Ở trong nước, hiện tượng dùng chữ nghĩa kỳ cục do CS Bắc Việt du nhập vào miền Nam , lai căng với nhiều từ ngữ mới chế rất ngô nghê và xa lạ đối với phần đông dân chúng. Với chủ trương nôm na hóa ngôn ngữ Việt, tập đoàn CS nắm quyền đã lạm dụng từ thuần Việt quá mức trở thành thô tục (như: “xưởng đẻ” dùng cho “nhà bảo sanh”, “nhà ỉa” dùng cho “nhà vệ sinh”, hay “lính thủy đánh bộ” dùng cho “thủy quân lục chiến” v. v… , và đặt ra nhiều từ sai hẳn với nguyên nghĩa.
Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian, theo sinh hoạt xã hội . Mỗi ngày, từ những đổi mới của đời sống, từ những ảnh hưởng của văn minh ngoại quốc mà ngôn ngữ dần dần chuyển biến. Những chữ mới được tạo ra, những chữ gắn liền với hoàn cảnh sinh hoạt xưa cũ đã quá thời, dần dần biến mất. Cứ đọc lại những áng văn thơ cách đây chừng năm mươi năm trở lại, ta thấy nhiều cách nói, nhiều chữ khá xa lạ, vì không còn được dùng hàng ngày Những thay đổi này thường làm cho ngôn ngữ trở nên sinh động hơn, giàu có hơn, tuy nhiên, trong tiếng Việt khoảng mấy chục năm gần đây đã có những thay đổi rất kém cỏi Ban đầu những thay đổi này chi giới hạn trong phạm vi Bắc vĩ tuyến 17, nhưng từ sau ngày cộng sản toàn chiếm Việt Nam, 30 tháng 4 năm 1975, nó đã xâm nhập vào ngôn ngữ miền Nam.
Rồi, đau đớn thay, lại tiếp tục xâm nhập vào tiếng Việt của người Việt ở hải ngoại Người ta thuận theo các thay đổi xấu ấy một cách lặng lẽ, không suy nghĩ, rồi từ đó nó trở thành một phần của tiếng Việt hôm nay Nếu những thay đổi ấy hay và tốt thì là điều đáng mừng; Nhưng than ôi, hầu hết những thay đổi ấy là những thay đổi xấu, đã không làm giầu cho ngôn ngữ dân tộc mà còn làm tiếng nước ta trở nên tối tăm.
Thế nhưng dựa vào đâu mà nói đó là những thay đổi xấu ? Nếu sự thay đổi đưa lại một chữ Hán Việt để thay thế một chữ Hán Việt đã quen dùng, thì đây là một thay đổi xấu, nếu dùng một chữ Hán Việt để thay một chữ Việt thì lại càng xấu hơn. Bởi vì nó sẽ làm cho câu nói tối đi Người Việt vẫn dễ nhận hiểu tiếng Việt hơn là tiếng Hán Việt. Nhất là những tiếng Hán Việt này được mang vào tiếng Việt chỉ vì người Tầu ở Trung Hoa bây giờ đang dùng chữ ấy Nếu sự thay đổi để đưa vào tiếng Việt một chữ dùng sai nghĩa, thì đây là một sự thay đổi xấu vô cùng.
Sau đây, chúng tôi xin ghi lại một số từ ngữ (được tạm xếp theo vần abc) mà chế độ CSVN ép dân chúng dùng, đọc lên, nói lên sai với nguyên nghĩa, nghe thô tục, kỳ lạ và ảnh hưởng Tây phương rất nặng, khó có thể chấp nhận:
1. “Buổi đêm“. ‘Buổi đêm tôi có gặp đồng chí ấỵ Từ xưa đến nay người Việt không bao giờ nói “buổi đêm” cả, chỉ nói “ban đêm”, “ban ngày”. “Ban” được hiểu như là một thời gian khoảng 12 giờ, ban đêm 12 giờ cộng với ban ngày 12 giờ là 24 giờ.
Còn “buổi” thì chúng ta có “buổi sáng”, “buổi trưa”, “buổi chiều”, “buổi tối”. Ban ngày có 12 giờ và tạm coi như có 4 buổi, như vậy mỗi buổi có 3 giờ đồng hộ Night time, day time khác với morning; noon; afternoon; evening. Chúng ta thường nói: ‘Chờ ông ấy mất cả buổi. Buổi ở đây là khoảng ba giờ. Câu nói khác: ‘Thế là mất một buổi cày. Buổi ở đây lại có nghĩa mất cả một ngày công. Chế ra từ buổi đêm là làm hỏng tiếng Việt.
2. “Cải tạo” = transform, improve; re-education. Họ không phân biệt “cải tạo vật chất” với “cải tạo tư tưởng”, quan niệm chính tri. Nói : ‘Phải dùng cát để cải tạo đất’, khác với ‘Trung úy miền Nam bị đi tù cải tạo. Nếu muốn chữa cho đất có màu mỡ hơn nên dùng “cải tiến”, “cải thiện”… Khoảng 50 năm nay từ “cải tạo” cả nước đã hiểu là ở tù rồi!
3. “Cảm giác“. ‘Xin anh cho biết cảm giác ra sao về hiện tượng đo những gì cảm thấy được được bằng giác quan. Có ngũ giác: xúc giác: sờ chạm, thị giác: mắt thấy, thính giác: tai nghe; vị giác: lưỡi nếm, khứu giác: mũi ngửi. Đó là các sense organs, còn cảm giác và cảm tưởng; cảm tính (feeling, khác với lý tính) dễ lầm lẫn vì đó là sensation, impression. Dùng đúng chữ phải là: ‘Xin anh cho biết cảm nghĩ, cảm tưởng, về hiện tượng đo chính xác hơn là “cảm giác”. (Ngoài ra impression còn có nghĩa là ấn tượng, dấu ấn). Chúng ta có thể nói : có cảm giác ghê sợ, nhờm tởm, lạt lẽo, ấm cúng.. một giác xuất phát từ não bộ, tuy cũng do từ năm giác quan vừa kể gửi tín hiệu lên óc.
4. “Cầu lông” = Badmington = Một môn thể thao nhẹ nhàng gần giống quần vợt, có giăng lưới cao, dùng vợt nhẹ và quả cầu có gắn lông vũ, đánh qua lại trên lưới. Trên thực tế quả cầu badmington làm giả bằng nhựa không chế bằng lông gà lông vịt nữa. Cách gọi này thô tục quá! Tại sao không gọi là cầu lông vũ hoặc bát-minh-tơn? Người viết còn nhớ có lần đã bị bà vợ một đại tá sửa lưng, khi lở miệng nói: lông quả đào. Bà kể lại, tôi bị bà Trg. Tg. Khg. một người miền Bắc chữa khéo: ‘Chị nên gọi là tuyết của quả đào thì lịch sự, thanh tao hơn’. Sau đây là cách dùng sai lạc, nhằm chủ đích tuyên truyền hoặc làm giảm đi hoặc tăng mức quan trọng của sự việc.
5. “Chất lượng“: Đây là chữ đang được dùng để chỉ tính chất của một sản phẩm, một dịch vu. Người ta dùng chữ này để dịch chữ quality của tiếng Anh. Nhưng than ôi! Lượng không phải là phẩm tính, không phải là quality. Lượng là số nhiều ít, là quantity. Theo Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu, thì lượng là: đồ đong, các cái như cái đấu, cái hộc dùng để đong đều gọi là lượng cả. Vậy tại sao người ta lại cứ nhắm mắt nhắm mũi dùng một chữ sai và dở như thế. Không có gì bực mình hơn khi mở một tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại rồi phải đọc thấy chữ dùng sai này trong các bài viết, trong các quảng cáo thương mãi. Muốn nói về tính tốt xấu của món đồ, phải dùng chữ phẩm. Bởi vì phẩm tính mới là quality. Mình đã có sẵn chữ “phẩm chất” rồi tại sao lại bỏ quên mà dùng chữ “chất lượng”. Tại sao lại phải bắt chước mấy anh cán ngố, cho thêm buồn tiếng nước ta.
6. “Cuộc gặp” = meet, run into = hội kiến, gặp mặt, gặp gỡ, buổi họp. Nghe “Cuộc gặp” thấy cụt ngủn, chưa trọn nghĩa. Ý họ muốn tả một cuộc hội kiến tay đôi, một lần gặp gỡ, chưa hẳn là một hội nghị (conference). Nên dùng như thí dụ này: “Bộ trưởng Thái đã hội kiến gặp bộ trưởng Lào”…
7. “Cưới“. Nhà văn Lê Minh Hà đi từ miền Bắc, công tác ở Đông Đức, rồi xin tỵ nạn ở Đức, viết trong tập truyện ngắn “Trăng Góa”: ‘Bọn này chưa cưới’, ‘chúng tôi cưới’ đó là thói quen từ vùng cộng sản. Đây không phải là lối hành văn mới lạ, kiểu cách chỉ là thói quen dùng sai từ To marry, get married, nhưng người Việt phải nói là: ‘Chúng tôi chưa làm đám cưới; bọn này cưới nhau. Câu này lại do một vai nữ tự thuật, lại càng sai nặng nữa. Chúng ta chỉ nói “cưới vợ”, không bao giờ nói “cưới chồng” cả. Chỉ có hai trường hợp dùng được hai chữ “cưới chồng”. Một là cô gái có lỗi lầm nào đó, nhà gái phải bỏ tiền, chịu mọi chi phí đám cưới để lấy cho được một tấm chồng. Hai là những đồng bào thiểu số, sắc dân nào còn theo chế độ mẫu hệ, cô gái cưới chồng, vì chàng rể sẽ thuộc về nhà gái. Nhà gái phải trả cho nhà trai trâu, lợn, gà, chiêng đồng, v.v. để mua rể.
8. ” Đại trà” = on a large scale = cỡ lớn, quy mô lớn. Thí dụ: “đồng bào trồng cây cà phê đại trà”. Tại sao không dùng như trước là “quy mô lớn”? Ngoài ra dùng “đại trà” là bắt chước Trung Quốc. Có thể gây hiểu lầm là “cây trà lớn”!!
9. ” Đăng ký” = register = ghi tên, ghi danh. Nghĩa rất đơn giản, nhưng bắt chước Trung Quốc, cố dùng Hán-Việt. Câu nói sau đây nghe kỳ lạ: ‘Tôi đã đăng ký mua khoai mì ở Phường…’. Tại sao không dùng “ghi danh”, “ghi tên”? ” Đăng ký” là một chữ mà người Cộng Sản miền Bắc dùng vì tinh thần nô lệ người Tầu của ho đến khi toàn chiếm lãnh thổ, họ đã làm cho chữ này trở nên phổ thông ở khắp nước. Trước đây, ta đã có chữ “ghi tên” (và “ghi danh”) để chỉ cùng một nghĩa. Người Tầu dùng chữ “đăng ký” để dịch chữ ‘register’ từ tiếng Anh. Ta hãy dùng chữ “ghi tên” hay “ghi danh” cho câu nói trở nên sáng sủa, rõ nghĩa. Dùng làm chi cái chữ Hán Việt kia để cho có ý nô lệ người Tầu!
10. ” Đầu ra, đầu vào” = output, input = cái đưa ra, cái đưa vào, dòng điện cho vào máy; dữ kiện đưa vào máy vi tính. Họ còn dùng có nghĩa là vốn, hoặc thì giờ, công sức bỏ vào và kết quả của cuộc đầu tư đó. Nhưng dùng “đầu ra, đầu vào” nghe thô tục (giống như từ bộ phận = một phần việc, một nhóm, tổ, đã bị nhà văn nữ Kathy Trần đốp chát, hỏi: “Bộ phận gì?” bộ phận của đàn ông, đàn bà ả). Có thể dùng “vốn đầu tư” và “kết quả sản lượng”.
11. “Giải phóng” = liberate, emancipate/ free, relieve, release = giải tỏa, xả ,thả, trả tự do Từ giải phóng chỉ nên dùng cho con người, không dùng cho loài vật, đất, vườn… Họ lạm dụng từ giải phóng, nghe không thuận tai và sai nghĩa. Thí dụ: ‘ Đã giải phóng (giải tỏa) xong mặt bằng để xây dựng nhà máy; Anh công an lưu thông tích cực công tác để giải phóng (giải tỏa) xe cộ; Em X giải phóng (thả) con chó !! Những câu sau đây mới là dùng đúng cách: ‘phong trào giải phóng phụ nữ; Công cuộc giải phóng nô lệ.’
12. “Hiển thị” ‘Chỉ cần ấn nút thì mọi nhu cầu sẽ được hiển thị trên máy tính…’ (appear on screen). Tại sao không nói “sẽ thấy hiện rõ trên máy”.
13. “Hùng hiểm” ‘ Địa thế nổi đó rất hùng hiểm…’ hùng vĩ = hiểm trở (majestic greatness + dangerous).
14. “Khả năng“: Chữ này tương đương với chữ ability trong tiếng Anh, và chỉ được dùng cho người, tức là với chủ từ có thể tự gây ra hành động động theo chủ ý. Tuy nhiên hiện nay ở Việt nam người ta dùng chữ “khả năng” trong bất kỳ trường hợp nào, tạo nên những câu nói rất kỳ cục. Ví dụ thay vì nói là ‘trời hôm nay có thể mưa, thì người ta lại nói: ‘trời hôm nay có khả năng mưa, nghe vừa nặng nề, vừa sai. “Có khả năng”: Đây là cách sử dụng rất Tây, thí dụ: ‘Hôm nay thời tiết có khả năng mưa, chúng ta tạm chấp nhận (sao không nói giản dị là: “Hôm nay trời có thể mưa” ?). Thí dụ này khó chấp nhận: ‘Học sinh X có khả năng không đạt điểm tốt nghiệp’. Có khả năng là ability; aptitude; capacity và luôn luôn dùng ở trạng thái tích cực (positive), không bao giờ dùng với trạng thái tiêu cực (negative). Những câu sau đây nghe rất chướng: ‘Bệnh nhân có khả năng bị hôn mê’. ‘Địch có khả năng bị tiêu diệt..’ v.v…
15. “Khả thi” = fisible, applicable; ability to carry out = có thể thực hiện được, có thể thi hành được. “Khả thi” và “bất khả thi” cũng chịu ảnh hưởng nặng của Trung Quốc. Sao không dùng: “không thực hiện được” hay “không thực hiện nổi”. Ngoài ra “khả thi” sẽ đưa đến sự hiểu lầm là “có thể dự thi được”.
16. “Khẩn trương“: Trước năm 1975 chúng ta đã cười những người lính cộng sản, khi họ dùng chữ này thay thế chữ ‘nhanh chóng’. Nhưng than ôi, ngày nay vẫn còn những người ở Việt Nam (và cả một số người sang Mỹ sau này) vẫn vô tình làm thoái hóa tiếng Việt bằng cách bỏ chữ ‘nhanh chóng’ để dùng chữ ‘khẩn trương’. Đáng lẽ phải nói là: ‘Làm nhanh lên’ thì người ta nói là: ‘làm khẩn trương lên’.
17. “Khẳng định“. Thói quen dùng động từ này bị lạm dụng: ‘Diễn viên X đã khẳng định được tài năng. Đồng chí A khẳng định ở vị trí giám đốc’. Khẳng định; xác định, xác nhận = affirm và confirm có nghĩa gần giống nhau, ngoài nghĩa theo luật pháp có nghĩa là phê chuẩn, chuẩn y. Tuy nhiên âm thanh của khẳng định nghe nặng nề.
18. “Kích cầu” = to level the bridge/ needing to sitimulate = nhu cầu để kích thích/ nâng cao cái cầu lên. Cả hai nghĩa đều hàm ý là chất xúc tác, kích thích tố khiến sự việc tiến nhanh hơn. Cách dùng hơi lạ: Bên công chánh có lối dùng những con đội để nâng cao cái cầu giao thông lên. Tại sao không dùng “kích thích tố”, “chất xúc tác” như trước?
19. “Làm rõ” ‘Công an Phường 16 đang làm rõ vụ việc này. Làm rõ=clarify, cần làm rõ vì có sự mù mờ, chưa minh bạch, ngoài còn có nghĩa gần như nói lại cho rõ, đính chính. Đúng nghĩa phải là điều tra = investigate. Cách sử dụng từ làm rõ cũng giống như làm việc (với công an) chỉ nhằm xóa bớt sự ghê sợ, hãi hùng của người dân khi phải tiếp xúc với công an cộng sản. Họ cố tránh những động từ như “điều tra”, “khai báo”, “trình diện” v.v…
20. “Liên hệ“: Cũng từ miền Bắc, chữ này lan khắp nước và nay cũng tràn ra hải ngoại Liên hệ là có chung với nhau một nguồn gốc, một đặc tính. Người cộng sản Việt Nam dùng chữ liên hệ để tỏ ý nói chuyện, đàm thoại. Tại sao không dùng chữ Việt là ‘nói chuyện’ cho đúng và giản dị. Chữ liên “hệ dịch” sang tiếng Anh là ‘to relate to”, chứ không phải là ‘to communicate to”.
21. “Ngài“: ‘Bộ trưởng ngoại giao ta đã gặp Ngài Brown thị trưởng thành phố San Francisco . Ngài là Sir, một tước vị của Hoàng gia nước Anh ban cho một nhân vật nào đó. Sir có thể dịch ra là Hiệp sĩ, cũng có thể là Knight = Hầu tước xuống đến tòng Nam tước = Baronet. Theo nghĩa thứ nhì “ngài” là một từ dùng để xưng hô và là một từ tôn xưng như cụ, ông bà, bác, chú. Trong cả hai trường hợp câu trên đều sai. Ông W. Brown chưa bao giờ được Nữ hoàng Anh trao tặng tước hiệu Sir. Theo lối xưng hô chính thức ngoại giao của Mỹ và theo lối Việt Nam , không nên gọi ông W. Brown là Ngài viết hoa. Theo lối xưng hô chính thức của Mỹ, trên văn thư phải là:
The Honorable ..W. Brown
Mayor of San Francisco
Hình thức chào hỏi:
Sir: Dear Mayor Brown
Như thế gọi một ông thị trưởng Mỹ là Ngài đã hoàn toàn sai.
Qua sách báo từ sau 1954, miền Bắc dùng sai và lạm dụng từ Ngài.
Cách dùng thứ nhất để tôn xưng quá đáng giới chức ngoại quốc, thứ nhì là để chế diễu, khôi hài các nhân vật trong khối tự do dân chủ, và ở miền Nam, thí dụ: Ngài đại úy, ngài thiếu tá ngay cả có dạo họ đã gọi Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ là Nguyên soái! Từ sau 1954, trong miền Nam gần như không bao giờ chúng ta thấy xuất hiện từ Ngài! Chế độ cộng sản tự nhận là vô sản, đánh phong kiến, diệt quan lại, nhưng nay họ lại quan lại, phong kiến hơn ai hết. Chứng cớ qua từ tôn xưng Ngài và họ còn tự nhận và gọi các cán bộ và nhân vật quan trọng ngoại quốc là Quan chức. Quan chức = officials, có thể dịch là “viên chức”, hay “giới chức ngoại giao”, “nhân viên chính phủ”, “phái đoàn ngoại giao”, v.v…
22. “Nghệ nhân“: Ta vốn gọi những người này là ‘nghệ sĩ’. Mặc dù đây cũng là tiếng Hán Việt, nhưng người Tầu không có chữ “nghệ sĩ”, họ dùng chữ “nghệ nhân”. Có những người tưởng rằng chữ ‘nghệ nhân’ cao hơn chữ ‘nghệ sĩ, họ đâu biết rằng nghĩa cũng như vậy, mà sở dĩ người cộng sản Việt Nam dùng chữ ‘nghệ nhân’ là vì tinh thần nô lệ Trung Hoa.
23. “Quản lý” = management = quản trị, chịu trách nhiệm. Bắt chước từ Trung Quốc và bị lạm dụng. Nói: ‘Anh X quản lý một xí nghiệp’ thì được, nhưng câu sau ‘nhái lại khôi hài ‘Anh sẽ xây dựng với đồng chí gái, và đồng chí gái sẽ quản lý đời anh…’. “Quản lý” chỉ dùng để trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, hành chánh. “Quản lý” không dùng cho lĩnh vực tình cảm được, tình cảm không phải là một lô hàng, không phải là một xí nghiệp.
24. “Sơ hữu“. ‘Mối quan hệ Việt-Mỹ chỉ là sơ hữu. Sơ hữu + bạn mới quen, mới làm bạn (new friendship). Tại sao không nói: ‘Mối quan hệ Việt-Mỹ chỉ là bạn mới quen’…?
25. “Sự cố“: “Sự cố kỹ thuật”: tại sao không dùng chữ vừa giản dị vừa phổ thông trước đây như ‘trở ngại hay ‘trở ngại kỹ thuật’ hay giản dị hơn là chữ ‘hỏng’? (Nói ‘xe tôi bị hỏng’ rõ ràng mà giản dị hơn là nói ‘xe tôi có sự cô).
26. “Tai tệ nạn“. ‘Tai tệ nạn xảy ra khá nhiều trên đoạn đường này, tai nạn + tệ nạn xã hội (accident + social crime/evil). Cách ghép nối kỳ lạ
27. “Thành viên” = member = theo cách nói và viết thông thường là một người trong một tổ chức, hội đoàn, nhóm nào đó. Không thể dùng “thành viên” cho một cá nhân trong gia đình được. Thí dụ sau đây nghe rất Tây: ‘Các thành viên trong hộ đó có cha, mẹ và hai con/ Bé Năm là một thành viên trong gia đình….’ Tại sao không nói: ‘Trong gia đình đó có cha, mẹ và hai con/ Bé Năm là một đứa con trong gia đình…’. Thí dụ sau đây mới là dùng đúng: ‘Mỹ là thành viên trong Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc có quyền phủ quyết ..’
28. “Tham quan“: đi thăm, đi xem thì nói là đi thăm, đi xem cho rồi tại sao lại phải dùng cái chữ này của người Tầu! Sao không nói là ‘Tôi đi Nha Trang chơi, ‘tôi đi thăm lăng Minh Mạng’, mà lại phải nói là ‘tôi đi tham quan Nha Trang’, ‘tôi đi tham quan lăng Minh Mạng’.
29. “Tháng một; tháng mười hai“. Hiện nay ở Việt Nam trong trường học họ không dạy học sinh “tháng giêng” và “tháng chạp” nữa. Tháng giêng và tháng chạp là cách gọi rất Việt Nam . Lịch in ở Việt Nam ghi tháng một là tháng giêng củ. Từ xưa đến nay chúng ta vẫn gọi tháng đầu năm âm lịch là “tháng giêng”, tháng thứ 11 là “tháng (mười) một” và tháng cuối năm là “tháng chạp”. Gọi là tháng chạp là do tháng cuối năm âm lịch có nhiều lễ, trong đó có lễ chạp. Ca dao đã có câu:
“Tháng chạp là tiết trồng khoai
Tháng giêng trồng đậu tháng hai trồng cà”
Tháng thứ 11 âm lịch gọi là “tháng một” dễ lầm lẫn với tháng giêng, nên đã tạm bỏ. Nhưng gọi tháng January dương lịch là “tháng một” nghe không ổn, phải gọi là tháng giêng. Còn tháng December gọi là tháng mười hai, không có vấn đề. Nhưng họ có dạy cho học sinh tiểu học hiểu rằng muốn chỉ tháng thứ 12 trong năm âm lịch bắt buộc phải gọi là tháng chạp không?
30. “Thống nhất“. ‘Tôi đã xuống huyện thống nhất đồng chí X .’ Câu này mắc hai lỗi. Thứ nhất thiếu từ liên tự với, thứ nhì là thống nhất điều gì, chuyện gì. Thống nhất (unify; unified). Trường hợp này phải nói là “đồng ý” với; “nhất trí” với.
31. “Thứ nhất, thứ nhì“. Từ xưa theo cách đếm số, chúng ta có con số thường (cardinal number) như 1.2.3.4 và số thứ tự (ordinal number) thứ nhất, thứ nhì. Hiện nay họ dường như không ưa dùng số thứ tự và gọi thứ nhì là thứ hai. Chỉ second; deuxième là “thứ hai” dễ lầm lẫn với “thứ hai” = Monday. Trên sách báo chỉ thấy viết: một là; hai là. Như thế chỉ riêng nước Việt Nam không cần đến số thứ tự (ordinal number) nữa sao ?
32. “Tương thích“. Giá cả đó tương thích với chất lượng mặt hàng…’ tương đương = thích hợp (equal = appropriated). Cách ghép nối gượng gao.
33. “Tranh thủ”: Thay vì dùng một chữ vừa rõ ràng vừa giản dị là chữ ‘cố gắng’, từ cái tệ sính dùng chữ Hán Việt của người cộng sản, người ta lại dùng một chữ vừa nặng nề vừa tối nghĩa là chữ ‘tranh thủ’. Thay vì nói: ‘anh hãy cố làm cho xong việc này trước khi về, thì người ta lại nói: ‘anh hãy tranh thủ làm cho xong việc này trước khi về.
34. “Trao đổi” = exchange = theo nghĩa của họ là nói chuyện, đối thoại, hội thoại. Cách dùng chịu ảnh hưởng nặng Tây phương. Trao đổi theo đúng nghĩa là đổi chác ‘ông đưa cái giò, bà thò chai rượu. Họ chịu ảnh hưởng Tây phương quá nặng, vì trao đổi chỉ áp dụng cho hàng hóa (giao thương) hay con người. Thí dụ: ‘Hai nước trao đổi lãnh sự, trao buôn bán, mậu dịch’. Kiều và Kim Trọng đã trao đổi quà tặng tình yêu cho nhau. Không bao giờ trao đổi lại có nghĩa là nói chuyện, đối thoại. Thí dụ sau đây cho thấy cách dùng sai lạc: ‘Anh Phillippe Jamet đang trao đổi với một bé gái Việt Nam …’. Trao đổi gì? Quà tặng gì? Trao đổi không bao giờ có nghĩa là converse, talk to, chỉ là exchange thôi.
35. “Trọng thị“: Coi trọng (show consideration for/ attach important to) trong từ điển ghi là một từ cũ, không hiểu sao lại được dùng trở lại. Thí dụ: “Chúng ta phải trọng thị yếu tố đó”. Cứ nôm na nói: ‘Chúng ta phải coi trọng yếu tố đó là đủ và giản dị rồi.
36. “Trúng thưởng” = reward, award. Thế nào gọi là thưởng? Thưởng là thưởng cho những cá nhân hay tập thể có công, tài giỏi, đạt thành tích cao .. Thưởng đi đôi với phạt. Vậy không thể nói : ‘Mua hàng sẽ được trúng thưởng…/ Anh X trúng thưởng xổ số thành phố X. được 50 triệu ‘ Đó chỉ là quà tặng, biếu không, không phải là thưởng, và chỉ là trúng xổ số chứ không lĩnh thưởng. Xổ số là hình thức đánh bạc, nên gọi tránh đi là trúng thưởng (Thật là mâu thuẫn, trong khi đó họ bỏ tiền ra mua máy đánh bạc đặt trong các khách sạn lớn!!)
37. “Trúng tuyển” (nghĩa vụ quân sự) = select, choose/ recruit. Chúng ta vẫn nói và viết “tuyển sinh”, “tuyển quân”, “tuyển mộ”, “tuyển dụng”… Nhưng nói : “trúng tuyển nghĩa vụ” thật là khôi hài. Nghĩa vụ quân sự là thi hành quân dịch, đến tuổi phải đi, bắt buộc phải đi, không có chuyện trúng tuyển hay không được tuyển (nên dùng theo nghĩa xấu chỉ có dân nghèo, không có tiền đút lót và không phải là con cán bộ cao cấp, mới bị trúng tuyển).
38. “Tư liệu“: Trước đây ta vốn dùng chữ “tài liệu”, rồi để làm cho khác miền Nam , người miền Bắc dùng chữ ‘tư liệu trong ý: ‘tài liệu riêng của người viết’. Bây giờ những người viết ở hải ngoại cũng ưa dùng chữ này mà bỏ chữ ‘tài liệu’, mặc dù nhiều khi tài liệu sử dụng lại là tài liệu đọc trong thư viện chứ chẳng phải là tài liệu riêng của ông ta.
39. “Vị trí” = place/ position/ job, task = chỗ đứng, vị thế / nơi chốn/ việc làm, trách vụ. Nhưng họ dùng “vị trí” cho luôn cả nghĩa là “trách vụ”, “việc làm”. Câu nói sau đây là sai: ‘Anh A đã thay anh B công tác ở vị trí kế toán trưởng’. Nên nói: ‘Anh A đã thay anh B công tác ở trách vụ kế toán trưởng’ mới đúng. Thường thường chúng ta hay dùng: ‘Tiểu đội A đã chiếm được một vị trí trên cao, từ đó có thể ngăn chặn được trung đội địch tiến lên đồi.
40. “Vùng sâu xa“: Vùng rừng núi, đầm lầy (highland = swamp area). Đây là cách sử dụng chữ trốn tránh thực tế. Vùng ở trong sâu hiểu là vùng hẻo lánh, sình lầy và vùng xa tức là vùng trên cao, ở xa. Đây là cách dùng mị dân, cũng như để dễ bề đẩy giáo viên, kỹ sư, bác sĩ không phe đảng, không là con cháu cán bộ đến phục vụ nơi khỉ ho cò gáy. Ngoài ra “sâu xa” còn gây hiểu lầm với ‘lòng cảm ơn, biết ơn sâu xa” đã quen dùng trước đây.
41. “Xuất khẩu“, “Cửa khẩu“: Người Tầu dùng chữ khẩu, người Việt dùng chữ cảng. Cho nên ta nói “xuất cảng”, “nhập cảng”, chứ không phải như cộng sản nhắm mắt theo Tầu gọi là “xuất khẩu”, “nhập khẩu”. Bởi vì ta vẫn thường nói phi trường Tân Sơn Nhất, phi cảng Tân Sơn Nhất, hải cảng Hải Phòng, giang cảng Saigon, thương cảng Saigon. Chứ không ai nói phi khẩu Tân Sơn Nhất, hải khẩu Hải Phòng, thương khẩu Saigon trong tiếng Việt. Khi viết tin liên quan đến Việt Nam, ta đọc bản tin của họ để lấy dữ kiện, rồi khi viết lại bản tin đăng báo hay đọc trên đài phát thanh tại sao không chuyển chữ (xấu) của họ sang chữ (tốt) của mình, mà lại cứ copy y boong?
42. Còn hai từ nữa bị người dân miền Bắc lạm dụng vì lây cách dùng của cán bộ là “bản thân” và “chủ yếu“: “Bản thân” = self, oneself, và “chủ yếu” = main, principal. Qua những câu chuyện thường ngày, chúng ta nghe họ dùng hai từ này bừa bãi, sai lệch: ‘Thức ăn chủ yếu của đồng bào vùng này là ngô và khoai; Chúng tôi lấy gạo làm chủ yếu để qui thành giá trị trao đổi. Và: ‘Bản thân tôi cũng không tránh khỏi dao động. Bản thân sự kiện đó còn nhiều tồn tại”. Người ta đã bỏ quên từ “tự và chính” được dùng từ xưa đến nay, thí dụ: Thức ăn chính của đồng bào. Chính tôi cũng không tránh khỏi dao động; Tự thân sự kiện đó. Hiện nay đang có phong trào ghép chữ bừa bãi giữa hai từ Hán-Việt + Hán-Việt hoặc Hán-Việt + Nôm. Thí dụ: “động thái”, “thể trạng”, “siêu sao”, “siêu trường”. Động thái là hành động + thái độ (action + attitude); thể trạng là tình trạng thân thể (physical form sitituation); siêu sao = super-star; siêu trường = super-long. nghe lạ tai. Đã đành là ngôn ngữ chẳng qua chỉ là những ước hiệu con người sử dụng để hiểu nhau, thông cảm nhau. Tuy nhiên những ước hiệu đó không được khó hiểu, bí hiểm, khó nghe, chói tai, kỳ la.
43. Những danh từ kỹ thuật mới: Thời đại của điện tử, của computer tạo ra nhiều danh từ kỹ thuật mới, hay mang ý nghĩa mới. Những danh từ này theo sự phổ biến rộng rãi của kỹ thuật đã trở nên thông dụng trong ngôn ngữ hàng ngày. Hầu hết những chữ này có gốc từ tiếng Anh, bởi vì Hoa Kỳ là nước đi trước các nước khác về kỹ thuật. Các ngôn ngữ có những chữ cùng gốc (tiếng Đức, tiếng Pháp) thì việc chuyển dịch trở nên tự nhiên và rõ ràng, những ngôn ngữ không cùng gốc, thì người ta địa phương hóa những chữ ấy mà dùng. Riêng Việt Nam thì làm chuyện kỳ cục là dịch những chữ ấy ra tiếng Việt (hay mượn những chữ dịch của người Tầu), tạo nên một mớ chữ ngây ngô, người Việt đọc cũng không thể hiểu nghĩa những chứ ấy là gì, mà nếu học cho hiểu nghĩa thì khi gặp những chữ ấy trong tiếng Anh thì vẫn không hiểu. Ta hãy nhớ rằng, ngay cả những người Mỹ không chuyên môn về điện toán, họ cũng không hiểu đích xác nghĩa của những danh từ này, nhưng họ vẫn cứ chỉ biết là chữ ấy dùng để chỉ các vật, các kỹ thuật ấy, và họ dùng một cách tự nhiên thôi. Vậy tại sao ta không Việt hóa các chữ ấy mà phải mất công dịch ra cho kỳ cục, cho tối nghĩa. Ông cha ta đã từng Việt hóa biết bao nhiêu chữ tương tự, khi tiếp xúc với kỹ thuật phương tây cơ mà. Ví dụ như ta Việt hóa chữ ‘pomp’ thành ‘bơm’ (bơm xe, bơm nước), chữ ‘soup’ thành ‘xúp’, chữ ‘pharé thành ‘đèn phá, chữ ‘cycló thành ‘xe xích lố, chữ ‘manggis’ (tiếng Mã Lai) thành ‘quả măng cụt’, chữ ‘durian’ thành ‘quả sầu riêng’, chữ ‘bougié thành ‘bu-gi, chữ ‘manchon’ thành ‘đèn măng xông’, chữ ‘boulon’ thành ‘bù-long’, chữ ‘garé thành ‘nhà gá, chữ ‘savon’ thành ‘xà-bông’?
Bây giờ đọc báo, thấy những chữ dịch mới, thì dù đó là tiếng Việt, người đọc cũng vẫn không hiểu như thường. Hãy duyệt qua một vài danh từ kỹ thuật bị ép dịch qua tiếng Việt Nam , như:
a Scanner dịch thành ‘máy quét’. Trời ơi! ‘máy quét’ đây, thế còn máy lau, máy rửa đâu! Mới nghe cứ tưởng là máy quét nhà!
b. Data Communication dịch là ‘truyền dữ liệu’
c. Digital camera dịch là ‘máy ảnh kỹ thuật số’
d. Database dịch là ‘cơ sở dữ liệu. Những người Việt đã không biết database là gì thì càng không biết ‘cơ sơ dữ liệu là gì luôn.
e Software dịch là ‘phần mềm’, hardware dịch là ‘phần cứng’ mới nghe cứ tưởng nói về đàn ông, đàn bà. Chữ ‘hard’ trong tiếng Mỹ không luôn luôn có nghĩa là ‘kho, hay ‘cứng’, mà còn là ‘vững chắc’ ví dụ như trong chữ ‘hard evident’ (bằng chứng xác đáng). Chữ soft trong chữ ‘soft benefit’ (quyền lợi phụ thuộc) chẳng lẽ họ lại dịch là ‘quyền lợi mềm’ sao ?
f. Network dịch là ‘mạng mạch’.
g. Cache memory dịch là ‘truy cập nhanh’.
h. Computer monitor dịch là ‘màn hình’ hay ‘điều phối.
i VCR dịch là ‘đầu máy. (Như vậy thì đuôi máy đâu ? Như vậy những thứ máy khác không có đầu ả). Sao không gọi là VCR như mình thường gọi TV (hay Ti-Vi). Nếu thế thì DVD, DVR thì họ dịch là cái gì?
j. Radio dịch là ‘cái đài’. Trước đây mình đã Việt hóa chữ này thành ra-đi-ô hay rađô, hơặc dịch là ‘máy thu thanh’. Nay gọi là ‘cái đài’ vừa sai, vừa kỳ cục. Đài phải là một cái tháp cao, trên một nền cao (ví dụ đài phát thanh), chứ không phải là cái vật nhỏ ta có thể mang đi khắp nơi được.
k. Chanel gọi là ‘kênh‘. Trước đây để dịch chữ TV chanel, ta đã dùng chữ đài, như đài số 5, đài truyền hình Việt Nam, gọi là kênh nghe như đang nói về một con sông đào nào đó ở vùng Hậu Giang!
Ngoài ra, đối với chúng ta, Saigon luôn luôn là Saigon, hơn nữa người dân trong nước vẫn gọi đó là Saigon . Các xe đò vẫn ghi bên hông là ‘Saigon – Nha Trang’, ‘Saigon – Cần Thớ trên cuống vé máy bay Hàng Không Việt Nam người ta vẫn dùng 3 chữ SGN để chỉ thành phố Saigon. Vậy khi làm tin đăng báo, tại sao người Việt ở hải ngoại cứ dùng tên của một … để gọi thành phố thân yêu của chúng mình?! Đi về Việt Nam tìm đỏ mắt không thấy ai không gọi Saigon là Saigon, vậy mà chỉ cần đọc các bản tin, các truyện ngắn viết ở Hoa Kỳ ta thấy tên Saigon không được dùng nữa Tại sao ?
Đây chỉ là một vài ví dụ để nói chơi thôi, chứ cứ theo cái đà này thì chẳng mấy chốc mà người Việt nói tiếng Tầu luôn mất! Tất nhiên, vì đảng cộng sản độc quyền tất cả mọi sinh hoạt ở Việt nam, nên ta khó có ảnh hưởng vào tiếng Việt đang dùng trong nước, nhưng tại sao các nhà truyền thông hải ngoại lại cứ nhắm mắt dùng theo những chữ kỳ cục như thể! Cái khôi hài nhất là nhiều vị trong giới này vẫn thường nhận mình là giáo sư (thường chỉ là giáo sư trung học đệ nhất cấp (chưa đỗ cử nhân) hay đệ nhị cấp ở Việt Nam ngày trước, chứ chẳng có bằng Ph.D. nào cả), hay là các người giữ chức này chức nọ trong các hội đoàn tự cho là có trách nhiệm về văn hóa Việt Nam ở ngoài nước!
Trước đây Phạm Quỳnh từng nói: ‘Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn‘, bây giờ Truyện Kiều vẫn còn mà cả tiếng ta lẫn nước ta lại đang đi dần xuống hố sâu Bắc Thuộc. Than ôi!
Chu Đậu

Kính thưa bác Chu Đậu ! Tôi tên là Nguyễn Văn Lúa, thứ Hai, nên người ta còn gọi tôi là Hai Lúa. Tôi chưa biết gì về Bác nhiều lắm, nhưng trong bài Nỗi buồn tiếng Việt, có đoạn thuật rằng: …nhà văn nữ Kathy Trần đốp chát, hỏi: “Bộ phận gì?” bộ phận của đàn ông, đàn bà ả . Qua đoạn văn trên, tôi đoán Bác thuộc giới mày – râu vì nếu Bác là nữ thì không gọi bà Kathy Trần là nhà văn nữ. Kính thưa bác Đậu ! Tôi dân miền Nam, những từ như ông Tư, bà Tám là những thứ mà người ta đặt cho nhau để tỏ lòng quý mến (không nhất thiết họ phải thứ Tư, thứ Tám). Vì lý do đó, tôi xin được gọi Bác thân mật là bác Tư hay bác tư Đậu nhé ! Tôi vốn chẳng thích viết lách hay ý kiến, ý cò gì, mà cũng chẳng buồn giận gì đến Bác. Bác và tôi vốn là người dưng, hơi đâu mà giận nhỉ ! Tục ngữ xưa há chẳng có câu :
Hơi đâu mà giận người dưng.
Mày giận con … thì đừng ăn cơm !
Dẫu vậy, càng đọc bài của Bác, tôi thấy có chút vấn đề cần tranh cãi, nhất là Cộng Đồng của tôi (nơi tôi ở) có vẻ rất hoan nghênh bài viết của Bác, nên tôi đành phải xắn tay áo nhảy vào để làm cho rõ ngô khoai (vàng – thau). Trong quá trình trình bày, nếu có việc nào không vừa ý về lời nói của tôi, xin Bác niệm tình mà bỏ qua cho nhé !
Vì kiến thức còn hạn hẹp, rất mong được học hỏi thêm.
Giờ đây, xin lần lượt theo chân của bác Chu Đậu (xin gọi là bác Đậu cho thân mật !) để cảm giác lại các từ bị Bác đem lên bàn mổ xem sao !
1. “Buổi đêm”: Quả thật, đây là một từ lạ mà tôi, một người bá vơ, vô danh tiểu tốt, mới cảm giác lần đầu !Thực ra, khi đưa lên bàn mổ một từ nào đó, tác giả phải nói rõ ràng nó được trích ở đâu, văn bản nào, tác phẩm nào, để khỏi mang tiếng là chụp mũ chứ ! Xin đừng vơ đại một câu nói của một nhà văn, nhà báo cha căng chú kiết nào đó , rồi nói rằng đây là ngôn ngữ của dòng văn học Cộng Sản đấy !Tiếp theo, người viết cần phải chứng minh nó đã trở thành hiện tượng phổ biến trong cách dùng của tiếng Việt hiện nay. Thực ra, dùng từ tùy tiện thì đâu mà chẳng có, trong bài này tôi thấy cũng đầy… ối ra đấy ! Nhưng, chúng sẽ bị đào thải theo thời gian: quy luật đấu tranh sinh tồn mà ! Có những từ, mới nghe thấy kỳ kỳ, nhưng nghe hoài lại thấy hay hay. Ví dụ như từ cực kỳ (extreme) là từ chỉ mức độ cao nhất của một vấn đề, một tình huống, một trạng thái, một diễn tiến nào đó. Nó nhất thiết phải đi chung với một tính từ để làm rõ nghĩa của từ ấy. Ví dụ như: cực kỳ vui nhộn, cực kỳ buồn bã, cực kỳ nghèo nàn, cực kỳ giàu có vv… Nhưng bây giờ, thường thì trong văn nói như kịch, talk show, nó đứng độc lập mang ý nghĩa tích cực. Ví dụ như: Chà ! Món ăn của Bác cực kỳ nhỉ ! Con xế của Bác thật cực kỳ ! “Quý vị”. Từ này thường được dùng trong các buổi nói chuyện, các buổi diễn thuyết có nhiều người nghe. Từ này ở dạng số nhiều, nói với nhiều người, mang ý nghĩa biểu lộ lòng kính trọng của người nói, đối với những người nghe. Nói với một người thì người ta nói : kính thưa ông A, kính thưa bà B, chả ai nói kính thưa quý vị ! Còn bây giờ, họ đã cải… tạo từ này thành “các quý vị”. Cụm từ “Kính thưa các quý vị” giờ đã được dùng hầu hết trong các buổi nói chuyện, cả những buổi họp của Quốc Hội, bài diễn văn của các Bộ Trưởng, những nhân vật tai to mặt lớn của Chính Quyền VNCS đều dùng cả, chỉ trừ các phát thanh viên Đài truyền thanh, Đài truyền hình chưa dùng mà thôi ! Thế đấy ! Họ cũng có thành ý đấy chứ ! Họ cũng tích cực cải… tạo để khỏi bị Trung Quốc đồng hóa đấy thôi !
2. “Cải tạo”: Bác có đề nghị:” Nếu muốn chữa cho đất có màu mỡ hơn nên dùng “cải tiến”, “cải thiện”…” Theo tôi hiểu, cải tiến là từ dùng để mô tả sự sửa đổi một thiết bị trong sản xuất (từ này sau 1975 thường dùng là: công cụ lao động), một chương trình, một dự án, một cách làm (phương pháp hoạt động) để cho hiệu quả hoạt động của nó được tốt hơn. Tôi thấy câu: cải tiến, cải thiện cho đất màu mỡ hơn” mới thật là rất lạ tai. Vậy thì, theo Bác là : “cải thiện đất đai” – “cải tiến bữa ăn” và “cải tạo đời sống phỏng” ? (Mèn ơi ! Xin các học giả hãy xắn tay áo, nhảy vào giúp nhé ! Ngôn ngữ cãi… lộn… của bác Tư Đậu, tôi xin chịu thua, không tài nào dám dùng !) Việt Nam hiện nay, đã có quyển Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ KHXH, xin Bác hãy căn cứ vào quyển này để phê phán thì có lẽ sẽ công bằng hơn ! Xin làm ơn đừng cải… thiện ngôn ngữ nữa, khiến người đọc không biết đường đâu mà… mò ! Thật là:
Ngược xuôi, xuôi ngược, biết đâu mò ?
Ai người quân tử, chỉ ra cho !
Cải… tiến bữa ăn, thêm năng… suất !!!
Cải… lương đời sống, bớt âu lo.
Cải thiện đất đai cho… màu mỡ !!!
Cãi lộn tùm lum, rất ra trò !
Ngược xuôi, xuôi ngược, hà nhân thức ?
Ai người quân tử, chỉ ra cho !
3. “Cảm giác”: Như nhận xét ở mục số 1.
4. “ Cầu lông”: Trước 1975, ở MNVN người ta vẫn dùng là “vũ cầu”, không ai dùng là bát-minh-tơn cả. Có lẽ, người ta sợ Bác lên án là “nô lệ người Tầu hay nô lệ Tây chăng “, nên đành phải đổi thành: cầu lông ! Bác Đậu nhận xét: Cách gọi này thô tục quá! Bác ơi ! Điều gì khiến Bác Đậu thấy chữ lông là thô tục vậy nhỉ ? Chắc có lẽ, khi nói đến chữ lông, Bác nghĩ tới lông… ấy phỏng !!! Trên cơ thể con người, thiếu gì chỗ có lông, đều thô tục hết sao ? Vậy thì sau này, các sợi … mọc trên mặt của Bác xin sửa lại tên gọi là tóc nhé, như: tóc mặt, tóc mày, tóc mi hết nhé ! Hu…hu…hu…, hahaha, vui quá ta !!! Cho hay:
Thô tục là do ở… cái đầu.
Chứa đầy những thứ… chẳng ra sao !
Anh nói là lương, em nghĩ… lẹo !
Nên đời ta mãi cứ… cong queo !
Ở đoạn cuối của bài, Bác có nói: Hiện nay đang có phong trào ghép chữ bừa bãi giữa hai từ Hán-Việt + Hán-Việt hoặc Hán-Việt + Nôm. Thí dụ: “động thái”, “thể trạng”, “siêu sao”, “siêu trường”. Động thái là hành động + thái độ (action + attitude); thể trạng là tình trạng thân thể (physical form sitituation); siêu sao = super-star; siêu trường = super-long. nghe lạ tai. Đã đành là ngôn ngữ chẳng qua chỉ là những ước hiệu con người sử dụng để hiểu nhau, thông cảm nhau. Tuy nhiên những ước hiệu đó không được khó hiểu, bí hiểm, khó nghe, chói tai, kỳ la. Còn giờ thì Bác lại đề nghị: Trên thực tế quả cầu badmington làm giả bằng nhựa không chế bằng lông gà lông vịt nữa. Cách gọi này thô tục quá! Tại sao không gọi là cầu lông vũ hoặc bát-minh-tơn?
Chữ vũ nghĩa thuần Việt là lông, Bác gọi là cầu lông vũ không sợ người ta nói Bác là nữa Ta, nữa Tàu sao ? (Ha… ha…, bác Đậu ta, chuẩn bị làm một cuộc… kách mệnh về chữ nghĩa nha !!!) Người ta ghép chữ, bác chê là ghép bừa bãi, thế mà Bác lại cùng một giuộc với họ. Hay là họ thì ghép chữ bừa bãi, còn Bác thì chuẩn mực ? Bác tự tin hay liều mạng thế ? Bác nói: quả cầu làm bằng nhựa không chế bằng lông gà nữa !!! (Hihihi, vui quá đi !) Người trong nước mà nghe Bác nói câu này, họ sẽ cười Bác và nói: Thôi đi Bác ! Đừng có Lúa thế ! (mình ở hải ngoại không nên bắt chước, vậy thì phải sửa là: Thôi đi bậu ! Đừng có Đậu thế !) Bác Đậu ơi ! Bác lại rơi vào một phạm trù mà bác mù tịt nữa rồi nhé ! Chỉ có những người quá…lúa và quá… đậu như tôi và Bác mới chơi cầu bằng nhựa. Dân chuyên nghiệp và các giải tầm cở quốc tế (S.E.A. Game và Olympic) vẫn dùng cầu… lông… vũ đấy ! (Nhắc nhỏ nhau nghe: Biết thì thưa, thì thốt, không biết thì dựa cột mà nghe, đừng nói đại, nói càn, người ta cười cho !)
5. “Chất lượng” : Tôi xin trích lại nhận xét của Bác: Muốn nói về tính tốt xấu của món đồ, phải dùng chữ phẩm. Bởi vì phẩm tính mới là quality. Mình đã có sẵn chữ “phẩm chất” rồi tại sao lại bỏ quên mà dùng chữ “chất lượng”. Xin hãy so sánh hai câu văn ví dụ như sau, chúng ta sẽ rút ra được kết luận chung (dùng trong trường hợp nào là phù hợp):
- Nhà văn Chu Đậu có phẩm chất (đạo đức) tốt, nhưng bài viết của bác có phẩm chất không tốt.
- Nhà văn Chu Đậu có chất lượng (đạo đức) tốt, nhưng bài viết của bác có chất lượng không tốt.
6. “Cuộc gặp”: Xin trích lại đánh giá của Bác: Ý họ muốn tả một cuộc hội kiến tay đôi, một lần gặp gỡ, chưa hẳn là một hội nghị (conference). Nên dùng như thí dụ này: “Bộ trưởng Thái đã hội kiến gặp bộ trưởng Lào”… Đã nói hội kiến còn có nghĩa là gặp, tại sao còn dùng là: … hội kiến gặp… (!!!), cũng như người ta thường dùng: sông Hồng, sông Trà, sông Nhị hay là dùng Hồng Hà, Trà Giang, Nhị Hà, không ai dùng sông Hồng Hà như trước 1975, nghe đúng là nữa Ta, nữa Tàu !
7. “Cưới”:Xin miễn bình luận- Xem Từ điển Tiếng Việt (TĐTV) của Viện KHXH – Nhà xuất bản Trần Phú.
8. “Đại trà”: Xin Bác chỉ cho biết ở đâu dùng từ đại trà để chỉ cho cây trà lớn ? Tôi không tin ngài Thiều Chửu của Bác lại dịch đại trà là cây trà lớn đâu ! Nhưng tôi biết một chỗ dịch như vậy đấy ! Đó là Hán – Việt tự điển của ông Hồ Quá Hàm. Ai muốn xác minh thật hư, xin vào website : http://www.hamhoqua.com sẽ thấy ngay ! Một tác phẩm được coi là nghiêm túc khi người ta loại bỏ ra ngoài những thành kiến (ác cảm) cá nhân, những ngôn ngữ mang tính mỉa mai châm biếm. Vì làm như vậy, chỉ khiến cho phẩm… chất của tác phẩm mình trở nên… !!! (Xin lỗi ! Hình như tôi cũng đã lây tính hay mỉa mai của Bác rồi ! Kệ nó, Bác còn chẳng sợ huống chi Hai Lúa tôi !)
9. “Đăng ký”: Xin miễn bình luận, chỉ xin trích dẫn 2 đoạn văn của Bác ở trong bài này để quý vị so sánh nhé ! (Dùng từ thuần Việt cũng bị chưởi, dùng từ Hán Việt cũng bị chỉ trích nốt , chỉ dùng với sự cho phép của bác Tư Đậu thì mới được thôi !!!):
a):” Đăng ký” là một chữ mà người Cộng Sản miền Bắc dùng vì tinh thần nô lệ người Tầu của ho .
b):Với chủ trương nôm na hóa ngôn ngữ Việt, tập đoàn CS nắm quyền đã lạm dụng từ thuần Việt quá mức trở thành thô tục (như: “xưởng đẻ” dùng cho “nhà bảo sanh”, “nhà ỉa” dùng cho “nhà vệ sinh”, hay “lính thủy đánh bộ” dùng cho “thủy quân lục chiến” v. v…
10. “Đầu ra, đầu vào”:(giống như từ bộ phận = một phần việc, một nhóm, tổ, đã bị nhà văn nữ Kathy Trần đốp chát, hỏi: “Bộ phận gì?” bộ phận của đàn ông, đàn bà ả).Bác ơi, chỉ có Bác và nhà văn Kathy Trần mới có cái đầu bén nhạy đặc thù như vậy thôi: Dùng từ bộ phận là nghĩ ngay đến “bộ phận… ấy” liền !!! Tôi chưa thấy ai dùng từ bộ phận với ý nghĩa đó (trừ truyện viết cho người lớn. Năm 2007, tôi có đọc bài của Bác, hình như Bác có nói là từ phần cứng, phần mềm của computer, mà bọn Cộng sản dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, nghe y như là bộ phận của đàn ông và đàn bà ?!! Nay Bác có sửa lại môt chút hỉ ?!! Nhưng dầu Bác có sửa gì đi nữa thì cái đuôi Hồ… Xuân Hương của Bác cũng lòi phèo ra . Ha…ha…ha !!!)
11. “ Giải phóng”: Xem TĐTV – tr 379
12. “Hiển thị”: Hãy theo ý kiến của Bác, để khỏi mang tiếng là có tinh thần nô lệ giặc Tầu ! Xin đừng giận Tầu quá hóa…, Bác hãy đọc bộ Sử Trung Hoa của cụ Nguyễn Hiến Lê đi, Bác sẽ bỏ ngay ý nghĩ ấy ! Còn không nữa, Bác sẽ gộp Cụ vào hàng ngũ nô lệ giặc Tầu luôn nhé !
13. “Hùng hiểm”= hùng vĩ + hiểm trở ! Giống như ngoan cố= ngoan ngoãn + cố gắng !!! Người ta dùng từ ghép khi 2 từ ấy có cùng đặc điểm hoặc cùng tính chất. Không biết Bác lấy ở đâu ra từ này nhỉ ? Chắc là hàng ở hải ngoại chứ trong nước, tôi chưa thấy nhà văn nào viết như vậy !
14. “Khả năng “: Trích lới Bác:Tuy nhiên hiện nay ở Việt nam người ta dùng chữ “khả năng” trong bất kỳ trường hợp nào, tạo nên những câu nói rất kỳ cục. Ví dụ thay vì nói là ‘trời hôm nay có thể mưa, thì người ta lại nói: ‘trời hôm nay có khả năng mưa, nghe vừa nặng nề, vừa sai. “Có khả năng”: Đây là cách sử dụng rất Tây, thí dụ: ‘Hôm nay thời tiết có khả năng mưa, chúng ta tạm chấp nhận (sao không nói giản dị là: “Hôm nay trời có thể mưa” ?). Thí dụ này khó chấp nhận: ‘Học sinh X có khả năng không đạt điểm tốt nghiệp’. Có khả năng là ability; aptitude; capacity và luôn luôn dùng ở trạng thái tích cực (positive), không bao giờ dùng với trạng thái tiêu cực (negative). Những câu sau đây nghe rất chướng: ‘Bệnh nhân có khả năng bị hôn mê’. ‘Địch có khả năng bị tiêu diệt..’ v.v… Tùy vào văn cảnh (tình huống người ta muốn nói đến), người ta sẽ hiểu từ ngữ mà người viết muốn biểu đạt (bày tỏ). Nếu bỏ phần thượng văn và hạ văn của một đoạn văn mà “chỉ trích” (chưởi rủa) thì thật là oan quá !!! Ví dụ như, nếu không biết được những biểu hiện lâm sàng, làm sao bác sĩ lại nói câu đó ? Từ khả năng được dùng ở đây, mang ý nghĩa phán đoán (như Bác nêu ví dụ: Hôm nay, trời có khả năng mưa; cũng mang ý nghĩa dự báo hay phán đoán đấy thôi !), dự báo diễn tiến bệnh trạng (hay thời tiết) của bệnh nhân dựa trên một số biểu hiện lâm sàng (hay tin tức khí tượng) đã biết rồi.
15. “Khả thi”: Ngoài ra “khả thi” sẽ đưa đến sự hiểu lầm là “có thể dự thi được”. Tôi dốt nát ! Xin Bác trích dẫn ở đâu nói “khả thi= có thể dự thi được, để tôi học hỏi thêm !!! Có lẽ lại là trong tự điển của ngài Thiều Chửu chăng ? Thành thật xin lỗi Bác ! Tôi muốn nói chuyện nghiêm túc lắm, nhưng mà, Bác cứ quàng xiên xổ nho… chùm ra thế, ai mà chịu nổi chứ ?
16. “Khẩn trương”: Theo TĐTV, tính từ: tình trạng cấp bách của một vấn đề cần được hoàn thành trong thời gian ngắn nhất, sớm nhất. Động từ: làm việc với tất cả sức lực nhằm sớm hoàn thành công việc (TĐTV-tr 493) chứ không đơn giản như Bác nói: Đáng lẽ phải nói là: ‘Làm nhanh lên’ thì người ta nói là: ‘làm khẩn trương lên’.
17. “Khẳng định”: Xin hiểu các ví dụ Bác nêu ở ý nghĩa tầng hai: Người ấy có đủ hoặc thừa khả năng, thừa năng lực để đảm nhiệm chức vụ, vai trò, vị trí đó.
18. “Kích cầu”: Trong TĐTV không có từ này và Bác lại không nêu ra một câu cụ thể để xem xét !?
19. “Làm rõ”: a- Vụ án đã được làm rõ.
b- Vụ án đã được điều tra.
Theo quý vị, hai câu này có giống nhau không ? Theo tôi thì không. Câu a cho chúng ta biết rằng, nguyên nhân và động cơ gây án đã có kết luận chính xác. Câu b không khiến ta hiểu như vậy ! Còn từ khai báo, trình diện mang ý nghĩa bị động, không phù hợp trong việc so sánh với từ làm rõ (công an làm rõ, còn bị can thì làm nhiệm vụ trình diện và khai báo).
20. “Liên hệ”: Hãy đọc TĐTV- tr 563 sẽ rõ, nhưng theo tôi, từ này vốn là tính từ, ghép giữa 2 từ: hệ trọng & liên quan, sau rồi dùng nó dưới dạng động từ mà vẫn bao hàm được nhiệm vụ làm tính từ của nó. Xin lỗi trước, tôi cũng bắt chước đoán… mò đấy !
21. “Ngài”: (Xem TĐTV – tr 662) Xin trích đánh giá của Bác: Từ sau 1954, trong miền Nam gần như không bao giờ chúng ta thấy xuất hiện từ Ngài! (!!!). Có lẽ, Bác lại nói đại vậy thôi chứ tôi thấy các vị đạo cao đức trọng, chức sắc tôn giáo vẫn được dân chúng kêu là Ngài đấy thôi ! Chắc Bác sẽ cãi: Ngài viết hoa khác ngài viết thường chứ ?! Thôi thì, viết hoa hay viết thường sẽ cãi trong dịp khác, giờ xin trích dẫn tiếp lời đánh giá vàng ngọc của Bác đây: Chế độ cộng sản tự nhận là vô sản, đánh phong kiến, diệt quan lại, nhưng nay họ lại quan lại, phong kiến hơn ai hết. Chứng cớ qua từ tôn xưng Ngài và họ còn tự nhận và gọi các cán bộ và nhân vật quan trọng ngoại quốc là Quan chức. Quan chức = officials, có thể dịch là “viên chức”, hay “giới chức ngoại giao”, “nhân viên chính phủ”, “phái đoàn ngoại giao”, v.v… Có lẽ tự điển Thiều Chửu giải thích rằng: quan chức là một chức quan trong triều vua ( nếu Thiều Chửu không nói thì ít ra, Bác cũng nghĩ vậy ?), còn tôi nghĩ , họ ghép và rút gọn 2 từ: chức vu & quan trọng, như ta dùng quan yếu= chính yếu + quan trọng.
22. “Nghệ nhân”: … sở dĩ người cộng sản Việt Nam dùng chữ ‘nghệ nhân’ là vì tinh thần nô lệ Trung Hoa. (!!!). Ước ao, đây là một đánh giá chính xác ! Tôi xin học hỏi ý này ! Vậy từ nay, chúng ta sẽ có các từ: nghệ sĩ mộc, nghệ sĩ sơn mài, nghệ sĩ gốm, nghệ sĩ may thêu, nghệ sĩ thủ công mỹ nghệ để, chỉ cho những người tài hoa, khéo tay có công… cải… thiện…, sáng tác ra những tác phẩm đẹp, mang tầm cỡ thế giới nhé !!! Hay: người viết văn, ta gọi là văn sĩ, người làm thơ là thi sĩ, người viết nhạc là nhạc sĩ vv…, vậy, các vị kia sẽ là mộc sĩ, sơn mài sĩ, gốm sĩ, may thêu sĩ vv… !!!
23. “Quản lý” = management = quản trị, chịu trách nhiệm. Bắt chước từ Trung Quốc và bị lạm dụng. Nói: ‘Anh X quản lý một xí nghiệp’ thì được, nhưng câu sau ‘nhái lại khôi hài ‘Anh sẽ xây dựng với đồng chí gái, và đồng chí gái sẽ quản lý đời anh…’. “Quản lý” chỉ dùng để trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, hành chánh. “Quản lý” không dùng cho lĩnh vực tình cảm được, tình cảm không phải là một lô hàng, không phải là một xí nghiệp… Xin nhắc nhở, nếu trích dẫn tùy tiện, thiếu nghiêm túc thì chính mình tự hạ thấp giá trị bài viết của mình và bị đánh giá là nông nỗi, thiếu cân nhắc !
Tôi nghĩ bây nhiêu cũng khá đủ, chứ không cần bình luận từng từ do Bác đưa ra (thực ra thì trình độ tôi chỉ chừng đó, không đủ để chạy theo Bác đến cuối con đường), các từ còn lại, tôi xin nhường cho các bậc cao nhân. Lần sau, nếu có viết về đề tài này, xin Bác đừng trích dẫn bá vơ nữa. Xin tập trung quật vào các tác phẩm của các vị sau đây (vì họ là đại diện cho nền văn học… Cộng sản VN xưa và nay đấy !): Nam Cao. Thâm Tâm. Ngô Tất Tố.Nam Trân. Dương Kỳ Anh. Nguyễn Bính. Thu Bồn. Nguyễn Văn Bổng. Văn Cao. Hoàng Cầm. Hoàng Nhuận Cầm. Huy Cận. Minh Chuyên. Xuân Diệu. Phạm Tiến Duật. Quang Dũng. Nguyễn Khoa Điềm. Đoàn Giỏi. Nguyễn Phan Hách. Thanh Hải. Tế Hanh. Tô Hoài. Nguyễn Công Hoan. Nguyên Hồng. Chính Hữu. Tố Hữu. Nguyễn Khải. Ma Văn Kháng. Trần Đăng Khoa. Trịnh Đình Khôi. Vũ Khiêu. Nguyễn Ngọc Ký. Chu Lai. Kim Lân. Vũ Quang Lập. Trần Huy Liệu. Nguyễn Quang Lập. Thế Lữ. Đặng Thai Mai. Nguyễn Đăng Mạnh. Tú Mỡ. Thép Mới. Vũ Tú Nam. Nguyễn Thị Hồng Ngát. Nguyên Ngọc. Bảo Ninh. Nguyễn Trọng Oánh. Vũ Ngọc Phan. Hoàng Ngọc Phách v.v… .Còn không nữa, xin hãy quất thẳng vào các tác phẩm của các vị sau (vì họ là các quan chức trong Hội Nhà Văn VN hiện nay): (http://vi.wikipedia.org/wiki/Hội_Nhà_văn_Việt_Nam)
Chủ tịch
Nguyễn Hữu Thỉnh (3 khóa 2000-2015)[2]
Tổng biên tập
Khuất Quang Thụy
Phó chủ tịch
Nguyễn Trí Huân,
Nguyễn Quang Thiều,
Lê Quang Trang
Nhưng thôi ! Để kết… liễu bài viết này, tôi nêu hai vị có quan hệ gần gũi với chúng ta hơn để nhân dịp, Bác phê bình luôn nhé:
1. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: Trong bài Chiều Một Mình Qua Phố, ông viết: Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ, nhớ tên em. Có khi “nắng khuya” chưa lên mà một loài hoa chợt tím. Nếu từ “buổi đêm” bị chỉ trích là: Chế ra từ buổi đêm là làm hỏng tiếng Việt. Thì từ “nắng khuya” của đồng chí Trịnh cũng thế. Và đ/c TCS cũng phải chịu trách nhiệm về việc làm hỏng ngôn ngữ Tiếng Việt đấy nhé !
2. Thi sĩ Bùi Giáng: Xin trích bài Bữa Nay Ruộng Nhớ của đồng chí Bùi Giáng ( từ website: vnthuquan.net):
Ruộng đồng mọc lúa
Ruộng đồng mọc lúa quanh năm
Em về đại lộc tôi nằm Bình dương
K ra hai nẻo lộn đưng
Sầu riêng châu chấu một nưng năm xưa
Ruộng đồng không mọc
Ruộng đồng không mọc lúa mùa
Từ hôm cánh tring cò lưa tiếng buồn
đêm nào nhỏ giọt khe mương
đêm này rớt hột mù sương bây gi .
Bữa nay ruộng nhớ
Bữa nay ruộng nhớ lưng tri
Thông ngàn lũng tạ núi ngồi chiêm bao
Ra đi mang hận hội nào
Cổng xô còn vọng điệu chào bay ngang
Đọc thơ BG, tôi chẳng dám đả động vào một từ, thậm chí một chữ ! Nhưng với sự uyên thâm của Bác, tôi tin chắc Bác cũng sẽ nói: Bùi Giáng làm hư tiếng Việt rồi ! Còn nếu không, xin Bác giải thích hộ các từ in đậm ấy giùm nhé !
Phần kết luận, xin nhường cho quý vị nhận xét. Chỉ xin trích thêm một số những đánh giá của bác Chu Đậu để chúng ta có đủ điều kiện đánh giá thêm về tinh thần (những tích lũy ưu việt) của bài viết này:
a. Radio dịch là ‘cái đài’. Trước đây mình đã Việt hóa chữ này thành ra-đi-ô hay rađô, hơặc dịch là ‘máy thu thanh’. Nay gọi là ‘cái đài’ vừa sai, vừa kỳ cục. Đài phải là một cái tháp cao, trên một nền cao (ví dụ đài phát thanh), chứ không phải là cái vật nhỏ ta có thể mang đi khắp nơi được.
b. Chanel gọi là ‘kênh‘. Trước đây để dịch chữ TV chanel, ta đã dùng chữ đài, như đài số 5…
Các bác thấy chưa ! Radio thì không được gọi là cái… đài, nhưng chanel thì được quyền gọi là đài đấy nhé ! Hy vọng, đừng ai trong chúng ta phê phán bác Chu Đậu là tiền hậu bất nhất, hay là trước chưởi người, sau lại tự chưởi mình.
Thật ra, ngôn ngữ Tiếng Việt (chữ Quốc Ngữ) có tuổi đời còn khá trẻ, kể từ năm 1945, khi cụ Hoàng Xuân Hãn, bộ trưởng Bộ Giáo Dục trong nội các của cụ Trần Trọng Kim, đưa chữ Quốc Ngữ vào dạy chính thức ở các cấp học (xem vi.wikipedia.org/wiki/Hoàng_Xuân_Hãn). Trước 1975, tôi chỉ mới học hết đệ nhất cấp nhưng đã đọc khá là nhiều loại sách (hằm-bà-lằng) từ truyện Tàu như: Hán Sở Tranh Hùng, Tống Phi Long, Tam Quốc, Đông, Châu Liệt Quốc, Thủy Hử vv… đến truyện của cụ Hồ Biểu Chánh. Cụ có giọng văn cực kỳ mộc mạc, đơn sơ mà hầu như các tiểu thuyết gia VN sau này không ai còn dùng giọng văn như vậy nữa. Dẫu vậy, không ai đổ thừa cụ làm hư ngôn ngữ Tiếng Việt cả ! Tiếng Việt là một sinh ngữ, nó vươn mình phát triển từ thời… Kách Mệnh đến nay, cách biểu hiện của nó vào đời sống người Việt ngày càng phong phú đa dạng trong việc pha trộn (nói theo từ sau 1975 là cọ xát) với nhiều nền văn hóa Đông – Tây (như Hàn Lệ Nhân có trình bày). Nếu có ai đó lên án người này, người khác dùng từ như vậy là sai, là dốt nát, chẳng là kiêu ngạo lắm ư ? Điều nào biết tận tường, có kê cứu hẳn hoi thì hẳn nói, đừng bộp chộp, võ đoán, nhất là sự hài hước, mỉa mai phải đúng nơi đúng chỗ. Xin hãy đọc nhiều hơn, nghiên cứu nhiều hơn, thực địa nhiều hơn ( thực tế+địa phương=tiếp xúc thực tế ở nhiều địa phương), và nhất là khiêm tốn hơn, đừng để ác cảm chế độ đầy ắp trong lòng thì công trình nghiên cứu, khảo luận của mình mới thực sự có giá trị lớn cho dân tộc (trừ phi Bác dùng bài này như là một phương tiện chưởi bới Cộng sản cho vui: “Đây chỉ là một vài ví dụ để nói chơi thôi, chứ cứ theo cái đà này thì chẳng mấy chốc mà người Việt nói tiếng Tầu luôn mất!” . Trích lại lời Bác Đậu ) Cuối cùng, xin Bác đừng quá nặng nề về những điều tôi nói nhé ! Người xưa có dạy: Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân mà, phải không Bác ?!
Chúc Bác gặt hái nhiều thành… đạt… trong sự nghiệp văn chương ! Xin cho tôi gửi lời “trân – kính chào” đến Bác gái, cùng với tấm lòng ngưỡng mộ sâu sắc. Xin tha thứ cho tôi về lỗi dùng từ và lỗi chính tả nhé ! Vì ai mà chẳng có sai sót, chính trong bài viết của Bác cũng sai… ối ra đấy thôi !
Đúng ra, đến đây ngừng bút là được rồi, nhưng chợt thấy tứ thơ Rắn Đầu Biếng Học của cụ Lê Quý Đôn hay hay, nên muốn bắt chước làm thơ con cóc, để tặng Bác Tư
Bài thơ có tựa là: Lúa – Đậu phân tranh.
“Lúa, Đậu” phân tranh, bác chọn ai ?
Quyết phân cao thấp, quyết… “ngô – khoai” !
Anh giương cơ “bắp”, khoe mình giỏi.
Chị đem nền “nếp”, để phô tài.
Chẳng màng “lức, tẻ”, tranh phần thắng.
Không hiềm “cám, tấm”, cứ ra oai.
“Xanh, đỏ”, ai ơi, nên cân nhắc !
“Trắng đen” sẽ tỏ ở tương lai !
( Bài thơ khá là khó nên về niêm luật không đối được ! Kính – xin lỗi ! Kính mời các bác họa lại cho vui !)
Lương: đàng hoàng -tử tế, tài năng, tốt đẹp… VD: Lương y, lương duyên, lương đống vv… Lươn: lươn lẹo: tinh ma, gian dối.
Xin các bác xem cho, tôi giải thích như vầy có đúng không nhé:
* Thi: bắt đầu tiến hành, thực hiện một việc gì đó, ví dụ: … thi công: tiến hành xây dựng công trình; thi hành án: bắt đầu thực hiện bản án đã đề ra…
* Thí: là thử, là đi thi. Ví dụ như: Ứng thí, thí sinh, thí trường, khảo thí, thí điểm, thí nghiệm vv…
* Khả thi=> Có thể dự thi được… , là Hai Tàu rưỡi chứ chưa được là… Ba Tàu (Xin lưu ý, từ ba này dùng với ý nghĩa xem thường, chê bai, ví dụ: ba lơn, ba láp – ba xàm, ba xạo, ba que vv…) !!!