ Tôn Giáo, là hệ Văn hóa Biệt dụng. Đừng vì quan niệm “Dân Chủ” mà thay đổi cung cách xưng hô trong biên dịch Phúc Âm, soạn Kinh Lễ như nhiều nhà biên dịch từng lầm lẫn, không phân biệt được ý nghĩa Văn hóa với Địa vị xã hội của một Chủ Thể ngày Xưa lẫn ngày Nay, thời Quân chủ và thời Dân chủ.

Trong sáng tác, dịch thuật, vẫn còn những nhà làm Văn hóa Việt-Nam, nhiều Tác giả, Dịch giả và Đạo diễn tuồng cổ hay sách truyện Giả sử, sử dụng danh từ, ngữ nghĩa cũng chẳng khá hơn, cung cách xưng hô không đúng thì đúng lúc. Người ta quan niệm rằng, muốn hội nhập văn hóa cho hợp với tinh thần Dân Chủ Hiện Đại, là cải bỏ mọi danh từ xưa, nhưng họ không phân biệt được thế nào là “Ngôn ngữ Cung đình”, “ngôn ngữ chuyên biệt”, “Ngôn Ngữ Thời Đại”, nói chung dó là loại “Đặc Từ”.  Các nhà Văn hóa đã không nắm được cách xưng hô thế nào cho hợp theo từng thời đại, sử dụng ngôn từ đúng vị trí của nó mới lột được tâm tư tình cảm một ý văn. Phần nầy, chúng tôi cũng đã đề cập đến trong Thỉnh-Nguyện Thư  (đd).

 Đơn cử “Ngọn Nến Hoàng Cung”, một truyện phim Giả sử nhiều tập. Có tính nghiên cứu Lịch sử súc tích, khá trung thực khi diễn tả tâm trạng BẢO-ĐẠI trên ngôi vị Hoàng Đế cũng như khi làm Quốc Trưởng, đã thổ lộ nhiều tâm tình, thái độ, cử chỉ rất phù hợp với tâm trạng từng thời. Ông đã lặp lại câu nói của Hoàng Hậu Nam-Phương khi tuyên bố thoái vị: “Thà làm Dân một nước Độc lập, hơn làm Vua một nước Nô lệ” đã trở thành nổi tiếng. Nhìn chung, bộ phim đã từng gây ấn tượng cho khán thính giả trong cũng như ngoài nước ngay từ những đoạn phim đầu cho đến phần cuối! Có thể nói đã đạt được một sự thành công ngoài mong muốn.

Tuy nhiên Nhà Biên Soạn hay Đạo Diễn, nếu đã nghiên cứu kỹ hơn, đã sử dụng đúng Ngôn ngữ Cung Đình, không làm chói tai Khán, Thính giả, thì Bộ Phim đã là một viên Ngọc Bích có thể nói là toàn mỹ, không bị những vết rạn, đánh mất giá trị một công trình Văn hóa Lịch Sử có thể xem là hoàn chỉnh. Nhất định Soạn Giả, Nhà Đạo Diển và các Diễn Viên sau nầy sẽ không khỏi hối tiếc bao công lao sức lực, lại đã sơ hở đánh mất sự toàn mỹ của nó một cách không đáng có.

Trong Vương triều mọi thời, chưa bao giờ có cách sử dụng ngôn từ Anh, Em, Mẹ, Con, Ba, Má của đời thường như lối xưng hô giữa Đức Từ Cung, Hoàng Đế BẢO-ĐẠI và Nam-Phương Hoàng Hậu. Trong đối thoại, tại Cung đình nhất nhất bao giờ cũng là “khải bẫm” Mẫu Hậu, “muôn tâu” hoặc “tâu” Thánh Thượng, Hoàng Thượng, Bệ Hạ. BẢO-ĐẠItự xưng là Trẫm, là Quả nhân. Hoàng Hậu xưng là Thần Thiếp dẫu khi Cựu Hoàng BẢO-ĐẠI đã thoái vị… Đó là ngôn ngữ Cung Đình, Văn Hóa Thời Đại.

Nội cung vẫn không thay đổi cung cách xưng hô truyền thống trong phạm vi Hoàng tộc. Cách xưng hô Mẹ, Con, Anh, Em đã chưa bao giờ xảy ra. Dù thoái vị, Hoàng Tộc vẫn xem Quốc Trưởng BẢO-ĐẠI còn là Hoàng Đế của cả vùng Cao nguyên, là “Hoàng Triều Cương Thổ” của Hoàng Đế BẢO-ĐẠI, do Chính phủ Pháp cấp làm đặc quyền đặc lợi cho Nhà Vua. Khi vừa về nước chấp chánh, Thủ Tướng NGÔ-ĐÌNH-DIỆM đã ban hành Sắc Lệnh hủy bỏ “Hoàng Triều Cương Thổ”, sát nhập vào lãnh thổ Quốc gia, không còn là tư sản của Hoàng Đế BẢO-ĐẠI từ khi chưa lên ngôi Tổng Thống. Đã không thiếu Đạo diễn đưa Tuồng xưa lên phim ảnh, do thiếu nghiên cứu chuyên sâu về Ngôn ngữ Thời Đại, thường khi tạo cho người nghe chói tai, khó chịu. Các từ ngữ “thưa, bẩm, trình, dạ” không bao giờ có tại Cung đình như “Thưa Bệ Hạ”, “bẩm Thánh thượng”, “Thưa Vua”, “Xin vâng”… !!! Tại Cung đình đã có Ngôn ngữ Cung đình chuyên biệt, bất biến: Chúng thần, Hạ thần, Chúng thần, Hạ thần xin Tuân chỉ… Tâu gởi lên Thái Hậu, Hoàng Hậu chỉ dùng từ “Khải bẩm”, “khải trình”.

Khi nhại lặp không đúng Ngôn ngữ Cung đình, Ngôn ngữ Tôn Giáo, đã đủ nói lên trình độ chuyên môn, ý thức Văn hóa và tầm hiểu biết của Nhà Biên kịch, Dịch thuật, Đạo diễn còn nhiều hạn chế, vô tình biến nó thành “hài kịch”. Nhà Vua xưng hô với Triều Thần là “Khanh”, “Các Khanh” không bao giờ là “Ái Khanh”, “Các Ái Khanh”, một biệt từ chỉ dành riêng cho Hoàng hậu “Ái Khanh, Ái Hậu” và Phi tần là “Ái Phi” mà thôi. Không khác khi đóng một vai Lm. lại đọc: “Nhân danh Cha, Concác Thánh Thần! Nghe rất khó chịu và ngứa tai. Các Ni Cô, Nữ Tu vẫn bôi môi “đỏ chót”, móng tay, móng chân sơn phết đủ màu, xem cũng không kém phần ngứa mắt! Đến cả ngày nay, các Tác giả, Đạo diễn, Biên dịch vẫn chưa thấy được những chấm đen còn tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật văn hóa của mình sai với ngôn ngữ Thời đại. nó biểu hiện nền Văn hóa cá biệt của từng Thời, từng lúc, từng Cộng đồng Tôn giáo. Không được lẫn lộn Ngôn ngữ thời đại với cách xưng hô đời thường trong giao tiếp. Không tân tiến hóa Ngôn ngữ Cung Đinh và Tôn Giáo trong phạm vi của nó.

Một diễn viên đóng vai anh Bộ Đội Bác Hồ tại miền Bắc trước Giải phóng, đã trưng khoe chiếc đồng hồ “Seiko 5” đang đeo trên tay mình! Loại đồng hồ chỉ ở miền Nam lúc bấy giờ mới có. Ngay cả các Viên chức Nhà nước cao cấp đương thời tại miền Bắc vẫn chưa hề biết đến (!) khác nào một người đóng vai Hoàng Đế Quang Trung, lại diện bộ cánh “Côm-lê’, “Cà vạt”, “Giày Tây” như Vua DUY-TÂN, PHỔ-NGHI là hỏng! Tự nó đã trở thành lố bịch, đánh mất sự thật và nét Văn Hóa đặc trưng Thời đại. Đã đủ cho thấy các nhà Biên kịch, những nhà Đạo diễn, vẫn không phân biệt được Văn Hóa Thời Đại và Văn Hóa Hiện Đại, thì chưa thể được xem là Đạo Diễn chuyên nghiệp. Thiếu khả năng nghiên cứu và trình độ văn hóa cần phải có, để giảm bớt những sai sót đáng tiếc, khiến nó biểu hiện sự lố bịch khôi hài.

Các nhà Đạo diễn tên tuổi, các nhà Biên soạn tuồng kịch thời danh trên thế giới, đã biết tìm tòi nghiên cứu phong tục tập quán, lời đàm thoại, lối xữ thế, ăn khớp tửng thời điểm, từng địa phương, từng cung cách mỗi nhân vật và theo từng dân tộc, đã là yếu tố thành công của họ. Đừng nghĩ rằng xưng hô Muôn tâu, Khải bẩm là lạc hậu, lỗi thời, thủ cựu! Không làm được như thế, là những người không đủ trình độ, thiếu chuyên môn, chỉ là những thành phần nghiệp dư mà thôi. Không biết sử dụng danh từ đúng thời, đúng chỗ, mới là lạc hậu, là biểu hiện một sự “Sai Lầm Văn Hóa.

Cũng thế, hiện nhiều Văn nhân, Tác già, Biên dịch, Chuyên viên lồng tiếng, Người thuyết minh vẫn còn lẫn lộn quá nhiều “Ngôn ngữ Tôn-Giáo”. Họ vẫn chưa cảm nhận được những loại “Biệt Từ” được mỗi Tôn Giáo sử dụng riêng cho mình, cái mà các nhà Văn hóa cần phải biết. Người ta vẫn còn dùng danh từ “Tăng Lữ” để chỉ Hàng Giáo Phẫm Giáo Sĩ Công-giáo và Mục sư Tin-lành. (!) Trong khi Tăng Lữ là biệt ngữ chỉ về Chư Tăng, Thượng Tọa Phật Giáo (Buddhist follower) mà thôi. Trái lại họ cũng từng gọi Chư Tăng Thượng Tọa là Giáo Sĩ, Giáo Phẩm (Clergé, Clergy) như có trong vài Công văn, Tác phẩm kể cả một số Từ điển ngày nay đã lầm lẫn, sai nghĩa, đều không đúng Biệt Từ Phật Giáo. Linh Mục (Priest), Thầy Dòng (Christian brother) không thể lẫn lộn với Thầy tu (bonze). Trong thuyết minh hoặc dịch thuật tuồng xưa, một Nhà Sư Phật Giáo phái Thiếu Lâm Tự…, đã được xưng hô là “Pháp sư” trong lời Thuyết minh, Lồng tiếng! Pháp sư không có nghĩa Chư tăng, thượng tọa, nhưng đó là loại Thầy pháp, Thầy mo, thầy Phù thuỷ (powwow). Khâm châu Cao-Đài, không phải Thượng Tọa Đại Đức. Nữ Tu Sĩ (Religieuse), Bà Phước (Soeur, Sister) khác với Ni Cô (Buddhist nun). Giáo dân, Giáo hữu, Bổn Đạo, Tín hữu (Công-Giáo), Ki-Tô-Hữu chỉ chung Tín hữu CG, Chính-thống, Anh-Giáo và các hệ phái Tin-Lành. Đạo hữu chỉ riêng tín đồ Cao-Đài. Dùng từ Đạo Hữu để chỉ Giáo dân Công giáo, Tin Lành,  Phật tử là danh từ “quá mới”. Gọi chung Giám mục, Linh mục, Mục sư, Chư tăng, Thượng Tọa là hàng “Chức Sắc” là sai bét. Hàng Chức sắc là Cấp Lãnh Đạo Cao-Đài, Chư Tăng chỉ để xưng hô với giới chức Tu hành Nhà Phật. Giáo phẩm, Giáo sĩ là Chức danh các cấp lãnh đạo tinh thần Công Giáo, Chính Thống và Anh Giáo. Hội Đồng Giáo xứ Công Giáo trước đây có Đặc từ là Hàng Chức Việc. Kể cả Ban Trị sự các Khuôn hội Phật Giáo cũng không không thể hiểu là Chức Sắc Phật giáo như Đạo Cao-Đài.

Nói chung nó không khác các từ ngữ chuyên môn trong từng ngành Học thuật, được gọi là “Danh từ Khoa học” (Scientific jargon), “Danh từ Luật học” (Legal jargon), “Danh từ Vi tính” (Computer jargon) v.v…. khác với Ngôn ngữ Phổ Thông quen dùng tổng hợp trong đại chúng. Sử dụng không đúng danh từ thuộc Ngôn ngữ Văn Hóa chuyên biệt, Ngôn ngữ Cung Đình, Ngôn ngữ Thời đại, Ngôn ngữ Tôn Giáo, dễ gây sự khó chịu cho Độc, Khán, Thính giả thuộc giới Hoàng tộc, Tôn Giáo, Chuyên khoa. Đối với các Nhà Văn Hóa lớn, các Sử Gia, các Nhà Ngôn ngữ học tiền bối, lại còn gây nhức nhối hơn.

Công Giáo chỉ Truyền Giáo trên nguyên tắc Phổ Biến Tín Lý rộng rải trong Đạo, ngoài Đời bằng cách giới thiệu Phúc Âm với mọi người. Đó là một hình thức “Quảng Bá Phúc Âm”. Đã không thiếu người nhầm lẫn ngữ nghĩa danh từ nên đã dùng từ “Tiếp Thị Phúc âm”! Giáo Hội Công Giáo không bao giờ biết Quảng cáo, Tiếp thị, Tuyên truyền, Hoa ve, Vẽ vời, Mua chuộc,  Mê hoặc hay Nhồi sọ bất cứ ai. Tinh thần truyền giáo không phát xuất từ Thị trường, Phim ảnh, Cải lương, Hát bội.

Chúa GIÊ-SU đã đành lòng bỏ lại 99 con chiên để đi tìm một con chạy lạc. Người vuốt ve âu yếm từng con chiên ghẻ lát, nhưng không khuyến dụ, mua chuộc, cũng không khóa cửa ràn hay xích chân những con chiên phá chuồng, trốn chạy. (xx. Thỉnh Nguyện Thư 8.12.2010 đd, Tiểu mục III Hội Nhập Văn Hóa Dân Tộc, tiết 2, trg. 59).

XIX. NGUYỆN VỌNG

Chúng tôi hết lòng trông chờ Hàng Trí Giả và Cộng Đồng Người Việt khắp bốn phương trời, trong nước cũng như Hải Ngoại, kiên quyết lên tiếng cách thẳng thắn và dứt khoát hơn nữa, để cứu nguy tinh thần Văn Học Việt-Nam đang bị tàn phá.

Cách riêng chúng tôi tha thiết kêu cầu Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Gia, nhất là Quốc Hội nước CHXHCNVN nên có thái độ rõ ràng đối với việc làm vô nguyên tắc, vô ý thức của Bộ Giáo Dục vẫn còn mưu đồ phá hoại có tính quy mô đại trà, muốn xâm nhập vào hệ thống Giáo Khoa ngày nay. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cần tự mình sửa sai gấp những gì cần sửa, để tinh thần tôn trọng tính giáo dục trong lòng Giới trẻ ngày càng cao, hơn là tự tôn cố chấp, quyết ăn thua với hết mọi người. Cầu xin Nhà nước, Chính Phủ dừng buông xuôi mọi sự như khách bàng quan ngoại cuộc. Đừng để Ngành Sử Học Việt-Nam một ngày mai phải kết tội Bộ GD&ĐT có ý thức hủ hóa đất nước theo chính sách ngu dân.

Ngày 31.7.2012 Tác giả XUÂN-HUY có viết trên một trang Báo Công Giáo & Dân Tộc, đã đánh giá một Cơ quan chuyên ngành của Nhà Nước: “….. Cái ngành có tình hình trông giống với ngành giáo dục, cứ ‘hết chuyện nầy lại đến chuyện khác, triền miên bất tận, lôn xộn đủ điều’…. dùng một sai lầm nầy để chữa cho một sai lầm khác…chẳn có một chủ trươngđường lốigiải pháp gì căn cơ hay nhất quán cho ra hồn cả!… Hàng chục năm nay, báo chí phanh phui rất nhiều vụ việc ‘có vấn đề’… nhưng mọi việc thường chỉ ì xèo được lúc đầu để sau đó là một khoảng lặng, ‘chìm xuống’, rồi đi vào quên lãng để chờ… một vụ việc mới khác nữa xảy ra, mà không nghe thấy có cơ quan chức năng nào chịu trách nhiệm hay bị xữ lý đến mức đưa ra tòa xử cả… Đúng hơn thì cũng có xữ lý… kỷ luật dưới hình thức ‘kinh điển’ rồi chuyển sang công tác khác để tiếp tục gây hại trên những môi trường khác…”

Tác giả kết luận: “Do những biểu hiện về cách làm việc vô trách nhiệm theo các kiểu như trên, chúng ta sẽ không lấy làm lạ mà hoàn toàn có thể giải thích được tại sao… khi ra trước Quốc hội cứ hứa khắc phục nầy nọ mãi mà thực tế chưa bao giờ thấy cải thiện điều gì coi được, nếu không muốn nói còn để cho tình trạng bất mãn trong dân ngày càng gia tăng đến mức kinh ngạc“.    

Hoặc Bộ GD&ĐT xét thấy một ai đó, có đủ khả năng tạo được một hệ thống chữ Quốc Ngữ văn minh, tiến bộ hơn hơn 2 Nhà Văn Hóa Thiên Phú Kỳ Tài ĐẮC-LỘ TRƯƠNG-VĨNH-KÝ,cộng với công sức của các Nhà Văn Hóa Tiền Bối đã dày công nghiên cứu và xây dựng nền Văn Học Việt-Nam qua hàng Thế kỷ cho đến ngày nay, xin hãy công khai công bố trước Dân Tộc Việt-Nam và loài người trên thế giới: Chữ Tân-Quốc-Ngữ hiện nay đã lỗi thời, đã lạc hậu, đã đến lúc bất khả dụng”, cần phải loại bỏ. Nếu họ có đủ tài năng xuất chúng như thế, cần cho phép và khuyến khích họ sáng tạo một hệ thống chữ viết khác tân kỳ hơn, nhưng tuyệt đối hình thức bôi trét, vẻ vời, đạo văn không được xuất hiện trên hệ thống Chữ Tân-Quốc-Ngữ đương hành. Một hành động xâm phạm trắng trợn quyền Tác Giả của Cố Giáo Sĩ A-LỊCH-SƠN ĐẮC-LỘ, Bản quyền vẫn còn thuộc Dòng Tên Việt-Nam, trên Thế giới và Giáo Hội Công Giáo Việt-Nam bảo vệ. Đặc biệt các Nhà Mô  Phạm, các Nhà Văn Hóa, các Nhà Ngôn Ngự Học, các Học Giả cùng đồng tình “Bảo Vệ” đã được phân tích cụ thể như trên.

Dẫu rằng Nhà Toàn-Cầu Bác-Học Danh-Gia TRƯƠNG-VĨNH-KÝ có tái thế theo thuyết “Luân Hồi” của nhà Phật, cũng không đủ tư cách thay đổi một nét nào các Quy tắc cấu trúc Mẫu Tự La-Tinh trong hệ thống Từ điển Tiếng Việt nguyên tuyền của Cố G/sĩ ĐẮC-LỘ, chứ đừng nói chỉ một chữ ký ngây ngô của vị Bộ Trưởng Giáo Dục lại có đủ thẫm quyền thay đổi Quy tắc cấu trúc Chữ Viết một Dân Tộc.

Ta cần cảm thông với Tiên Sinh NGUYÊN-HỮU-NGƯ, có xu hướng Cách Mạng Văn Hóa đã phải vĩnh biệt cỏi trần tại “Dưỡng Trí Viện” Biên-Hòa. Ta không thể phát động lại Phong trào điên loạn, để biến cả nước trở thành một Dưỡng Trí viên Vĩ dại cho một Cộng Đồng Người Việt Loạn thần (psychotic illness)! Hãy khép lại thời điểm các thế hệ Trí thức Trẻ ngày nay, lớp con em hậu sinh phải lên tiếng than phiền vì ray rứt như chúng tôi đã trích dẫn ở trang 8. Đó cũng là điều đáng cho các Quan chức Văn hóa nên quan tâm.

Dẫu biết rằng, với một trình độ văn hóa bình dân như chúng tôi, viết không lưu loát, thiếu tế nhị, không nhẹ nhàng, đọc đau mắt, nghe chói tai, có thể khó nuốt. Nhưng trước những con người có mắt không muốn thấy, có tai không muốn nghe, có trí không muốn hiểu, thì lối văn cục mịch nầy có thể dễ thấm hơn. Những phần tử cứ theo định kiến lỗi thời vô tâm, thù hận vô căn cứ, quyết tâm gạt bỏ G/sĩ ĐẮC-LỘ, Vị Ân Sư Độc nhất và Duy nhất của Dân Tộc, một Nhà Sáng lập Chữ Tân-Quốc-Ngữ, ra khỏi tầm ảnh hưởng Văn Hóa Việt-Nam, xin thưa đó cũng là một mộng ảo giữa ban ngày trong thời điểm Văn minh nầy. Họ đã tùy nghi chặt cánh, thêm râu, bôi phết thành một bức tranh Văn học hỗn độn, một hình thức lộng hành, cướp công, phá hoại, là chính họ đã trực tiếp phá hoại Tổ Quốc, thì không ai có thể tự cho phép mình quyền thinh lặng và nhẹ nhàng hơn được nữa. Đã đi với Phật, hãy mặc Áo Cà sa, nhưng khi đi với Ma ta cần thay Áo Giấy. Cách riêng đối với lớp người sống vô tri vô cảm, bất kể trình độ văn hóa họ cao thấp thế nào!

Gs. PIERRE DARRIULAT từng sinh sống tại VN suốt 11 năm qua, theo kinh nghiệm đã nêu lên một số ý tưởng về cải cách Giáo dục ở Việt-Nam với thái độ dứt khoát trước sự bức xúc của mình. Cùng một sự đồng cảm với Gs, chúng tôi thấy đã đến lúc cần phải mạnh dạn hơn, dứt khoát hơn khi liều mình viết bài nầy. Tưởng nghĩ cũng đã đến lúc như thế, thì đành phải thế, dù hậu quả có thế nào.

Giáo Sư DARRIULAT nhận định: “Ở Việt Nam, tôi được biết về các loại gỗ mới, cứng như thép. Để đóng một cái đinh lên chúng, bạn cần phải đập hết lần này đến lần khác mà vẫn khó nhận thấy sự dịch chuyển. Mỗi nhát búa chỉ làm nó nhích vào thớ gỗ ít hơn một milimet, và mỗi lần đập lại là một lần chiếc đinh có nguy cơ bị quằn đi. Ở Việt Nam, tôi đã học được ý nghĩa của cụm từ “dần dần từng bước một”.…… đó không phải là ý tưởng của riêng tôi mà bất cứ ai có một chút kinh nghiệm với giáo dục đại học và nghiên cứu cũng sẽ nói những điều tôi đã nói… mặc dù tôi tin rằng tất cả những điều cần phải nói đã được nói và chúng đã được lặp đi lặp lại nhiều lần, và đó là những điều đã được nói đến nhiều năm nay bởi rất nhiều người Việt có kinh nghiệm, có năng lực và hiểu biết hơn tôi và rằng đã đến lúc phải lắng nghe họ. Không người nào điếc hơnngười không muốn nghe, không người nào mù hơn người không muốn nhìn.Chúng ta cần một chiếc búa lớn hơn… và những gì chúng ta cần bây giờ không phải là nói nữa mà làhành động. Hy vọng thêm một nhát búa nữa sẽ không hại gì và chiếc đinh sẽ không bị quằn… …

“Thật vậy, không khó để có thể xác định được những cái cần phải thay đổi. Đó không phải là vấn đề về quan điểm mà là vấn đề về lương tri vàsự trung thực, vấn đề về tính nghiêm ngặt của tri thức và đạo đức… Những gì họ nói có thể được tóm lược lại thành bốn câu: chúng ta phải dừng việc nói một đằng, làm một nẻo; chúng ta phải khôi phục lại phẩm giá cho giới trí thức và học giả; chúng ta phải có kế hoạch rõ ràng cho nghiên cứu và giáo dục cho tương lai; chúng ta phải chấm dứt nạn chảy máu chất xám. (Gs Darriulat nhắc lại ý Đại Tướng Võ-Nguyên-Giáp và Gs. Hoàng-Tụy. MV chú thích).

“Người ta nói rằng đến năm 2020 Việt Nam sẽ đào tạo được hai mươi ngàn tiến sĩ mới. Tôi đã mất mười năm để đào tạo ba tiến sĩ. Thử hỏi, chúng ta tìm đâu ra được hơn năm nghìn giáo sư những người có thể dành thời gian hướng dẫn và đào tạo một số lượng lớn nghiên cứu sinh như vậy? Tuyên bố thực hiện mục tiêu đầy thử thách này cần phải giải thích về cách thức để đạt được mục tiêu đó. Tháng mười hai năm ngoái, một sinh viên của tôi đã bảo vệ luận án tiến sĩ tại một trường đại học uy tín của Pháp. Cô ấy đã xuất sắc, nhận được đánh giá cao từ hội đồng chấm luận văn. Luận án đã được thực hiện theo bản thoả thuận ký kết trước đó giữa Việt Nam và Pháp: bản thoả thuận ghi rõ cách tiến hành thực hiện luận án để công bằng cho cả hai nước, nghiên cứu sinh dành thời gian thực hiện luận án ở cả Việt Nam và Pháp và sẽ nhận bằng tiến sĩ do cả hai nước cấp. Cô đã nhận được bằng của Pháp từ lâu nhưng vẫn chưa nhận được bằng của Việt Nam vì gặp phải khó khăn với những quy định lỗi thời có lẽ đã được soạn thảo cho những năm năm mươi của thế kỷ trước nên hoàn toàn bất hợp lý trong thế giới khoa học hiện nay.

“Một cách ngây thơ, tôi đã nghĩ rằng đáng lẽ đại học Việt Nam phải rất vui mừng và tự hào khi có một luận án tiến sĩ thực hiện dưới dạng hợp tác đồng hướng dẫn với một trong các trường đại học uy tín nhất châu Âu. Nhưng không phải như vậy. Ông hiệu trưởng của trường, một người đầy hiểu biết mà tôi rất tôn trọng, đã làm hết sức để giải quyết vấn đề, nhưng ngay cả ông, người đứng đầu hệ thống phân cấp, cũng không thể thay đổi các quy tắc đã trở nên hoàn toàn không phù hợp trong bối cảnh hiện tại. Quy tắc được tạo ra để được tôn trọng khi chúng có ý nghĩa và cần phải được thay đổi khi trở nên lạc hậu. Nhưng ngay cả hiệu trưởng cũng không có đủ thẩm quyền để thay đổi quy định để làm cho chúng trở nên tốt hơn. Vậy ai là người có khả năng? Làm sao chúng tacó thể hy vọng có một trường đại học Việt Nam lọt vào top 200 trường đại học của thế giới vào năm 2020 như đã tuyên bố trong khi chúng ta thậm chí không thể sửa đổi những thiếu sót hiển nhiên như vậy? Bất cứ ai yêu khoa học đều nhạy cảm với vấn đề đạo đức học thuật. Tính chính xác của tri thức luôn gắn liền với sự nghiêm túc về đạo đức.Trong khoa học, gian lận là tự sát.

“Nhưng tôi tin chắc rằng đã đến lúc chúng ta phải hành động, phải tạo cơ hội cho thế hệ trẻ tham gia nhiệt tình vào thời kỳ phục hưng trí tuệ của đất nước bằng cách thúc đẩy mạnh mẽ giáo dục đại học và nghiên cứu. Thế hệ trẻ không trải qua sự áp bức thuộc địa, họ không trải qua các cuộc chiến tranh, họ không biết đến những năm tháng khó khăn sau chiến tranh, họ là những người con của Đổi Mới. Chiếc búa lớn hơn mà Việt Nam cần đang ở trong tay họ. Chúng ta đừng bỏ lỡ cơ hội này và chúng ta hãy làm hết khả năng để động viên, giúp đỡ và hỗ trợ thế hệ trẻ. (<http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=3950 &CategoryID=6”>).

Trả lời PV. SƠN-KHÊ, GsTs. TRẦN-TRÍ-DÕI, Chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ học (NNH) – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà-Nội, cũng đã cho rằng dù rất muốn cải tiến chương trình đào tạo sau đại học cho phù hợp hơn nhưng Trường “đành bó tay” vì cơ chế quản lý của Bộ Giáo dục Đào tạo quá lạc hậu. Đúng là các tư tưởng lớn, dù Đông hay Tây cũng đều gặp nhau trên một điểm.

Lãnh đạo Bộ Quốc-Gia Giáo-Dục, ngày nay là Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, đã nắm giữ một “Thiên Chức”, đóng một vai trò quan trọng trong Đào tạo “Trồng người” và phát triển Văn Hóa, bảo tồn và củng cố nền Văn học Dân tộc là “Linh hồn của Tổ Quốc”. Với một Thiên chức nặng nề và vô cùng cao quý như thế, thì đòi hỏi Cấp Lãnh đạo phải có một trình độ thật khôn ngoan và thông thái, có nền tảng Văn hóa tối ưu, mới đóng được vai trò Làm Thầy các Bậc thầy của toàn Dân Tộc. Thay vì phải có một kiến thức tầm cỡ “Học Giả” Quốc tế, thì trái lại Vị Bộ trưởng GD&ĐT nước CHXHCNVN ngày nào chỉ có trình độ một “Gia Sư Cấp II Trung Học” không hơn kém!

Một Nhân vật cán đáng vai trò Lãnh Đạo nền Văn hóa một đất nước là thế! Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục xem ra còn tệ hơn một Giáo Viên Tiểu học Vùng sâu vùng xa! Lớp Giáo viên nầy còn cần phải đổ Tú tài, chứ không phải trình độ lớp 11 và phải có chuyên môn tối thiểu là qua đào tạo, có được Chứng chỉ Sư Phạm Trung cấp! Thì ra, Tướng LƯU-Á-CHÂU, Chủ nhiệm chính trị bộ đội Không quân Quân khu Bắc Kinh cũng đã có nhận định rất xác dáng và cũng khá bất ngờ khi đánh giá: Có đầu óc thì không có chức vụ, có chức vụ thì không có đầu óc”. Đã rất ám hạp với tình trạng văn học nước ta! Phải chăng là một cặp song sinh giống nhau như hai giọt nước!

Tuyển bổ một Y tá làm Bộ Trưởng điều hành Bộ Y Tế Quốc gia là một điều khó hiểu, cơ hồ một Cứu Thương viên, một ông Lang băm, thì hậu quả sẽ như thế nào, không ai cần suy luận. Họ đều là những nạn nhân ngu dốt bị áp đặt đảm trách những chức vụ trọng yếu để đưa Xã hội đi vào tự diệt, thì đáng thương hơn đáng trách!

Cảm thông với những ai đã quan tâm và cùng thao thức cho nền Văn Hóa nước nhà đang quay đầu trở về Thế kỷ XVII! Chính nó cũng đang đồng hành với các tư tưởng Cấp tiến ba xu, đề cao kiểu Hội nhập Văn hóa Tàu. Đều là những vết hằn ngựa hoang thời nghìn năm Nô lệ, được phủ lên một danh từ Hoa mỹ trong mọi hành động “Trở Về Nguồn”! Trở về nguồn “SĨ-NHIẾP”.

Hỡi toàn khối Cộng Đồng Người Việt, hãy bảo vệ Truyền thống Dân Tộc thuần khiết từ muôn đời Tiên Tổ Ông Cha để lại. Mọi tập tục Văn hóa Nô lệ cần phải chôn sâu vào lòng đất, để Dân Việt không phải triền miên nhìn thấy và chịu đựng những hình ảnh tủi nhục dưới gót giày của bọn Thái thú Tàu vô nhân tính. Bao hình ảnh đen tối rợn rùng như mơ màng như phản phất đâu đây, tưởng chừng là vô tận, khó thể xóa nhòa!

Truyền thống Văn Hóa Dân tộc Việt-Nam ngày nay chỉ còn chiếc Áo dài Phụ nữ, chiêc Khăn đóng và chiếc Nón Gò-Găng, nhưng dần dà cũng đã biến dạng. Lễ nhạc, Quan, Hôn, Tang, Tế theo nghi thức Giao-Chỉ đã hoàn toàn bị tẩy sạch cả rồi! Văn hóa Việt-Nam không thể để bất cứ một áp lực ngoại bang nào còn thọc tay vào khống chế, mưu đồ tẩy chay Hệ thống Văn học Quốc ngữ là nền tảng Văn hóa đích thật của một Dân tộc. Không để một ai biến nó trở thành tạp nhạp, hỗn độn, lai căng dưới mọi hình thức ngu đân, để bảo thủ Văn Minh Nho Giáo, tiếp tục cam chịu một nền Văn hóa Nô lệ nối dài!

Cách riêng, chúng tôi cũng xin Lm. Giám Tỉnh Cộng Đoàn Dòng Tên Việt-Nam ghi nhận rằng, tâm tình người Việt đang cần Cộng Đòan Dòng Tên, một Cộng đoàn duy nhất đầy đủ tính Pháp lý, chính thức có tư cách Thừa kế Quyền Tác Giả của G/sĩ ĐẮC-LỘ, can thiệp ở mọi nơi, bằng mọi giá, công khai và kiên quyết bảo toàn Quyền Tác Giả của G/sĩ ĐẮC-LỘ, để bảo vệ nền Văn học Việt-Nam đang bị phá hoại rất ư là Ngu Í.

Chúng con cũng thỉnh cầu Hội Đồng Giám Mục Việt-Nam hổ trợ Dòng Tên trong thiên chức bảo vệ quyền Đồng Tác giả của Giáo Hội Công Giáo Việt-Nam. Xin hãy đủ can đảm với tiềm lực tinh thần sẵn có, cần chận đứng ngay mọi hành động phá hoại của lớp người nối khố “Học Giả Dưỡng Trí Viện” Biên-Hòa ngày nào, đang manh nha “Khai Hóa” Dân Tộc theo chiều hướng tâm thần! Cần cảnh cáo lớp người “Trí Thức” đang lợi dụng ngành Giáo Khoa, chuyển biến thế hệ trẻ trở thành những “Quái thai” Ngu Í, đúng danh xưng và ý nghĩa của nó, phát xuất từ tiềm thức bản thân ông ta theo cảm nhận của riêng mình. Không ai hiểu mình và đánh giá mình đúng hơn chính mình tự hiểu và tự đánh giá lấy mình! Cộng đồng Dân tộc Việt không bao giờ chấp nhận kiểu kế thừa ngu ý toàn diện và vĩnh viễn.

Việc biếu tặng, bán mua không có nghĩa đã mất quyền Tác Giả. Một bức họa, một bản nhạc, bài thơ do mua bán hay biếu tặng, thậm chí đã bán bản quyền cho Nhà Xuất Bản, chủ sở hữu có quyền xé đốt, bỏ sọt rác, gói bánh kẹo, làm giấy vệ sinh,  nhưngkhông được quyền tùy tiện canh vẻ, bôi phết, chỉnh sửa, tẩy xóa, thêm bớt vào tác phẩm đó một cái phẩy, một dấu chấm hay bằng bất cứ hình thức nào. Đó là hành động vi phạm và xúc phạm Quyền Tác Giả. Không một Luật Pháp Quốc gia lẫn Quốc tế nào cho phép. Dù còn sống, hay phải ra đi, chúng tôi vẫn xác định đây là Quy luật của Quốc Gia và Quốc Tế đến muôn đời.

Xin bảo toàn những nét độc đáo một hệ thống “Chữ Tượng Thanh” của thế giới dương đại. Một lối viết tỉ mỉ và tinh vi có đủ âm sắc và âm lượng mà G/sĩ ĐẮC-LỘ đã sưu tầm soạn thảo cách hoàn chỉnh đến như tuyệt đối. Đã trở thành một Bản nhạc Đại chúng không Khung không Nốt, như sự đánh giá của nhiều Học Giả tên tuổi cổ kim.

Một câu nói tiếng Việt là một lời ca tự phát. Một bài viết là một bản nhạc thiên nhiên, có đủ âm hưởng du dương, tuy không có độ ngân của đàn hơi cho Phong cầm, độ rung của đàn dây cho Vĩ cầm, nhưng đã đủ thanh âm trầm, bổng, cắt, thả, ngắn, dài không kém bản nhạc có khung nốt, ẩn hiện những ký hiệu Quốc tế vô hình, không quy luật thành văn. Chữ Việt đã hội đủ một hệ thống âm thanh vô cùng uyển chuyển. Đặc tính Bác học âm thanh đó chỉ có mỗi G/sĩ ĐẮC-LỘ là người duy nhất cấu thành, không một thiên tài thứ hai nào sáng tạo được một khung hình Nhạc nói thứ hai cho tiếng Việt.

Cảm nhận được cái tinh túy đó, nên Gs. TRẦN-TRÍ-DÕI, một trong những Nhà Văn Hóa đương đại cũng đã phải nhức nhối về một Quy định sai lầm của Bộ GD&ĐT! Nhận định của Giáo sư, chưa phải là một sự xác quyết điển hình đáng trân trọng đó sao? Chưa đủ cho các Nhà Văn Hóa Giáo Dục Nước CHXHCNVN phải lắng nghe, phải quan tâm và phải bảo trọng sao?

Bộ GD&ĐT đừng vì tự ái cục bộ để cố chấp trước Lịch Sử. Tổng Thống GEORGE WASHINTON, được xem là Vị Cha Già Dân Tộc Hoa-Kỳ, vẫn không quên lời Mẹ dạy: “Khi làm sai, con đừng sợ phải nhận điều sai, đó không phải là điều xấu, nhưng nó là lòng dũng cảm”. Bộ GD&ĐT có đủ ý thức dũng cảm như thế không? Chính vì đó mà WASHINTON đã trở thành Vị Cha Già Hiệp-Chủng-Quốc, một con người Vĩ Đại thật sự giữa Nhân loại trên Hành tinh nầy.

Cộng đồng Dòng Tên không thể và cũng không có quyền chấp nhận cho ai được tùy tiện thay đổi, bôi bẩn tác phẩm tinh thần của Giáo sĩ ĐẮC-LỘ. Nếu Vị Bề Trên Dòng Tên và HĐGMVN làm ngơ cho mặc ai dẵm đạp lên cấu trúc chữ Tân-Quôc-Ngữ là phản bội G/sĩ ĐẮC-LỘ và Cộng Đồng Dòng Tên Thế Giới. Chưa làm hết sức mình để chận đứng hành động phá nát chữ Tân-Quốc-Ngữ là Linh Hồn Tổ Quốc, tức phải mang tội với Giáo Hội và Dân tộc Việt-Nam và các thế hệ con em sau nầy. Hàng trí giả người Việt Tự do, sẽ không đành lòng im lặng để mặc tập đoàn vô văn hóa phá hoại tinh thần Dân tộc, có gây trọng tội với Tổ Tiên và Lịch sử.

Không ai cho phép bất cứ giới chức nào có quyền đánh phá vẻ đẹp tinh nguyên tính truyền thống của nền Văn Hóa Dân Tộc Việt-Nam. Cũng đã cách đây nửa Thế kỷ, Hàng Giáo Phẩm Việt-Nam cũng đã hơn một lần từ chối bất cứ một sự thay đổi nào, kể cả thêm một vài mẫu tự tương đối hợp lý, dù có cảm thấy quá khắt khe, một khi Cộng Đồng Dân tộc chưa có biểu hiện đồng tình, thì Hang Giáo Phẩm hiện nay cũng không thể không kiên quyết như các Đấng Tiền Nhiệm thời trước.

Nếu Hàng Giáo Phẩm dưới chế độ Việt-Nam Cộng-Hòa đã không kiên quyết như thế, thì chữ Tân-Quốc-Ngữ đã rách nát tả tơi từ lâu, đâu chờ đến đời “NGU-Í NGUIỄN-THỴ-PỲNH” ngày nay? Ngay cả trên các trang mạng giao lưu Quốc tế cũng đã xuất hiện nhiều nét độc đáo trong cao trào phá hoại! Phải chăng đã đến thời điểm vô phương cứu vảng, thưa Đức Tgm Chủ Tịch và HĐGMVN? Bản quyền Tác Giả luôn được Luật Pháp Quốc Gia và Quốc Tế bảo vệ nghiêm ngặt. Trách nhiệm Quyền Thừa kế Tác giả còn phải im lặng đến bao giờ?

Văn chương chữ nghĩa thuộc phạm vi Văn Học Văn Hóa một Dân tộc, một Đất nước mà người ta cố tình bôi bác, sử dụng như một trò đùa, không sợ nhục Quốc thể! Dù dưới hình thức nào và lý do gì cũng vẫn thể hiện một ý thức vô Văn hóa. Do sự thiếu hiểu biết cá nhân hay tập thể, học đòi hay bỏ mặc cho Bộ Giáo Dục CHXHCNVN tùy nghi, vẫn phải mang tội với Văn Học Sử Việt-Nam ở ngày mai. Để bất cứ ai đánh mất ý thức tôn trọng chữ Mẹ Đẻ của mình, là gieo mầm ngu dân cho tuổi trẻ, tạo ý thức coi khinh Chữ Việt là đánh mất tinh thần Việt! Xin đừng xem đó là một sự Sáng tạo Trí thức, là một hình thức “Cải Cách Trở Về Nguồn”! Ý thức đó của Bộ GD&ĐT, xin hãy trả lại cho Bộ GD&ĐT, nó không là tiềm thức của Cộng Đồng Dân Việt!

Có lẽ các Dưỡng Trí Viện Việt-Nam hiện đã quá tải, không còn chỗ để dung nạp lớp trí thức rất Ngu Ý nầy an dưỡng chuỗi ngày còn lại với những kiểu cách khác người!

Vì tinh thần bảo vệ nền Văn Học Dân Tộc là Linh Hồn của Tổ Quốc, để phá bỏ tinh thần Dân tộc đó, là hiện tượng làm suy vong đất nước, chúng tôi, một lần nữa tha thiết kêu mời Hàng Thức giả Việt-Nam trên thế giới lên tiếng mạnh mẻ hơn trong tinh thần bảo tồn nền Văn Học Dân Tộc Việt-Nam.

XX. KẾT LUẬN

Viết bài nầy chúng tôi không dám có một cao vọng nào ngoài một mơ ước duy nhất là được sống trở lại trong một Xã Hội thuần Việt có đầy đủ Bản Sắc Dân tộc, không vọng ngoại, không lai căng, không thoái hóa, không biến chất đến hỗn độn, không muốn nhìn thấy một đất nước Văn minh bị phủ lên một bộ mặt bôi bác lạc hậu phi văn hóa. Muốn được gắn bó mãi mãi với một Niềm tin và Lòng Tự Hào Dân Tộc, loại bỏ mọi hình thức phá hoại có tính ngoại lai tụt hậu, đánh mất Dân Tộc Tính của người Việt-Nam.

Với cái tuổi Ngoại Bác Tuần nầy, Tử Thần đang cầm Lưỡi hái rình rập từng giờ, không còn một mơ ước gì hơn là đem hết tâm huyết trong sức tàn lực tận của mình ra cống hiến cho Đất nước một phần bé nhỏ còn có thể, hơn là sống lây lất trong chuổi ngày còn lại, để vô tư đón chờ một cái chết do vi trùng tàn phá cũng là điều bất hạnh.

Gởi Văn bản nầy, chúng tôi chỉ trông mong Nhà Nước quan tâm nhiều hơn nữa trên mọi mặt về Văn Hóa Dân Tộc và Con Người.

Thân kính.

Sài-Gòn, Mùa hè 2012.

MINH-VÂN 

                                                                                   Đt. 0933.403.593,

Ht. <minhvansg@gmail.com>

______________________________________________________________________________

     (1) Thỉnh Nguyện Thư chúng tôi đã dâng gởi lên Hội Đồng Giám Mục và Cộng đồng Công GiáoViệt-Mam ngày 8.12.2010, giải bày một số vấn đề  nội bộ , trong đó có đoạn đề cập đến hành động xâm phạm quyền Tác Giả Chữ Tân-Quốc-Ngữ Việt-Nam.

    (2) “Hà-Nội Nghìn Năm Văn Vật” xin dừng hiểu là “Việt-Nam Bốn Nghìn Năm Văn Hiến” như đã từng có người ngộ nhận.

     (3) Chúng tôi nghĩ: người thời nay ỡm ờ thì đúng hơn, có thể do tâm trạng bức xúc nên Tg. viết lộn là “Người xưa ỡm ờ” nên chúng tôi gạch đít và in đậm nét 2 chữ Người Xưa để Bạn đọc nghiên cứu thêm. Xét ra chưa có người xưa nào đã ỡm ờ như thế cả, ngoài mỗi NGUIỄN-NGU-Í, cũng chưa phải người xưa. còn tập đoàn NGUYỄN-THI-BÌNH đều là người nay cả! Xét cho cùng cũng chỉ là cá nhân, nhưng cũng đã gây tai hại không ít cho cho nền Văn hóa hiện tại. Ngộ nhỡ có sự nhầm lẫn, hiểu sai, xin Tác giả NPÐ vui lòng lượng thứ, và mong cho tôn ý bổ sung thêm.

 

========================================================================================

Ghi chúCác đề tài chúng tôi viết có liên quan trong bài nầy, hầu hết được chuyển tải trên các Trang Mạng <cungchuavaodoi.net>, <tamlinhvaodoi.net>, <kitawebs.com>, <www. nuvuongcongly.net>. <Administrator Chủ nhật>, <clcgk.forumotion.net>, <luongtam conggiao.wordpress.com>, <tuoitreconggiao.net>, <clcgk.forumotion.net>…

Quý vị có thể truy cập bằng cách đánh tên các Nhan đề dưới đây :

– BẢN TẠM KẾT

– LỜI GIẢI TRÌNH

– MỘT PHÁT HIỆN CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC

– NHỮNG GIU-DÀ THỜI @

– TẠI SAO PHẢI ĐẶT VẤN ĐỀ Về Bài Báo của Lm. PHAN-KHẮC-TỪ

– THỈNH NGUYỆN-THƯ

– TRAO ĐỔI VỚI CHA PHAN-KHẮC-TỪ

– XIN ĐƯỢC TRẢ LỜI CỤ THỂ

– XIN HIỆP THÔNG DÂNG LỜI CẦU NGUYỆN

I.- Canh Tân Giáo Hội.

II.- Giáo Dục Ki-Tô-Giáo.

III.- Hội Nhập Văn Hóa Dân Tộc.

IV.- Hòa Hợp Tôn Giáo.

V.- Thánh Lễ Và Kinh Nguyện Giáo Dân.

VI.- Niềm Tin Và Hy Vọng. (Vào Trang Mạng “Google” “Yahoo”).

Nhưng tiện nhất, xin truy cập trực tiếp các “Tép tin” (Files) dưới đây cho mỗi đề tài chúng tôi có chua trong ngoặc đơn, có lẽ dễ dàng hơn. Tuy nhiên các hình minh họa không hiện được trên các Trang Mạng. Nếu cần đầy đủ chúng tôi sẽ gời trực tiếp qua “Meo”:

– <tamlinhvaodoi.net/categoryblog/740-thinh.html> (Thỉnh Nguyện Thư. Minh Vân. Tiếng kêu tha thiết và cấp thiết của những Con Tim Công-Giáo gởi gắm vào sự “Lắng Nghe” của HĐGM nhân Ngày Đại Hội …)

– <Administrator Chủ nhật, 23 Tháng 1 2011 14:55. THỈNH NGUYỆN THƯ> (Thỉnh Nguyện Thư 8.12.2010).

– <clcgk.forumotion.net/t2683-topic> (Bản Tạm Kết Những Phản Ứng Của Tín Hữu Trong Nước và Hải Ngoại).

– <www.nuvuongcongly.net/…/những-giuda-thời-dại-thỉnh-cầu-hội-dồn…> (Những Giu-Dà Thời @)

– <luongtamconggiao.wordpress.com/…/những-giuda-thời-dại-–-thỉnh-c>  (Những Giu-Dà Thời @)

– <tuoitreconggiao.net/archive/index.php/t-12452.html?s…> (Bản tạm kết những phản ứng của….)

– <tuoitreconggiao.net/showthread.php?t=14775> (Những Giu-Dà Thời @ – Up-to-the-minute Judas Iscariot).

– <LỜI GIẢI TRÌNH clcgk.forumotion.net/t2682-topic> (Lời Giải Trình gởi BBT. Tamlinhvaodoi@ gmial.com).

– <kitawebs.com/motphathiencuacacnha-kh.htm> (Một Phát Hiện Của Các Nhà Khoa Học)

– <tamlinhvaodoi.net/categoryblog/741-canhtan.html> (I.- Canh Tân Giáo Hội)

– <tamlinhvaodoi.net/categoryblog/742-giaoduc.html> (II.- Giáo Dục Ki-Tô-Giáo)

– <tamlinhvaodoi.net/categoryblog/743-hoi.html> (III.- Hội Nhập Văn Hóa Dân Tộc)

– <tamlinhvaodoi.net/categoryblog/746-hoa.html> (IV.- Hòa Hợp Tôn Giáo)

– <tamlinhvaodoi.net/categoryblog/747-thanh.html> (V.- Thánh Lễ Và Kinh Nguyện Giáo Dân)

– <tamlinhvaodoi.net/categoryblog/748-niem.html>(VI.- Niềm Tin Và Hy Vọng)

– <tamlinhvaodoi.net/categoryblog/749-ket.html> (Kết luận Thỉnh Nguyện Thư)

– <tamlinhvaodoi.net/categoryblog/743-hoi.html> (Hội Nhập Văn Hóa Dân Tộc (1)

– <tamlinhvaodoi.net/categoryblog/745-hoingap.html> (Hội Nhập Văn Hóa (3)

Tuy nhiên, cũng có những bài khó truy cập vì ảnh hưỡng thời gian và có trang mạng đã bị cắt bỏ. Nếu được báo tin, chúng tôi sẽ gởi trực tiếp qua ‘Meo”. Riêng Tác phẩm “Lắng Nghe & Nhận-Định”, khó hy vọng được Xuất bản lúc nầy, cũng không thể có Trang mạng nào chuyển tải hết được. Nếu có một BBT. Trang Mạng chấp nhận chuyển tải để Bạn đọc theo dõi, chúng tôi sẽ rất vui gởi đến ngay. Bằng không, Quý Vị cần đọc thư giản, xin cho biết, chúng tôi sẽ lần lượt gởi đến từng Chương, Đoạn để Quý vị đọc đở chán.

Chúng tôi xin dược lắng nghe mọi lời khen cũng như tiếng chê. Mọi ý kiến bổ sung, chỉnh sửa nội dung không đúng hoặc đề nghị cắt bỏ ý thừa vô bổ, chúng tôi sẽ hiệu đính sau nầy. Mọi sự phê phán của Quý Vị, kể cả bị phản đối nặng lời trong tinh thần Xây dựng nhiệt tình, chúng tôi xin đón nhận cách trân trọng như một lời chỉ giáo để sửa sai điều chỉnh và nhận lỗi. Chúng tôi tin chắc bài viết nầy còn rất nhiều lầm lẫn và thiếu sót, mong quý vị lượng tình. Nếu được Quý Vị đón nhận cách vui lòng, xin phổ biến tiếp đến những người thân quen, để cùng nhau chia sẻ trong tâm tình xây dựng.

Những bài viết Quý Vị chưa gặp, xin gọi Đ/t 0933.403.593, hoặc liên lạc qua H/t. <minhvansg@gmail.com>.

Đặc biệt, chúng tôi xin chân thành cám ơn Quý Ban Biên Tập các Báo Điện Tử   và Trang Mạng đã dành cho chúng tôi lòng ưu ái lớn lao và quý giá với tinh thần xây dựng nhiệt tình. Đây là sự động viên tinh thần lớn lao khiến chúng tôi tin tưởng và mạnh dạn trên con đường xây dựng trước cuộc sống Tâm linh đang khắc khoải từng ngày với “Nền Văn Minh Của Sự Chết” hôm nay, nguyện không bao giờ có những biểu hiện bất xứng, làm phụ lòng tin yêu và âu yếm của Quý Ban Biên Tập.

Cầu mong một Ngày Mới sẽ trở lại cùng muôn người khắp thế. (Nếu có thể, xin xem tiếp Trang Phụ Lục đính kèm).

This entry was posted in Tài liệu chính trị. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s